PHÒNG GD&ĐT BÌNH XUYÊN TRƯỜNG THCS HƯƠNG SƠN BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ Tên chuyên đề GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI VÀO LỚP 10 MÔN HÓA HỌC 9 CHỦ ĐỀ AXIT Tác giả Nguyễn Tiến Dũng Đơn vị công tác Trường THC[.]
Trang 1TRƯỜNG THCS HƯƠNG SƠN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Tên chuyên đề:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI VÀO LỚP 10
MÔN HÓA HỌC 9 CHỦ ĐỀ AXIT
- Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
- Đơn vị công tác: Trường THCS Hương Sơn
- Chức vụ: Giáo viên -Tổ KHTN
- Trình độ chuyên môn: Đại học Hóa
Trang 2I LỜI GIỚI THIỆU:
Bộ môn Hoá học với vai trò là một môn khoa học thực nghiệm gắn với thựctiễn đời sống và lao động sản xuất, vì vậy việc hiểu và vận dụng linh hoạt các kiếnthức đã học vào quá trình giải bài tập là điều rất cần thiết nhằm giúp học sinh địnhhướng và giải quyết được các tình huống, hiện tượng thường gặp trong đời sống vàtrong lĩnh vực lao động sản xuất là tiền đề cho việc học tập tiếp thu tri thức, tinhhoa văn hoá hiện đại của nhân loại, là hành trang theo suốt các em trong quá trìnhlao động và sản xuất sau này
Trong quá trình giảng dạy việc giảng dạy giúp các em nắm chắc các kiến thức
cơ bản của các bài học nhằm đảm bảo chất lượng đại trà nói chung thì việc củng cốkhăc sâu và phát triển tư duy, óc sáng tạo cho học sinh nhằm giúp các em có thểbứt phá tạo bước ngoặt lớn trong cuộc đời là điều rất quan trọng Mặt khác giúpnhà trường có thể phát hiện, chọn lọc, bồi dưỡng để phát triển năng khiếu, tài năngcủa các em để phát triển nhân tài cho đất nước
Đi đôi với vấn đề này thì tình trạng học sinh có kết quả thi vào lớp 10 chưa cao
ở hầu hết các nhà trường, đặc biệt là đối với một số môn được coi là môn phụ như:Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa Lí… Đây là nỗi băn khoăn các cấp giáo dục cũngnhư giáo viên ở cấp THCS, đặc biệt là trên địa bàn huyện Bình Xuyên
Với thực trạng của việc học tập bộ môn hoá học ở học sinh THCS nói chung vàđặc biệt là học sinh khối 9 trường THCS Hương Sơn nói riêng, việc học tập củahọc sinh nhằm bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, các
em còn lúng túng trong việc giải các bài tập định tính, định lượng hóa học
Nắm bắt từ tình hình thực tế trong việc học tập với bộ môn hoá học nhằm bồidưỡng tri thức khoa học và các kĩ năng sống, kĩ năng giải bài tập Hóa học chiếmlĩnh kiến thức của học sinh và mục đích giảng dạy của người giáo viên thông qua
bộ môn hoá cung cấp cho học sinh kiến thức mới đồng thời củng cố khắc sâu cáckiến thức cũ và các phương pháp giải bài tập hoá học đúng đắn để nắm vững bàihọc và biết vận dụng các kiến thức trong bài học vào thực tế
Ngày nay với học sinh THCS có nhiều học sinh học nhưng chưa biết cách làm bàitập hoá học Có không ít học sinh ham chơi, lười học không nắm vững kiến thức
cơ bản, ngoài ra còn có một bộ phận không nhỏ học sinh mặc dù chịu khó học bàinhưng vẫn không làm được bài tập hoá học hoặc làm sai bài tập do chưa biết cáchđịnh hướng và lựa chọn các phương pháp phù hợp cho quá trình tìm lời giải
Trang 3Là một giáo viên bộ môn Hóa học, đang trực tiếp giảng dạy bộ môn này, tôiluôn tìm đủ mọi cách để giúp đỡ các em học sinh học tập tiến bộ hơn để vững tinhơn trong tương lai Tôi hy vọng với chuyên đề này không những giúp giảm tỉ lệhọc sinh thi vào lớp 10 có kết quả thấp mà còn góp phần đưa nền giáo dục huyệnBình Xuyên nói riêng và đất nước nói chung ngày càng phát triển toàn diện hơn.
