ẢNH HƯỞNG CỦA CHU KỲ MẶT TRĂNG VÀ YẾU TỐ MÙA LÊN TỶ SUẤT SINH LỢI CHỨNG KHOÁN
Trang 11/ Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu các học thuyết kinh tế tồn tại hai trường phái đối nghịch và có mối liên
hệ sâu sắc với nhau Một trường phái cho rằng các nhà đầu tư khi ra quyết định kinh doanh hoàn toàn là dựa trên lý trí và hoàn toàn không phụ thuộc vào tâm lý Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một trường phái cho rằng tâm lý ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định của nhà đầu tư Nhiều bằng chứng cho thấy các nhà đầu tư dễ bị lệch lạc về tâm lý và hành vi khi đưa ra quyết định đầu tư, ví dụ như sự lo ngại mất mát, sư quá tự tin, sự biến động của tâm trạng…Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư như các biến động trong nền kinh tế, năng lực của nhà đầu tư, các yếu tố tự nhiên khác
Bài nghiên cứu này của chúng tôi tập trung phân tích những tác động của các yếu
tố tự nhiên đến tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt là chu kỳ mặt trăng và các yếu tố mùa Từ lâu
đã có nhiều bằng chứng cho thấy các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến cơ thể và tâm trí con người, từ đó ảnh hưởng đến hành vi tài chính khi đầu tư Chính vì vậy, chủ đề chính của bài nghiên cứu này là xem xét về ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng và các yếu tố mùa lên
tỷ suất sinh lợi chứng khoán Bài nghiên cứu của chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu tâm lý của nhà đầu tư bị tác động bởi 2 yếu tố là chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa ( Seasonal Affective Disorders- SAD) Với chu kỳ mặt trăng, chúng tôi tìm hiểu xem liệu chu kỳ mặt trăng có ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư hay không và từ đó ảnh hưởng đến
tỉ suất sinh lợi trong thời kỳ trăng tròn và trăng non như thế nào Bên cạnh sự ảnh hưởng bởi chu kỳ mặt trăng, bài nghiên cứu của chúng tôi cũng tìm hiểu tâm lý nhà đầu tư khi bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD) bao gồm các yếu tố như các mùa trong năm, mùa nắng mùa mưa, thời gian chiếu sáng và những yếu tố khác Vào những thời điểm mùa khác nhau trong năm thì tâm lý nhà đầu tư cũng không giống nhau Do đó chúng tôi cũng xem xét tỷ suất sinh lợi chứng khoán thị trường sẽ biến động như thế nào khi tâm lý nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tự nhiên trên
Ngoài ra, đây là đề tài khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, vẫn chưa có một kết luận chắc chắn nào về mối liên hệ giữa các yếu tố tự nhiên như chu
Trang 2kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa đối với tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên thị trường Điều này đã thôi thúc chúng tôi thực hiện bài nghiên cứu này tại Việt Nam
2/ Mục tiêu nghiên cứu:
Đối với một nhà đầu tư cá nhân thì việc ra quyết định đầu tư là rất quan trọng, nó
có ảnh hưởng sống còn đối với nhà đầu tư đó Chính vì vậy, trước khi đưa ra một quyết định đầu tư chính xác cần xem xét rất nhiều yếu tố, và một trong những yếu tố quan trọng không thể bỏ qua là các yếu tố tự nhiên Chính vì vậy mục tiêu của bài nghiên cứu này là:
Đưa ra được kết luận tại Việt Nam có xảy ra sự tương quan giữa các yếu tố tự nhiên ( chu kỳ mặt trăng, hiệu ứng rối loạn theo mùa) và tỷ suất sinh lợi chứng khoán hay không
Khi quyết định của nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý, quyết định đó dường như không còn hiệu quả tối ưu Chúng tôi mong muốn dựa vào bài nghiên cứu này
để đưa ra lời khuyên cho nhà đầu vào những thời điểm nhạy cảm để từ đó nhà đầu tư có những quyết định chính xác hơn
3/ Phương pháp nghiên cứu:
Trong bài nghiên cứu của chúng tôi , chúng tôi sử dụng thống kê mô tả và phân tích hồi quy ( hàm cosin và sử dụng biến giả) nhằm tìm hiểu các mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi và các đại lượng như biến giả mặt trăng và biến hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD), đồng thời đánh giá được sự khác biệt lợi nhuận giữa 2 thời kỳ trăng tròn và trăng non Chúng tôi thiết kế những khung thời gian có độ dài khác nhau ở cả 2 phương pháp phân tích, cụ thể là có 2 khung thời gian là N=3 và N=7 tập trung vào những ngày trăng tròn và trăng non
