Chủ đề 2 Đánh giá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001 2010 Nhóm 6 – Lớp CH 24N A MỞ ĐẦU Là một trong những dấu ấn đậm nét nhất của chính sách đổi mới kinh tế, Luật Đầu tư nước n[.]
Trang 1A MỞ ĐẦU
Là một trong những dấu ấn đậm nét nhất của chính sách đổi mới kinh tế,Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam được ban hành lần đầu tiên vào năm
1987 trở thành khung khổ luật pháp cơ bản đầu tiên cụ thể hóa quan điểm của Đảng
ta về mở cửa, hội nhập Tuy có đôi lúc thăng trầm, song khu vực kinh tế có vốnĐTNN nói riêng và các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung đã thể hiện vai tròtích cực trong thành tựu tăng trưởng, phát triển của Việt Nam suốt gần 30 năm qua,
và ngày càng khẳng định ảnh hưởng tích cực nhiều mặt đến sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ đất nước trong thời gian tới
Trong giai đoạn đầu mở cửa, ĐTNN là giải pháp hữu hiệu góp phần đưa ViệtNam ra khỏi tình thế khó khăn của tình trạng bao vây, cấm vận; khẳng định xu thế
mở cửa và quan điểm “Việt Nam muốn làm bạn của các nước trong cộng đồng thếgiới” Trong các giai đoạn tiếp theo, ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng trongtổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần đáng kể thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,tăng năng lực sản xuất, đối mới công nghệ, khai thông thị trường quốc tế, gia tăngkim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đóng góp ngân sách nhànước, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tạo thêm nhiều việc làm Bêncạnh những đóng góp trực tiếp đó, ĐTNN đã có tác động lan tỏa đến các thành phầnkinh tế khác của nền kinh tế, trong đó có việc khơi dậy các nguồn lực đầu tư trongnước, tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng caohiệu quả sản xuất; phát triển ngành công nghiêp phụ trợ, góp phần đưa Việt Namtừng bước tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu… Tuy nhiên, trong những nămgần đây, nguồn vốn ĐTNN (FDI) có sự suy giảm Mà một trong những nguyênnhân đó chính là do nguồn nhân lực của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu củacác nhà ĐTNN khi đầu tư tại Việt Nam Lợi thế về lực lượng lao động đông, giá laođộng rẻ đã thay đổi, hiện tại cần chú ý nhiều đến chất lượng lao động để có thể đápứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệpnước ngoài đầu tư tại Việt Nam Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã phát triển câu
bình luận “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực – một biện pháp quan trọng để
Trang 2cải thiện môi trường thu hút FDI tại Việt Nam” làm bài tập nhóm môn Chính sách
Kinh tế đối ngoại của nhóm mình Để chứng minh câu bình luận trên, nhóm chúngtôi sẽ trình bày bài thảo luận theo kết cấu như sau:
I Định hướng thu hút FDI của Việt Nam
II Yêu cầu, vai trò của nguồn nhân lực đối với thu hút FDI
III Thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam đối với hoạt động thu hút FDI
IV Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tăng cường thu hút FDI tại Việt Nam
Trang 3B NỘI DUNG
I ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM
Sự thay đổi trong định hướng thu hút FDI được thể hiện rõ nhất kể từ sau Đạihội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) Do đó, có thể chia định hướngthu hút FDI của Việt Nam thành hai giai đoạn như sau:
1 Giai đoạn trước năm 2011
Định hướng thu hút và quản lý FDI được nêu trong Luật Đầu tư năm 2015.Theo đó, thu hút FDI vào Việt Nam tập trung vào các lợi thế về tài nguyên, lựclượng lao động dồi dào của nước ta Cụ thể một số lĩnh vực thu hút FDI đó là:
- Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao,công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo
- Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; làm muối; sản xuất giống nhântạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới
- Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái;nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao
- Sử dụng nhiều lao động
- Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, các dự án quan trọng, có quy mô lớn
- Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao và văn hóa dântộc
Trang 4lực sản xuất, năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng cóhiệu quả nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên.