II TÁC GIẢ CHUYÊN ĐỀ: Nguyễn Tiến Dũng
- Chức vụ: Giáo viên - tổ KHTN
- Đơn vị công tác: Trường THCS Hương Sơn - Bình Xuyên – Vĩnh Phúc.
III.TÊN CHUYÊN ĐỀ:
“Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 môn Hóa học 9 chủ đề axit ”
IV.THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 CỦA ĐƠN VỊ NĂM HỌC 2020-2021
Kết quả thi vào lớp 10
Điểm thi
S
TT học Môn Ngữ văn Toán Tiếng Anh Sinh học Địa lý 5 môn
Điểm bình quân của
trường
Điểm bình quân của
huyện
Lệch (trường
Trang 4Thứ hạng 10/14 trong huyện và 123/145 trong tỉnh, điểm lệch có giảm (còn 0,32),số điểm liệt tăng (6 HS).
V ĐỐI TƯỢNG: HỌC SINH LỚP 9
Dự kiến số tiết dạy: 3 tiết
VI.NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn:
- Thực tế hiện nay có không ít học sinh bậc THCS học Hoá nhưng còn lúngtúng trong vấn đề giải bài tập hoá học do các em chưa nắm vững kiến thức cơbản, còn có một bộ phận học sinh tuy chịu khó học bài nhưng vẫn không làmđược bài tập hoá học hoặc làm sai bài tập Do vậy việc định hướng và rèn cho học
có kĩ năng và phương pháp giải bài tập cho học sinh là điều rất quan trọng cầnđược quan tâm
- Việc giải bài tập hoá học ngoài nắm vững kiến thức liên quan đến bài tập người giải bài tập hoá học còn cần phải có óc tư duy logic, sáng tạo khoa học vàkinh nghiệm, những điều đó không phải tự có mà được hình thành qua quá trìnhhọc tập, rèn luyện, tu dưỡng và tích luỹ, nó phụ thuộc vào sự nhận thức, thôngminh và vận dụng linh hoạt của mỗi chúng ta
- Để có phương pháp giải bài tập Hoá học nhanh và hiệu quả, mỗi chúng ta cầnphải học tập, đúc rút kinh nghiệm kết hợp với tự rèn luyện và vận dụng khoa họclinh hoạt trong quá trình giải bài tập
- Vì vậy Chuyên đề“Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 môn Hóa học 9 chủ đề axit”nhằm phát huy tích cực và tiềm năng sáng tạo của giáo viên và
học sinhtrong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 môn Hóahọc
2 Nguyên nhân làm học sinh có chất lượng thi vào lớp 10 thấp:
Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng việc các em có chất lượng thi vàolớp 10 thấp là do nhiều nguyên nhân, cụ thể:
Trang 5- Nguyên nhân khách quan và lớn nhất hiện nay là do cơ chế thi cử và địnhhướng giáo dục Khi HS bắt đầu bước vào cấp THCS thì Từ BGH, thầy cô bộ mônđều chỉ tập trung học 3 môn chính, môn công cụ là Toán – Văn – Anh, điều nàycòn được lặp đi lặp lại rất nhiều lần tạo thành lối tư duy cho cả HS và phụ huynh làchỉ cần học tốt 3 môn đó thôi dẫn đến HS coi các môn học khác là môn phụ và đã
là môn phụ thì không cần quan tâm đầu tư thời gian và công sức để học
- Mặc dù hiện nay có bài thi tổ hợp 3 môn (trong đó 1 môn là Ngoại ngữ, 2môn còn lại 1 môn TN 1 môn XH) Tuy HS quan tâm và đầu tư rất lớn vào mônToán, Văn, Anh nhưng các kỹ năng của HS rất kém (tính toán, đọc hiểu đề bài…),khả năng tư duy logic của HS bây giờ cũng rất hạn chế do đó sẽ gặp khó khăn khi
HS tiếp thu các kiến thức khoa học Hóa học (lý thuyết cũng như khi tính toán hóahọc)
- Gia đình ít quan tâm, hiện nay trên địa bàn xã nhà PHHS đều đi làm công
ty nên không có thời gian quan tâm tới các con, phó thác con cái cho nhà trường,không đôn đốc việc học ở nhà của các con…