Để xác định biến tỷ suất sinh lợi trong cả 2 phương trình hồi quy chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng SAD, chúng tôi tính Rt theo công thưc:
Trang 3Rt = (Giá mở cửa- Giá đóng cửa)/ Giá đóng cửa
4/ Nội dung nghiên cứu :
Chúng tôi nghiên cứu dựa trên 2 bài nghiên cứu trước về ảnh hưởng chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa ( SAD) đến tỷ suất sinh lợi chứng khóan Bài thứ nhất là “ Are investors moonstruck” của Kathy Yuan, Lu Zheng, Qiao qiao Zhu năm 2005 và bài thứ hai là “Winter blues: A SAD stock market cycle” của Kamstra, Kramer và Levi năm
Sau khi phân tích những yếu tố trên, chúng tôi sẽ thực hiện việc kiểm định những kết quả trên tại Việt Nam để xem xét rằng tại Việt Nam liệu có xảy ra hiện tượng chu kỳ mặt trăng ảnh và hiệu ứng rối loạn theo mùa(SAD) ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán hay không
Mẫu số liệu cho việc kiểm định hiệu ứng mặt trăng chúng tôi lấy từ 2 sàn chứng khoán của Việt Nam là HOSE và HNX với thời gian từ năm 2001 đến 2012 Đồng thời số liệu cho việc kiểm định ảnh hưởng của SAD được lấy từ tổng cục thống kê với các số liệu như lượng mưa, nhiệt độ, độ che phủ của mây, và một số yếu tố mùa khác
Sau khi đã thực hiện hồi quy và kiểm định cho hai mô hình trên, chúng tôi đưa ra kết luận
và cung cấp một số lời khuyên cho nhà đầu tư trong những thời điểm nhạy cảm của thị trường để từ đó có những quyết định đầu tư chính xác hơn
Trang 45/ Đóng góp đề tài:
Dù là một bộ phần quan trọng của lý thuyết tài chính, tuy nhiên tài chính hành vi vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với Việt Nam Thực hiện bài nghiên cứu về tài chính hành vi, chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ bổ sung một phần lý thuyết quan trọng về tâm lý của nhà đầu tư, về các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư cũng như các yếu
tố đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư như thế nào
Chúng tôi cũng hy vọng rằng bài nghiên cứu sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các nhà đầu tư để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn và gợi ra một hướng nghiên cứu mới cho các bài nghiên cứu sau
6/ Hướng phát triển của đề tài:
Đề tài này chúng tôi thực hiện trên cở sở các bài nghiên cứu quốc tế Khi đưa vào áp dụng tại Việt Nam sẽ có nhứng sự khác biệt nhất định heo kết quả kiểm định, chúng tôi thấy rằng các yếu tố tự nhiên không có ảnh hưởng r rệt đến tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam Điều này do những nguyên nhân chủ quan và khách quan Đây là hướng mở cho các bài nghiên cứu sau này để giải quyết các nguyên nhân trên
Trang 5MỘT SỐ TỪ K HÓ A CH UYÊN N G ÀN H :
Lunar phases: tuần trăng
Equal- weighted portfolio: danh mục đầu tư tính theo trung bình
Value- weighted portfolio: danh mục đầu tư tính theo trọng số
Lunar effect: hiệu ứng mặt trăng
Stock returns : tỷ suất sinh lợi chứng khoán
Average daily logarithmic returns: trung bình logarit tỷ suất sinh lợi theo ngày
Pool regression: hồi quy gộp
PCSE: bảng hiệu chỉnh sai số chuẩn
SAD – seasonal a ective disorder: hiệu ứng rối loạn theo mùa
Trang 6D ANH MỤ C C ÁC B ẢNG
ảng 1: kết quả kiểm định hàm hồi qui theo biến giả chu kỳ mặt trăng với N của 2 sàn 31 ảng 2: kết quả kiểm định hàm hồi qui theo biến giả chu kỳ mặt trăng với N của VN- ndex theo thời gian của N -Index 32 ảng : liệt kê các hệ số có ý nghĩa thống kê của chu kỳ mặt trăng với N=7 44 ảng 4: liệt kê các hệ số có ý nghĩa thống kê của hiệu ứng rối loạn theo mùa 56 ảng 5: kết quả kiểm định hàm hồi qui theo biến giả chu kỳ mặt trăng với N của 2 sàn trong giai đoạn từ 1 -12-200 đến hết năm 2012 57 ảng : liệt kê các hệ số có ý nghĩa thống kê của hiệu ứng chu kỳ mặt trăng với N lên 2 sàn trong giai đoạn từ 1 -12-200 đến hết năm 2012 66 ảng : liệt kê các hệ số có ý nghĩa thống kê của hiệu ứng rối loạn theo mùa trong giai đoạn từ 1 - 12-200 đến hết năm 2012 74
Trang 7D ANH MỤ C C C N
ình 1.1 Chu kỳ mặt trăng với tỷ suất sinh lợi ngày của VN-Index 34
ình 1.2 Chu kỳ mặt trăng với mức biến động trong ngày của VN-Index 35
ình 1 Chu kỳ mặt trăng với logarithmic của mức biến động trong ngày của VN-Index 36
ình 1 Chu kỳ mặt trăng với tỷ suất sinh lợi ngày của VN- ndex tính trong thời gian của N – Index 37