2 Giai đoạn sau năm 2011
Trong giai đoạn mới, Việt Nam có định hướng thu hút FDI theo hướng chọnlọc, chất lượng, bền vững nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và quản lý FDI, đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tình hình mới, cụ thể:
- Tạo bước chuyển mạnh về thu hút FDI từ chạy theo số lượng sang chọn lọccác dự án có chất lượng, công nghệ cao, thân thiện với môi trường và phù hợp vớiđịnh hướng tài cấu trúc nền kinh tế của từng vùng, từng ngành và quốc gia
- Đặc biệt quan tâm thu hút các dự án quy mô lớn, sản phẩm cạnh tranh caotham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia, từ đó xây dựng,phát triển hệ thống các ngành, các doanh nghiệp phụ trợ
- Quy hoạch thu hút FDI theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp với lợi thếcủa từng vùng để phát huy hiệu quả đầu tư của từng địa phương, từng vùng và phùhợp tổng thể lợi ích quốc gia
- Chuyển dần thu hút FDI với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằngnguồn nhân lực chất lượng cao
Trên cơ sở các định hướng đó, tập trung vào các ngành, lĩnh vực thu hút FDInhư sau:
Trang 5- Tiếp tục thu hút FDI vào các sản phẩm tiêu dùng đầu nguồn có giá trị côngnghệ cao như Thiết bị điện tử, viễn thông, các lĩnh vực sản phẩm có hàm lượng giátrị cao khác ngoài các lĩnh vực truyền thống như Dệt may, da giày, Chế tạo gỗ…nhằm sử dụng lợi thế lao động giá rẻ nhưng tăng cường cạnh tranh về chất lượngnhân lực trong các lĩnh vực sản xuất lắp ráp hàng điện tử có giá trị cao, có tiêuchuẩn công nghiệp cao như điện thoại thông minh, máy tính, thiết bị điên, giảiquyết công ăn việc làm cho nhiều lao động Ngoài ra quy mô của nguồn vốn FDIlắp ráp này tăng sẽ là điều kiện cho các ngành công nghiệp phụ trợ dọc theo các sảnphẩm này phát triển Giảm giá hàng hóa nhập khẩu từ các hàng hóa này nâng cao giá trịtiêu dùng trong nước.
- Thu hút FDI vào các lĩnh vực sản xuất phụ trợ, chuyển giao công nghệ trithức, khuyến khích và tạo mọi điều kiện về hình thức huy động vốn chuyển giao,sáp nhập trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ này Khuyến khích dòng vốn chuyểngiao công nghệ cho các doanh nghiệp tư nhân trong nước của các doanh nghiệp FDI
từ các nước trong khu vực, khu vực Đông Á, Châu Âu, Bắc Mỹ đầu tư vào lĩnh vựccông nghiệp phụ trợ này ở Việt Nam Việt Nam theo đuổi chính sách nền kinh tế
mở tham gia hội nhập mạnh với các khu vực phát triển năng động trên thế giới tạođiều kiện thuận lợi cho các khu vực kinh tế trên thế giới đến đặt cơ sở sản xuất tạiViệt Nam Việt Nam có một số lĩnh vực sản xuất gia công lắp ráp đầu nguồn nhưDệt may, giày dép, thiết bị điện tử có thể phát triển các ngành công nghiệp phụ trợcho các mặt hàng này nhằm tận dụng quy mô sản xuất của các ngành này Gia tăngmặt hàng thâm dụng vốn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giảm chi phí chocác hàng hóa tiêu dùng
- Thu hút vốn FDI trong các lĩnh vực năng lượng, năng lượng sạch, năng lượngtái tạo: Thế giới đang bước vào kỷ nguyên phát triển bền vững trong nước cần tậptrung thu hút vốn FDI vào các dự án năng lượng sạch và tái sử dụng lại năng lượng tiêuthụ giảm giác thải và khí CO2 nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