- Ý thức tự giác của HS rất kém, không thích học, không có động cơ học tập,không hứng thú học tập hoặc e ngại nói lên những ý kiến riêng để đóng góp vàobài học và không dám hỏi điều đang thắc mắc…
-Môn Hóa Học có nhiều khái niệm trừu tượng, khó, học sinh lại bị hạn chếkiến thức cơ bản ( Toán, văn), do đó học sinh tiếp thu kiến thức ngày càng khókhăn và thiếu hụt
- Môn hóa học là một môn khoa học thực nghiệm nhưng xuất hiện muộnnhất trong các môn học ở cấp THCS (lớp 8 mới có) Mặt khác lượng kiến thức bộmôn có nội dung dài và kiến thức lý thuyết cũng như bài tập tính toán tương đốiphức tạp
- Cấu trúc của chương trình SGK còn chưa hợp lý: Nặng về lý thuyết, rất íttiết luyện tập( chương trình cũ)
- Mặt khác do đại dịch do vậy các em không được học đều và liền mạch cácnội dung kiến thức Vì vậy kiến thức của các em bị gián đoạn, ngắt quãng do nghỉdịch
Trang 63 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà chuyên đề đã đặt ra:
- Do cơ chế thi cử, chỉ đạo chuyên môn của nhà trường, do môi trường sống, bạn
bè và gia đình… tác động đến sự tự học của học sinh nói chung Với nguyên nhânnày giải pháp khắc phục là: Nhà trường cần quan tâm đúng mức ở tất cả các mônhọc, cần tăng cường sự phối hợp tốt hơn nữa giữa nhà trường và gia đình học sinh,đặc biệt là những em mà gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, hoàn cảnh đặcbiệt, sự động viên khích lệ của giáo viên dành cho bản thân các em là cần thiết
- Một số học sinh chưa chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc tìm tòi, địnhhướng, thực hành giải quyết vấn đề tìm ra đáp án cho các bài tập
- Nghe và tiếp thu kiến thức do thầy, cô giáo cung cấp một cách thụ động, chưamạnh dạn trong việc tìm và chiếm lĩnh kiến thức bộ môn
- Vẫn chỉ làm các bài tập một cách thụ động theo yêu cầu của giáo viên màchưa chủ động đọc và tìm hiểu thêm các kiến thức khác trong các tài liệu haythực tiễn cuộc sống
- Chưa chủ động đọc các loại tài liệu -SBT -SNC-các em còn coi là chưa quantrọng chưa cần thiết
- Tâm lý chung của học sinh là dễ chán nản nếu như các em không hiểu bài
- Từ những lí do nêu trên tôi mạnh dạn đề xuất một vài giải pháp nhằm giúp các
em khắc phục những khó khăn trên đồng thời thông qua việc các em nắm được cáckiến thức áp dụng vào làm bài tập để từng bước nâng cao kiến thức của mình gópphần vào việc nâng cao chất lượng thi vào lớp 10, cũng như nắm bắt được các kiếnthức nền tảng cho quá trình học tập sau này
4 Một số giải pháp:
Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy để hạn chế kết quả thi vào lớp 10 thấp đốivới môn Hóa học cũng như từng bước tạo hứng thú say mê với môn học của các
em, thì cần có các giải pháp cụ thể sau:
- Giải pháp 1: Tạo hứng thú học tập cho học sinh.
Tổ chức những tình huống kích thích sự tò mò, tạo hứng thú học tập của các
em, hướng dẫn các em khắc phục khó khăn trong học tập, trang bị cho các em họcsinh những kiến thức cơ bản đã học qua mà các em quên hoặc chưa biết.Hướng
Trang 7dẫn cách ghi tóm tắt, cách nhớ, mẹo nhớ…giúp cho các em biết cách học, cóphương pháp học tập phù hợp với bộ môn.