ình 1.5 Chu kỳ mặt trăng với mức biến động trong ngày của VN- ndex tính trong thời gian của HNX – Index 38
ình 1 Chu kỳ mặt trăng với logarithmic của mức biến động trong ngày của VN- ndex tính trong thời gian của N – Index 39
ình 1 Chu kỳ mặt trăng với tỷ suất sinh lợi ngày của N – Index 40
ình 1 Chu kỳ mặt trăng với mức biến động trong ngày của N – Index 41
ình 1 Chu kỳ mặt trăng với logarithmic của mức biến động trong ngày của N – Index 42
ình 2.1 iệu ứng rối loạn theo mùa đến tỷ suất sinh lợi ngày của VN-Index 46
ình 2.2 iệu ứng rối loạn theo mùa đến mức biến động trong ngày của VN-Index 47
ình 2.3 iệu ứng rối loạn theo mùa đến logarithmic của mức biến động trong ngày của VN-Index 48
ình 2.4 iệu ứng rối loạn theo mùa đến tỷ suất sinh lợi ngày của VN- ndex tính trong thời gian của N – Index 49
ình 2.5 iệu ứng rối loạn theo mùa đến mức biến động trong ngày của VN- ndex tính trong thời gian của N – Index 50
ình 2.6 iệu ứng rối loạn theo mùa đến logarithmic của mức biến động trong ngày của VN- ndex tính trong thời gian của N – Index 51
ình 2.7 iệu ứng rối loạn theo mùa đến tỷ suất sinh lợi ngày của N – Index 52
ình 2.8 iệu ứng rối loạn theo mùa đến mức biến động trong ngày của N – Index 53
ình 2.9 iệu ứng rối loạn theo mùa đến logarithmic của mức biến động trong ngày của N – Index 54
ình .1.1 iệu ứng chu kỳ mặt trăng đến tỷ suất sinh lợi ngày của VN – Index 59
ình .1.2 iệu ứng chu kỳ mặt trăng đến mức biến động trong ngày của VN – Index 60
ình .1.3 iệu ứng chu kỳ mặt trăng đến logarithmic của mức biến động trong ngày của VN – Index 61
ình .1.4 iệu ứng chu kỳ mặt trăng đến tỷ suất sinh lợi ngày của N – Index 62
ình .1.5 iệu ứng chu kỳ mặt trăng đến mức biến động trong ngày của N – Index 63
Trang 8ình .1.6 iệu ứng chu kỳ mặt trăng đến logarithmic của mức biến động trong ngày của N – Index 64 ình .2.1 iệu ứng rối loạn theo mùa đến tỷ suất sinh lợi ngày của VN – Index 67 ình .2.2 iệu ứng rối loạn theo mùa đến mức biến động trong ngày của VN – Index 68 ình .2.3 iệu ứng rối loạn theo mùa đến logarithmic của mức biến động trong ngày của VN – Index 69 ình .2.4 iệu ứng rối loạn theo mùa đến tỷ suất sinh lợi ngày của N – Index 70 ình .2.5 iệu ứng rối loạn theo mùa đến mức biến động trong ngày của N – Index 71 ình .2.6 iệu ứng rối loạn theo mùa đến logarithmic của mức biến động trong ngày của N – Index 72 ình .1 Kết quả kiểm định hàm hồi qui của hiệu ứng chu kỳ mặt trăng với N 0 lên tỷ suất sinh lợi của VN- ndex trong giai đoạn 2009-2012 76 ình .2 Kết quả kiểm định hàm hồi qui của hiệu ứng chu kỳ mặt trăng với N 0 lên tỷ suất sinh lợi của VN-Index và các biến trễ trong giai đoạn 2009-2012 77
Trang 9MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG 3
1 Tổng quan: 3
2 Bố cục bài nghiên cứu: 3
PHẦN 2: CÁC LÝ THUYẾT VỀ CHU KỲ MẶT TRĂNG VÀ 5
HIỆU ỨNG RỐI LOẠN THEO MÙA 5
1 Các quan điểm cổ xưa về hiệu ứng mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa: 5 2 Giải thích các ảnh hưởng đến tâm lý thông qua những bằng chứng sinh học: 5 3 Các kết luận từ các bài nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD) lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán: 8
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
1 Đối với nghiên cứu về tác động của chu kỳ mặt trăng: 25
2 Đối với nghiên cứu hiệu ứng rối loạn theo mùa 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM 30
1 Dữ liệu đầy đủ: 31
1.1 Chu ỳ ặt trăng: 31
1.1.1 Đối với VN – Index: 34
1.1.2 Đối với VN – In x t nh tr ng th i gian của HN – Index: 37
1.1.3 Đối với HN – Index: 40
ết quả tó t t như au: 43
1.2 Hiệu ứng rối loạn th a: 44
1.2.1 Đối với VN-Index: 46
1.2.2 Đối với VN – In x t nh tr ng th i gian của HN – Index: 49
1.2.3 Đối với HN – Index: 52
Trang 102 Giai đ ạn từ - - đến hết nă 2012: 57
2.1 Chu ỳ ặt trăng: 57
2.1.1 Đối với VN – Index: 59
2.1.2 Đối với HN – Index: 62
2.2 Hiệu ứng rối ạn th a: 66
2.2.1 Đối với VN-Index: 66
2.2.2 Đối với HN – Index: 70
3 Các iể đ nh hác: 75
PHẦN 5: ẾT N 78
Trang 11LỜ I NÓ I Đ ẦU