- Thu hút nguồn vốn FDI vào lĩnh vực nông nghiệp sạch, nông nghiệp chấtlượng cao, chế biến nông nghiệp Thu hút vốn ưu tiên những lĩnh vực quan trọng
Trang 6như Nông nghiệp và chế biến nông nghiệp có hàm lượng công nghệ cao khả năng
xử lý môi trường tốt và ưu tiên lĩnh vực công nghệ có chuyển giao vào trong nước,tận dụng điều kiện đặc điểm của môi trường tự nhiên đặc biệt của Việt Nam Thuhút các ngành công nghiệp dịch vụ kết hợp với ngành nông nghiệp, ưu tiên bảo vệmôi trường Thu hút FDI của các doanh nghiệp dược phẩm thế giới đến nghiên cứu
và xây dựng vùng nguyên vật liệu tại Việt Nam Thu hút vốn đầu tư vào lĩnh vựcnông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản có chuỗi sản xuất phát triển
- Thu hút vốn FDI trong lĩnh vực hậu cần, cảng biển, kho bãi hiện đại hóangành dịch vụ hậu cần trong nước: Tận dụng đường biển dài và vị trí địa lý trungtâm trong khu vực mở cửa thu hút đầu trực tiếp nước ngoài trong các lĩnh vực giaothông đường biển Cho phép FDI vào khu vực hậu cần nhằm kích thích tăng trưởngcủa ngành này lên đáp ứng được các tiêu chuẩn hội nhập và khả năng cạnh tranh vềhàng hóa Việt Nam ra thế giới
II VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI THU HÚT FDI VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HIỆN NAY
1 Vai trò của nguồn nhân lực đối với thu hút FDI
Nguồn lao động vừa là nhân tố để thu hút, vừa là nhân tố sử dụng có hiệuquả FDI Bởi con người có khả năng hợp tác kinh doanh cao, trình độ lao động phùhợp với yêu cầu, năng lực quản lý cao thì sẽ tạo ra năng suất cao Bên cạnh đó, cácnhà đầu tư nước ngoài sẽ giảm một phần chi phí đào tạo và bớt được thời gian đàotạo nên tiến độ và hiệu quả của các dự án sẽ đạt đúng theo mục tiêu đề ra
Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước phát triển, cáccông ty đa quốc gia cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đốithừa thãi ở các nước này Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đápứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty Tuy vậy, chỉ có thể tìmđược các nhà quản lý giỏi cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm ởcác thành phố lớn Động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng là yếu tốquan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư
Trang 7Để hiểu rõ hơn vai trò của nguồn nhân lực tới FDI, ta có thể xem xét các dự ánFDI đầu tư trong thời gian gần đây có sự sụt giảm đáng kể (tính chung cả giai đoạn2011-2015, tổng số vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 98,2 tỷ USD, bằngkhoảng 66% so với giai đoạn 2006- 2010) Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụtgiảm này và một trong những nguyên nhân lớn đó chính là lợi thế về dân số đông, chiphí lao động rẻ… của Việt Nam đã không còn phù hợp và tạo ra sức hấp dẫn đối vớinhà đầu tư Bởi, muốn các doanh nghiệp FDI đổ vào Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vựcsản xuất công nghiệp và công nghệ cao thì nguồn nhân lực được đào tạo tốt và có taynghề mới là điều quan trọng Nếu thiếu đội ngũ lao động được đào tạo nghề thì việcphát triển các khu công nghiệp quy mô lớn của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn vàmục tiêu thu hút những dự án FDI công nghệ cao sẽ không thực hiện được.