- Giải pháp 2: Chia nhóm học sinh theo khả năng nhận thức:
Kiểm tra kiến thức chung của các em từ đầu năm học trao đổi với giáo viênchủ nhiệm, giáo viên bộ môn của năm học trước để có thể nắm rõ tính cách, họclực, năng lực nhận thức của những môn học liên quan từ đó phân loại học sinh
- Giải pháp 3: Rèn luyện cho học sinh phương pháp tư duy logic, kỹ năng làm các bài tập cơ bản như:
+Kỹ năng viết công thức hoá học
+Kỹ năng viết phương trình hoá học
+Kỹ năng dự đoán hiện tượng của phản ứng hóa học
+Kỹ năng tính toán định lượng theo tỉ lệ của phương trình hóa học
+Kỹ năng viết và chuyển đổi các đại lượng, các công thức để đưa về các côngthức cần thiết để tính toán
+Kỹ năng làm bài tập tính toán lý thuyết gắn với việc thực hành nhằm tạo hứngthú cho học sinh trong việc học và tiếp thu tri thức khoa học bộ môn Hoá học + Kĩ năng nhận xét, phán đoán và biện luận để tìm lời giải cho bài toán
+Kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm
- Giải pháp 4: Động viên, khích lệ học sinh kịp thời.
Kiểm tra việc làm bài tập ở nhà của học sinh thường xuyên, tạo cơ hội cho
HS yếu làm những bài tập đơn giản để động viên, khích lệ tinh thần, khen tặngnhững tiến bộ của HS qua từng bài tập nhỏ
- Giải pháp 5: Tìm hiểu các nguyên nhân gây khó khăn trong quá trình nhận thức.
Trong quá trình giảng dạy và giáo dục tôi luôn nghe và tìm hiểu cácnguyên nhân gây khó khăn trong quá trình nhận thức, chiếm lĩnh các tri thức, kĩnăng làm bài tập đối với học sinh và hướng học sinh chủ động trong việc tìm ra
Trang 8các phương pháp giải hay và ngắn gọn có hiệu quả cho các bài tập hoá học, chủđộng đọc các loại tài liệu SGK-SBT và các loại sách tham khảo khác.
- Giải pháp 6: Luôn tự học tự trau dồi kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ bản thân.
Bên cạnh đó bản thân tôi luôn tự học hỏi, tự tìm tòi nâng cao trình độchuyên môn nghiệp vụ để có phương pháp giảng dạy phù hợp với trình độ nhậnthức của các em và phù hợp với kiến thức của bộ môn nhằm nâng cao hiệu quả vàchất lượng giáo dục
5 Một số giải pháp cụ thể với chủ đề axit:
CHỦ ĐỀ AXIT
(03 tiết)
I Mục tiêu cốt lõi của chủ đề.
- Tính chất hóa học chung của axit
- Gọi tên, phân loại axit
- Tính chất hóa học, ứng dụng, điều chế, nhận biết dd HCl, dd H2SO4
- Tính chất hóa học riêng của H2SO4 đặc
II Nội dung các hoạt động học
HOẠT ĐỘNG 1 Tiết 1 - TÍNH CHẤT HÓA HỌC CHUNG CỦA AXIT.
GỌI TÊN, PHÂN LOẠI AXIT A) Mục tiêu hoạt động.
Trang 9- Rút ra kết luận về TCHH của axit nói chung
- Biết vận dụng những hiểu biết về tính chất hoá học của axit để giải thích một
số hiện tượng trong đời sống và sản xuất
- Tiếp tục rèn luyện kĩ năng làm bài tập tính theo phương trình hoá học
B) Phương pháp:
- Phương pháp vấn đáp
- Phương pháp dạy học hợp tác nhóm nhỏ, khai thác kiến thức sẵn có…
1.Tổ chức: Ổn định lớp, kiểm diện ss. Lớp trưởng báo cáo sĩ số
I Tính chất hoá học của axit.
GV: Y/c HS nhắc lại TCHH của axit
GV: tính chất này giúp ta có thể nhận
biết dung dịch axit
GV: Y/c HS nhắc lại t/c tác dụng với
kim loại
GV: Yêu cầu HS viết phương trình
phản ứng giữa Al, Fe với dung dịch
HCl, dung dịch H2SO4 loãng
GV: Chú ý: Chỉ KL đứng trước H….
GV: Lưu ý:
Axit H2SO4 đặc,nóng,HNO3 tác dụng được
với nhiều kim loại, nhưng không giải
phóng H2
Al, Fe không t/d với Axit
H2SO4(đặc,nguội),HNO3 (đặc,nguội).