Đã từ lâu các học thuyết kinh tế tồn tại 2 trường phái đối nghịch và có mối liên hệ sâu sắc với nhau Một trường phái cho rằng các nhà đầu tư khi ra quyết định kinh doanh hoàn toàn là dựa trên lý trí và hoàn toàn không phụ thuộc vào tâm lý Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một trường phái cho rằng tâm lý ảnh hưởng rất nhiều đến quyết định của nhà đầu tư Nhiều bằng chứng cho thấy các nhà đầu tư dễ bị lệch lạc về tâm lý và hành vi khi đưa ra quyết định đầu tư, ví dụ như sự lo ngại mất mát, sư quá tự tin, sự biến động của tâm trạng… Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư như các biến động trong nền kinh tế, năng lực của nhà đầu tư, các yếu tố tự nhiên khác,…
Bài nghiên cứu này của chúng tôi tập trung phân tích những tác động của các yếu
tố tự nhiên đến tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt là chu kỳ mặt trăng và các yếu tố mùa Từ lâu
đã có nhiều bằng chứng cho thấy các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến cơ thể và tâm trí con người, từ đó ảnh hưởng đến hành vi tài chính khi đầu tư Hirshleifer và Shumway (2001) thấy rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có xu hướng cao hơn vào những ngày nắng Điều này có thể được giải thích là do ánh nắng mặt trời gây ra hành vi lạc quan cho nhà đầu tư Các nghiên cứu của Kamstra, Kramer, và Levi (2001) cũng cho thấy tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có liên quan đến tổng lượng chiếu sáng ban ngày trong suốt năm heo giải thích của Kamstra, Kramer, và Levi, việc thiếu ánh sáng mặt trời gây ra trầm cảm, làm gia tăng ác cảm với rủi ro, ảnh hưởng đến giá trị của chứng khoán Xem xét các bằng chứng trong Hirshleifer và Shumway (2001) và Kamstra, Kramer, và Levi (2001) ta thấy rằng có khả năng là còn có các yếu tố ngoại sinh phổ biến khác có ảnh hưởng đến giá chứng khoán theo những cách có hệ thống Theo truyền thống và sự tồn tại của niềm tin về ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng đối với hành vi con người, điều tra ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có vẻ như một bước tiến
tự nhiên trong hướng phát triển này Ví dụ, nếu trăng tròn gây ra trầm cảm và bi quan, chúng tôi hy vọng tỷ suất sinh lợi xung quanh ngày trăng tròn thấp vì ác cảm rủi ro cao hay vì nhiều dự báo bi quan của dòng tiền chứng khoán trong tương lai
Trang 12Chính vì vậy, chủ đề chính của bài nghiên cứu này là xem xét về ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD) lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán Với chu kỳ mặt trăng, chúng tôi tìm hiểu xem liệu chu kỳ mặt trăng có ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư hay không và từ đó ảnh hưởng đến tỉ suất sinh lợi trong thời kỳ trăng tròn và trăng non như thế nào Bên cạnh sự ảnh hưởng bởi chu kỳ mặt trăng, bài nghiên cứu của chúng tôi cũng tìm hiểu tâm lý nhà đầu tư khi bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD) bao gồm các yếu tố như các mùa trong năm, mùa nắng mùa mưa, thời gian chiếu sáng,… Vào những thời điểm mùa khác nhau trong năm thì tâm lý nhà đầu tư cũng không giống nhau Do đó chúng tôi cũng xem xét tỷ suất sinh lợi chứng khoán thị trường sẽ biến động như thế nào khi tâm lý nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi những yếu tố tự nhiên trên
Ngoài ra, đây là đề tài khá mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam, vẫn chưa có một luận chắc chắn nào về mối liên hệ giữa các yếu tố tự nhiên như chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa đối với tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên thị trường Điều này đã thôi thúc chúng tôi thực hiện bài nghiên cứu này tại Việt Nam
Trang 13PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1 Tổng quan:
Đối với một nhà đầu tư cá nhân thì việc ra quyết định đầu tư là rất quan trọng, nó
có ảnh hưởng sống còn đối với nhà đầu tư đó Chính vì vậy, trước khi đưa ra một quyết định đầu tư chính xác cần xem xét rất nhiều yếu tố, và một trong những yếu tố quan trọng không thể bỏ qua là các yếu tố tự nhiên Chính vì vậy mục tiêu của bài nghiên cứu này là:
Đưa ra được kết luận tại Việt Nam có xảy ra sự tương quan giữa các yếu tố tự nhiên (chu kỳ mặt trăng, hiệu ứng rối loạn theo mùa) và tỷ suất sinh lợi chứng khoán hay không Chúng tôi thấy rằng do những nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến các mô hình của chúng tôi không có ý nghĩa thống kê Cụ thể là khi kiểm định mối tương quan giữa các biến giả chu kỳ mặt trăng, biến hiệu ứng rối loạn theo mùa, biến khối lượng và các biến yếu tố tự nhiên khác đến tỷ suất sinh lợi ngày, mức biến động trong ngày và logarit của mức biến động trong ngày Tỷ suất sinh lợi ngày chúng tôi tính theo nhiều cách khác nhau và tính thêm yếu tố T+3 của thị trường chứng khoán Việt Nam