2 Yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
Từ các phân tích trên về vai trò của nguồn nhân lực trong thu hút FDI nóiriêng cũng như trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tếcủa nước ta trong thời gian tới, phát triển nguồn nhân lực đang đứng trước nhữngyêu cầu:
Thứ nhất, sự phát triển nguồn nhân lực cần đáp ứng yêu cầu về tăng năng
suất lao động, giải quyết được việc làm và đào tạo nghề nghiệp đúng chuyên mônđáp ứng yêu cầu thực tế, chất lượng nguồn nhân lực phát triển cân bằng hơn giữacác vùng miền
Thứ hai, Việt Nam phải có đủ nhân lực để có khả năng tham gia vào quá
trình vận hành của các chuỗi giá trị toàn cầu trong xu thế các tập đoàn xuyên quốcgia có ảnh hưởng ngày càng lớn
Thứ ba, nguồn nhân lực phải có năng lực thích ứng với tình trạng nguồn tài
nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và sự sụt giảm các nguồn đầu tư tài chính(do tác động và hậu quả của khủng hoảng kinh tế thế giới); có khả năng đề ra cácgiải pháp gia tăng cơ hội phát triển trong điều kiện thay đổi nhanh chóng của cácthế hệ công nghệ, tương quan sức mạnh kinh tế giữa các khu vực
Trang 8Thứ tư, nhân lực nước ta phải được đào tạo để có khả năng tham gia lao động
ở nước ngoài do tình trạng thiếu lao động ở nhiều quốc gia phát triển để phát huylợi thế của thời kỳ dân số vàng; đồng thời có đủ năng lực để tham gia với cộng đồngquốc tế giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu và khu vực
III THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THU HÚT FDI
1 Về số lượng lao động
Việt Nam có quy mô dân số trên 90,73 triệu người, trong đó lực lượng laođộng khoảng 53,75 triệu người; hàng năm trung bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanhniên bước vào tuổi lao động Lực lượng lao động nước ta được đánh giá rất dồi dào,
là thời kỳ dân số vàng với số người trong độ tuổi lao động từ 20 đến 39 chiếmkhoảng 35% tổng dân số và khoảng 61% lực lượng lao động
Tuy nhiên, trong tổng số 52,74 triệu người trên 15 tuổi hiện đang làm việctrong nền kinh tế thì chỉ có 2.056,6 nghìn người (chiếm 3,9%) làm việc trong khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài Đây là một con số rất khiêm tốn so với mục tiêu giảiquyết và tạo được nhiều việc làm mới cho các lao động trong nước khi thu hút các
dự án FDI vào nước ta
2 Về chất lượng lao động
Trong tổng số 53,75 triệu người trong độ tuổi lao động, chỉ có 9,78 triệungười đã được đào tạo, chiếm 18,2% lực lượng lao động trong đó ở thành thị là34,3%, gấp 3 lần tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 11,2%; tỷ lệ nhân lực được đào tạotrình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo ngày càng tăng(năm 2012 là 6,4%, năm 2013 là 6,9%, sơ bộ năm 2014 là 7,6% )
Các doanh nghiệp FDI khi đầu tư vào các dự án tại Việt Nam, ngoài nhữngyêu cầu về thể lực tốt, độ tuổi của lao động thì thường có những yêu cầu cụ thể vềkiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm, phẩm chất lao động công nghiệphiện đại tại doanh nghiệp đối với từng vị trí việc làm Tuy nhiên, thực trạng hiện
Trang 9nay nhân lực Việt Nam lại thường chỉ được trang bị những lý thuyết chung, nănglực thực hiện yếu, thiếu những kỹ năng sống quan trọng Đặc biệt lao động trình độcao yếu tin học và ngoại ngữ, thiếu những công cụ sắc bén để làm việc đã ảnhhưởng rất lớn đến khả năng làm việc độc lập và nâng cao năng suất.