1 Axit làm đổi màu chất chỉ thị màu HS: Dd axit làm quì tím → đỏ.
2 Tác dụng với kim loại Axit + nhiều kim loại → muối + H 2
HS: Viết phương trình phản ứng:
2Al + 6HCl → 2AlCl3 + 3H2
Fe + H2SO4(l) → FeSO4 + H2
Trang 10GV: Giới thiệu: Phản ứng của axit với
bazơ được gọi là phản ứng trung hoà
GV: Gợi ý để HS nhớ lại tính chất của
oxit bazơ tác dụng với axit
GV: Yêu cầu HS nhắc lại tính chất của
oxit bazơ và viết phương trình phản
ứng của oxit bazơ với axit
GV: Gọi HS nêu tính chất t/d với muối
của axit
GV: Phản ứng này cần điều kiện gì
HS: Nêu điều kiện phản ứng.
HS: Viết 1 số PTHH minh họa (HS: tự
5 Tác dụng với muối.
HS: Nêu kết luận:
Axit + Muối → Muối mới + Axit mới
* ĐK: Cần thỏa mãn 1 trong 2 ĐK sau:
- Muối mới là chất không tan (kết tủa)
- Axit mới là axit dễ bay hơi như:
H2CO3, H2SO3, H2S…
H2SO4 + BaCl2 → 2HCl + BaSO4↓2HCl + CaCO3 → CaCl2 + CO2↑ +
Trang 11II Gọi tên, phân loại axit.
- GV: Yêu cầu HS tái hiện kiến thức trả
lời câu hỏi:
- Nêu định nghĩa axit?
- Dựa vào yếu tố nào để phân loại axit?
(Kiến thức lớp 8) (Thành phần)
+ Axit được phân làm 2 loại:
+ Ví dụ:
Axit có oxi: Ví dụ HNO3, H2SO4
Axit không có oxi: Ví dụ HCl, HBr
- Lớp 9: Dựa vào yếu tố nào để phân
loại axit? (t/c hóa học)
- GV: Yêu cầu HS nêu cách gọi tên của
Phân tử axit gồm có 1 hay nhiều nguyên
tử hiđro liên kết với gốc axit
2 Phân loại : Có 2 loại
- Axit có oxi: HNO3, H2SO4,
- Axit không có oxi: HCl, HBr,
* Dựa vào tính chất hoá học, axit được phân ra làm 2 loại:
+ Axit mạnh: HCl, H2SO4, HNO3….+ Axit yếu : H2SO3, H2S, H2CO3…
3 Tên gọi:
a Axit không có oxi
Tên axit = Axit + tên phi kim + hidric
Ví dụ: HCl: axit clo hiđric.
b Axit có oxi
* Axit có nhiều nguyên tử oxi
Tên axit = Axit + tên phi kim + ic
Ví dụ: H2SO4: axit sunfuric
* Axit có ít nguyên tử oxi
Trang 12GV: Yêu cầu HS gọi thêm tên một số
axit (Tùy chọn)
Tên axit = Axit + tên phi kim + ơ
Ví dụ: H2SO3: axit sunfurơ.
2 Luyện tập: GV: Yêu cầu HS nhắc lại
nội dung chính của tiết học
Bài tập 1: Viết PT phản ứng khi cho dd
HOẠT ĐỘNG 2 Tiết 2 - MỘT SỐ AXIT QUAN TRỌNG.
(Tính chất hóa học, ứng dụng, điều chế, nhận biết dd HCl, dd H2SO4
Tính chất hóa học riêng của H2SO4 đặc) A) Mục tiêu hoạt động.
1 Kiến thức:
- HS ôn tập các tính chất hoá học chung của axit đồng thời khẳng định đượcaxitHCl, dd H2SO4(l) có đầy đủ các tính chất hoá học chung của axit
- HS nêu được các ứng dụng của axitHCl, dd H2SO4(l)
- Những ứng dụng quan trọng của 2 axit quan trọng trong sản xuất, đời sống
- Các nguyên liệu, và các công đoạn sản xuất H2SO4 trong công nghiệp
- Biết cách nhận biết H2SO4 và các muối sunfat
- HS viết được những PTHH cho mỗi tính chất
- HS làm được một số bài tập theo yêu cầu