Khi quyết định của nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý, quyết định đó dường như không còn hiệu quả tối ưu Chúng tôi mong muốn dựa vào bài nghiên cứu này
để đưa ra lời khuyên cho nhà đầu vào những thời điểm nhạy cảm để từ đó nhà đầu tư có những quyết định chính xác hơn
2 Bố cục bài nghiên cứu:
Bài nghiên cứu của chúng tôi gồm 5 phần Phần tiếp theo chúng tôi sẽ khái quát
về những kết quả đã hình thành từ xa xưa cũng như nhận xét từ một số bài nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng chu kỳ mặt trăng và các yếu tố tự nhiên khác như hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD) đến tâm lý con người, từ đó ảnh hưởng đến hành động của họ qua các triệu chứng như e ngại rủi ro, triệu chứng quá tự tin,…Ở đây chúng tôi xem xét hành động của con người là quyết định đầu tư tài chính Đồng thời chúng tôi cũng đưa ra một
số kết quả nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đã có trước đây Phần 3 của bài, nhóm sẽ
Trang 14đi sâu hơn về phương pháp, mô hình và cách lựa chọn số liệu nghiên cứu Phần 4 nhóm
sẽ đi đến các kết quả và các nhân định về ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa tại Việt Nam Cuối cùng sẽ là phần kết luận với một số khuyến nghị cho nhà đầu tư tại những thời điểm nhạy cảm của thị trường, đồng thời nhóm cũng đưa ra một
số hướng phát triển đề tài danh cho những ai muốn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này
Trang 15PHẦN 2: C ÁC LÝ TH UYẾT V Ề CHU KỲ MẶT TRĂN G VÀ
HIỆU ỨN G RỐI LO ẠN TH EO MÙA
1 Các quan điểm cổ xưa về hiệu ứng mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa:
Niềm tin rằng các giai đoạn của mặt trăng ảnh hưởng đến tâm trạng và hành vi đã bắt nguồn từ thời cổ đại
Ý tưởng cho rằng mặt trăng ảnh hưởng đến tâm trạng cá nhân có nguồn gốc cổ xưa Mặt trăng cho thấy sự liên quan với rối loạn tâm thần kể từ thời cổ đại, như được phản ánh bởi từ “lunacy” xuất phát từ Luna, nữ thần mặt trăng của La Mã Đức tin phổ biến đã liên kết trăng tròn với các sự kiện khác nhau như động kinh, mộng du, tội phạm,
tự tử, bệnh tâm thần, thiên tai, tai nạn, tỷ lệ sinh và khả năng sinh sản
ừ xưa, con người đã cho rằng mặt trăng có tác động rất lớn đến trái đất và con người Vào thế kỷ thứ 1 , nhiều nhà nghiên cứu đã quả quyết rằng, mặt trăng có một sức mạnh kỳ lạ, nó tác động đến bệnh tật của não bộ, đặc biệt là chứng mất trí nhớ của con người
2 Giải thích các ảnh hưởng đến tâm lý thông qua những bằng chứng sinh học:
Bằng chứng sinh học cho thấy các giai đoạn mặt trăng có ảnh hưởng đến cơ thể và hành vi của con người Các nghiên cứu về nhịp điệu sinh học đưa ra tài liệu về một chu
kỳ circatrigintan, đó là một chu kỳ mặt trăng liên quan đến con người Chu kỳ hàng tháng phổ biến nhất là kinh nguyệt Chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ có độ dài giống như một chu kỳ mặt trăng, cho thấy sự ảnh hưởng của mặt trăng Law (1 ) tìm thấy một mối quan hệ đồng bộ giữa chu kỳ kinh nguyệt và các giai đoạn âm lịch
Ngoài ra, bằng chứng khảo sát cho thấy một niềm tin rộng rãi đối với hiệu ứng mặt trăng Rotton và Kelly (1 5a) tìm thấy rằng 49,4% số người trả lời khảo sát của họ tin vào hiện tượng âm lịch Điều thú vị là, trong những y tá chăm sóc bệnh nhân tâm thần, tỷ
lệ này tăng lên đến 74% (Agus, 1973) Vance (1995) Danzl (1987) tìm thấy bằng chứng
Trang 16khảo sát là 0% các y tá và % các bác sĩ tại phòng cấp cứu tin rằng các chu kỳ mặt trăng có ảnh hưởng đến bệnh nhân
Các giải thích khoa học được đề xuất chủ yếu là cho hiệu ứng của mặt trăng đối với não: thiếu ngủ, nhiều sương đêm, ảnh hưởng thủy triều, thời tiết, từ tính và phân cực của ánh sáng mặt trăng (Kelley, năm 1 2; Katze , 1 1; Szpir năm 1 ; Raison et al, 1999)
Đã có nhiều cách giải thích dựa trên cơ sở khoa học xuất hiện