Theo Khảo sát của Viện khoa học lao động và xã hội (ILSSA) và Tập đoànManpower năm 2013 tại 100 doanh nghiệp FDI (trong đó một nửa số doanh nghiệptham gia khảo sát có quy mô lớn về lao động (47% có trên 500 công nhân) và vốn(30% có doanh thu hàng năm 10 triệu USD trở lên)) trong 3 ngành: Hàng hóa tiêudùng; lắp ráp, chế tạo ô tô; và điện tử để tìm hiểu về nhu cầu cũng như chiến lượcphát triển kỹ năng lao động dựa trên ba nhóm kỹ năng: kỹ năng tổng quát, kỹ năngchuyên môn ngành, kỹ năng chuyên môn của doanh nghiệp Trong đó: Kỹ năngtổng quát được hiểu là kiến thức và hành vi cơ bản để trở thành một phần của xã hộihay cộng đồng Ví dụ, cách làm việc theo nhóm, cách đi làm đúng giờ Kỹ năngchuyên môn ngành bao gồm kiến thức phổ thông, phương pháp và quy trình sảnxuất và hành vi chuyên nghiệp vốn mang tính tổng quát nhưng cụ thể trong từngngành Ví dụ, đó là việc hiểu các nguyên tắc cơ bản chứ không phải kho tàng kiếnthức chuyên môn rộng lớn Kỹ năng chuyên môn của doanh nghiệp là kiến thức,phương pháp và quy trình sản xuất và hành vi chuyên nghiệp cụ thể trong từngdoanh nghiệp Qua khảo sát cho thấy: Nếu các doanh nghiệp FDI theo đuổi chiếnlược kinh doanh dựa trên nguồn lao động tay nghề thấp, giá rẻ tại Việt Nam thì họhài lòng về lực lượng lao động Việt Nam Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp FDI có
kế hoạch đầu tư vào việc nâng cấp công nghệ trong 5 năm tới, thì việc họ tiếp tục đitheo chiến lược “lao động giản đơn, giá rẻ” có thể trở thành trở ngại cho sự pháttriển kinh doanh của họ trong tương lai Theo đó, gần 30% doanh nghiệp FDI có ýkiến gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động trực tiếp và nhân viên văn phòng; ýthức về chất lượng và đúng giờ, đáng tin cậy là những kỹ năng thiếu hụt lớn nhất,với khoảng 30% trong nhóm lao động trực tiếp và quản đốc phân xưởng; những kỹnăng thiếu hụt tiếp theo là khả năng thích ứng với những thay đổi, khả năng làmviệc nhóm, khả năng nhận biết tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới, kỹ năng máytính cơ bản
Trang 10Một số nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam chưa đápứng được các yêu cầu trên của các doanh nghiệp FDI đó là: (1) Nguồn lực quốc gia
và khả năng đầu tư cho phát triển nhân lực của phần lớn các gia đình còn hạn chế,chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng các hoạt động giáo dục, y
tế, văn hoá, thể dục thể thao Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước cho pháttriển nhân lực còn hạn chế; chưa huy động được nhiều các nguồn lực trong xã hội(nhất là các doanh nghiệp) để phát triển nhân lực (2) Quản lý nhà nước về pháttriển nhân lực còn những bất cập so với yêu cầu Chủ trương, đường lối phát triểnnguồn nhân lực chưa được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật, cơchế, chính sách và các kế hoạch phát triển một cách kịp thời và đồng bộ; việc triểnkhai thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách chưa kịp thời, chưa nghiêmtúc Nhiều mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chưa tính toán đầy đủ các điều kiệnthực hiện Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tổchức thực hiện các nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chưa chặt chẽ (3) Hệ thốnggiáo dục quốc dân - lực lượng nòng cốt trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lựcđất nước bộc lộ nhiều hạn chế Cụ thể là: công tác phân luồng định hướng nghềnghiệp cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa tốt; công tác đàotạo, giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự dựa trên cơ sở nhu cầu xã hội, chưa thu hútđược sự tham phát triển nguồn nhân lực từ các đơn vị sử dụng lao động; đội ngũgiáo viên, giảng viên còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, còn sựchênh lệch lớn về trình độ phát triển giữa các địa phương, vùng, miền; hệ thốngphương pháp, công cụ kiểm tra, giám sát, kiểm định và đánh giá kết quả giáo dục vàđào tạo còn lạc hậu, kém hiệu quả; mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu vàthực hiện đúng… (4) Hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồnnhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh
tế, xã hội, văn hoá nước ta với thế giới Còn nhiều sự khác biệt trong các quy định
về giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nhân lực của hệ thống pháp luật Việt Nam so vớipháp luật của các nước; mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo, nội dung, chươngtrình và phương pháp đào tạo nhân lực chưa tương thích và chưa phù hợp với cáctiêu chuẩn phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới; chưa thu hút được