Các chuyên gia thuộc rường đại học Cali ornia, Mỹ cho rằng có một tác động giữa ánh sáng mặt trăng tới sức khỏe con người ọ giải thích là: Những ngày trăng tròn, ánh sáng của ánh trăng đã tác động đến giấc ngủ của con người, gây tình trạng thiếu ngủ trong suốt thời gian có trăng, và điều này ít nhiều đã tác động đến hệ thần kinh, dẫn đến những thái độ và hành động bất thường Giải thích thứ hai được đưa ra dựa trên lý thuyết của khoa học về sự ảnh hưởng từ sức hút mặt trăng đối với chất lỏng trên trái đất (đây là
lý thuyết được dùng để giải thích cho hiện tượng thủy triều thường lên cao vào những đêm trăng) heo đó, sức hút từ mặt trăng ít nhiều đã tác động đến hệ thần kinh của con người (cụ thể là chất dịch trong một phần của não - hypothalamus - phần não kiểm soát thái độ và hành vi) và gây ra các cảm giác rất khó chịu cũng như sự thay đổi về nhiệt độ
và giấc ngủ iện tượng này còn có tên gọi khác như “thủy triều máu” hay “thủy triều sinh học” trong não của con người Đây là nguyên nhân khiến cho sự lưu thông của máu trong não bị thay đổi, gây ra những tác động có thể dẫn tới sự rối loạn, mất thăng bằng trong chức năng kiểm soát hành vi của não bộ, từ đó dẫn tới những hành vi bất thường của con người
Theo Are investor moonstruck (2006)
“ àng ngàn năm qua , đã có nhiều niềm tin phổ biến rằng chu kỳ mặt trăng ảnh hưởng đến hành vi con người Cụ thể, người ta tin rằng hành vi bất thường của con người thường lên đến đỉnh điểm xung quanh ngày trăng tròn, gia tăng xu hướng rối loạn tâm thần, bạo lực và hành vi lệch lạc khác Niềm tin này xuất phát từ thời Hy Lạp và Rome
Trang 17cổ đại, kéo dài qua suốt những đêm dài rung Cổ, và cho đến nay, niềm tin này vẫn còn được tìm thấy trong nhiều nét văn hóa dân gian Nhìn chung, mặt trăng và chu kỳ của nó
đã được xem như là một nhân tố quan trọng trong nhiều hoạt động nổi bật của con người trong một thời gian dài Các nghi lệ tôn giáo thường được tính thời gian để phù hợp với giai đoạn chính xác của tháng và năm âm lịch dựa trên chu kỳ mặt trăng, trong đó có ồi giáo, Do Thái, và lịch Trung Quốc Cho đến ngày nay, nhiều ngày lễ phổ biến như lễ Phục sinh (Easter) và Lễ Vượt Qua (Passover) vẫn còn được tính theo thời gian của chu
kỳ mặt trăng.”( rích từ bài “Lunar cycle e ects in stock returns(Ilia D Dichev , Troy D Janes ,Tháng 8-2001))
“ ằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy rằng các nhà đầu tư dễ bị nhiều lệch lạc
về tâm lý và hành vi khi đưa ra các quyết định đầu tư, ví dụ như là sự lo ngại mất mát, sự quá tự tin, và sự biến động của tâm trạng (ví dụ Harlow và Brown, 1990; Odean, 1998, 1999) Trên một cấp độ chung, nhiều nghiên cứu tâm lý cho thấy rằng tâm trạng có thể ảnh hưởng đến khả năng phán đoán và hành vi của con người (Ví dụ, Schwarz và Bless, 1991; Frijda, 1998) Các tài liệu tài chính hành vi đưa ra bằng chứng về tác động của tâm trạng lên giá tài sản (ví dụ, Avery và Chevalier,1999; Kamstra et al,2000, 2003; irshlei er và Shumway, 200 ; Coval và Shumway,năm 2005) Vậy mở rộng ra, nếu các tuần trăng ảnh hưởng đến tâm trạng, những giai đoạn này cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư và từ đó ảnh hưởng đến giátài sản
Một khó khăn trong việc thử nghiệm là không biết là nếu dựa vào ảnh hưởng của những sai lệch về tâm lý và tình cảm lên hành vi giao dịch của nhà đầu tư và giá tài sản
để tìm ra một biến đại diện cho tình cảm hoặc tâm trạng thì có thể quan sát được và ngoại sinh với các biến số kinh tế hay không uy nhiên, đã có rất nhiều nỗ lực sáng tạo Ví dụ, Avery và Chevalier (1999) cho thấy ưu thế tình cảm có thể ảnh hưởng đến đường giá trong cá cược bóng đá Saunders (1 ) và irshlei er và Shumway (200 ), đưa ra bằng chứng về mặt tâm lý là trời nắng được kết hợp với một tâm trạng lạc quan, cho nên ánh nắng mặt trời tương quan mạnh với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Trong một nghiên cứu về sự biến đổi theo mùa của phí bảo hiểm rủi ro cho tỷ suất sinh lợi trên thị trường
Trang 18chứng khoán, Kamstra et al (200 ) đưa ra một hiện tượng y học đã được nghiên cứu, hiệu ứng rối loạn theo mùa (Seasonal Affective Disorder-SAD), để đại diện cho tâm trạng của nhà đầu tư và tìm thấy một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê SAD và tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán Trong một nghiên cứu khác, Kamstra et al (2000) lần lượt liên kết biến động hàng năm của ánh sáng ban ngày với sự thay đổi tâm trạng và
tỷ suất sinh lợi của thị trường chứng khoán
Ngoài ra, bằng chứng khảo sát cho thấy một niềm tin rộng rãi đối với hiệu ứng mặt trăng Rotton và Kelly (1 5a) tìm thấy rằng 49,4% số người trả lời khảo sát của họ tin vào hiện tượng âm lịch Điều thú vị là, trong những y tá chăm sóc bệnh nhân tâm thần, tỷ
lệ này tăng lên đến 74% (Agus, 1973) Vance (1995) Danzl (1987) tìm thấy bằng chứng khảo sát là 0% các y tá và % các bác sĩ tại phòng cấp cứu tin rằng các chu kỳ mặt trăng có ảnh hưởng đến bệnh nhân Các giải thích khoa học được đề xuất chủ yếu là cho hiệu ứng của mặt trăng đối với não: thiếu ngủ, nhiều sương đêm, ảnh hưởng thủy triều, thời tiết, từ tính và phân cực của ánh sáng mặt trăng (Kelley, năm 1 2; Katze , 1 1; Szpir năm 1 ; Raison et al, 1 ).” ( rích từ bài “Are investors moonstruck? Lunar phases and stock returns(Kathy Yuan , Lu Zheng, Qiaoqiao Zhu - Journal of Empirical Finance 13 (2006) 1 – 23))
3 Các kết luận từ các bài nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng chu kỳ mặt trăng và hiệu ứng rối loạn theo mùa (SAD) lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán:
3.1 Lunar cycle effects in stock returns (Tháng 8-2001)
Tác giả tìm thấy hiệu ứng mặt trăng có tác động mạnh mẽ lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Cụ thể, tỷ suất sinh lợi trong 15 ngày xung quanh ngày trăng non gấp đôi
tỷ suất sinh lợi trong 15 ngày xung quanh ngày trăng tròn ác giả đã tìm thấy mô hình này cho tất cả các chỉ số chứng khoán chính của Mỹ trong vòng 100 năm qua và gần như tất cả các chỉ số chứng khoán chính của 24 quốc gia khác trong 0 năm qua Ngược lại, tác giả thấy không có bằng chứng đáng tin cậy hoặc có ý nghĩa kinh tế quan trọng của
Trang 19hiệu ứng mặt trăng lên sự biến động của tỷ suất sinh lợi và khối lượng giao dịch Bằng chứng này thì phù hợp với niềm tin phổ biến rằng các chu kỳ mặt trăng ảnh hưởng đến hành vi của con người
Tác giả bắt đầu bài điều tra với một cái nhìn toàn diện nhất có thể về tác động của hiệu ứng mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Mỹ Tác giả thấy rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán xung quanh ngày trăng non cao hơn đáng kể so với ngày trăng tròn Mô hình này tồn tại cho tất cả các chỉ số chứng khoán lớn của Mỹ theo toàn bộ lịch
sử của các tỷ suất sinh lợi hiện có, bao gồm cả chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones (1896-1999), S & P 500(1928-2000), NYSE-AMEX (1962-2000), và Nasdaq (1973-2000) Mức độ kinh tế của sự khác biệt này là lớn, với tỷ suất sinh lợi hàng ngày xung quanh ngày trăng non gần gấp đôi những người xung quanh ngày trăng tròn heo một phương pháp thống kê khác, sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi vào giai đoạn trăng tròn và trăng non hàng năm giữa mặt trăng và trả về mới trăng tròn có độ lớn từ 5 đến 8%, cạnh tranh và có thể vượt quá phần bù rủi ro thị trường uy nhiên, do độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi hàng ngày là lớn, hầu hết các sự khác biệt cho các chỉ số chứng khoán riêng
lẻ không có ý nghĩa thống kê Trong các thử nghiệm bổ sung, tác giả thấy rằng hiệu ứng mặt trăng đối với biến động tỷ suất sinh lợi và khối lượng giao dịch có thể là không có ý nghĩa thống kê đáng tin cậy hoặc có tầm quan trọng về mặt kinh tế nhỏ
Từ những phát hiện trên thị trường chứng khoán Mỹ, tác giả bắt đầu mở rộng nghiên cứu ra cho thế giới Tác giả sử dụng dữ liệu Datastream để lấy kết quả cho 24 quốc gia khác nhau trong vòng 0 năm qua, về cơ bản là bao gồm tất cả các thị trường giao dịch chứng khoán lớn trên thế giới Tác giả thấy rằng các kết quả trong mô hình của
Mỹ phần lớn là lặp đi lặp lại ở các nước khác ơn nữa, kết quả có thể còn r ràng hơn với các quốc gia nước ngoài Cụ thể là, tỷ suất sinh lợi hàng ngày xung quanh ngày trăng non thì hơn gấp đôi những ngày xung quanh ngày trăng tròn, với sự khác biệt hàng năm
có độ lớn kiểm định có ý nghĩa thống kê mạnh mẽ, bác bỏ giả thuyết không có sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi với mức ý nghĩa thống kê cao
Trang 20ương tự như hiệu ứng ngày thứ Hai ( the Monday effect), bản chất của hiệu ứng mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi làm cho nó không chắc sẽ chuyển thành chiến lược kinh doanh có thể khai thác được Tuy nhiên, hiệu ứng mặt trăng vẫn hấp dẫn các nhà nghiên cứu vì nó cung cấp bằng chứng mạnh mẽ mới về mối liên hệ giữa giá cổ phiếu và hành vi của con người Điều mà sẽ khó khăn để giải thích đầy đủ theo những suy nghĩ kinh tế truyền thống Một số kết quả sơ bộ của tác giả cũng đưa ra đề nghị cho các phạm vi có thể nghiên cứu trong tương lai Ví dụ, tác giả tìm thấy một số bằng chứng về hiệu ứng mặt trăng tác động lên giá cả và sự thay đổi lãi suất của trái phiếu Tuy nhiên, bằng chứng này là hỗn hợp và khá hạn chế, cho thấy rằng nó có thể hữu ích để mở rộng điều tra với các mẫu lớn hơn và chuỗi rộng hơn của giá tài sản (ví dụ, hàng hóa, giao sau , và các quyền chọn) Vì nhận thức được tỷ suất sinh lợi của chứng khoán phản ánh được những thay đổi bất ngờ trong kỳ vọng, cho nên một khả năng khác có thể điều tra là liệu những thay đổi trong dự báo của các nhà phân tích trong giai đoạn trăng non có lạc quan hơn trong thời gian trăng tròn hay không ằng chứng bổ sung này sẽ làm r nét hơn hiểu biết của chúng ta về mức độ và nguyên nhân của hiệu ứng mặt trăng
Cuối cùng, bằng chứng về hiệu ứng mặt trăng từ tỷ suất sinh lợi của chứng khoán thì khác với các kết luận trong tâm lý học và y học Sự đồng thuận trong các tài liệu này
là không có mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chu kỳ mặt trăng và hành vi của con người Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này điều tra về hành vi lệch lạc và khá cực đoan, chỉ dựa trên các mẫu hạn chế-từ vài chục đến một trăm vài quan sát Cách tiếp cận này có thể dẫn đến kết quả có ý nghĩa thống kê thấp, đặc biệt là nếu tác động của chu kỳ mặt trăng lên hành vi của con người là có tồn tại nhưng khá nhẹ Ngược lại, bằng chứng trong bài nghiên cứu này dựa trên chỉ số giá chứng khoán, tổng hợp thường xuyên quyết định của hàng trăm triệu nhà đầu tư trong những khoản thời gian khác nhau, từ hàng chục đến hơn 100 năm Sự khác biệt trong các kết quả cho thấy rằng có thể có hiệu quả nếu nghiên cứu các cách tiếp cận mới để xác định một liên kết giữa các chu kỳ mặt trăng và hành vi của con người Ví dụ, bằng chứng trong nghiên cứu này cho thấy rằng mọi người trong giai đoạn trăng non đang lạc quan hơn trong thời kỳ trăng tròn ằng chứng này có
Trang 21thể được sử dụng để thiết kế các thí nghiệm có kiểm soát để điều tra cho các thay đổi có thể dự đoán trong sự lạc quan tương đối như là một đặc trưng của chu kỳ mặt trăng
3.2 Are investors moonstruck? Lunar phases and stock returns (Kathy Yuan ,
Lu Zheng, Qiaoqiao Zhu - Journal of Empirical Finance 13 (2006) 1 – 23)
Bài nghiên cứu này điều tra mối quan hệ giữa các giai đoạn mặt trăng và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán thị trường trên 48 quốc gia Các kết quả cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong những ngày xung quanh ngày trăng tròn thấp hơn quanh những ngày trăng non Độ lớn của sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi là % đến 5% mỗi năm dựa trên phân tích của hai danh mục đầu tư toàn cầu: một tính theo trung bình và một tính theo trọng số Sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi không phải là do những thay đổi trong biến động của thị trường chứng khoán và khối lượng giao dịch Dữ liệu cũng cho thấy hiệu ứng mặt trăng không được giải thích bởi các thông tin kinh tế vĩ mô được thông báo, cũng không được thúc đẩy bởi những cú sốc lớn với các bất thường theo lịch khác như hiệu ứng tháng Giêng, hiệu ứng ngày trong tuần, hiệu ứng thay đổi theo tháng,
và hiệu ứng ngày nghỉ (kể cả ngày lễ âm lịch)
Để điều tra mối quan hệ giữa các giai đoạn mặt trăng và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán, đầu tiên tác giả kiểm tra sự kết hợp của các giai đoạn mặt trăng với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong một danh mục đầu tư toàn cầu tính theo trung bình (equal weighted) và tính theo trọng số( value weighted) của 48 chỉ số chứng khoán quốc gia Các kết quả cho thấy rằng tỷ suất sinh lợi từ chứng khoán toàn cầu trong thời gian trăng tròn thấp hơn đáng kể so với các thời kỳ trăng non Đối với danh mục đầu tư cân bằng về
tỉ trọng, sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi tích lũy giữa các giai đoạn trăng non và giai đoạn trăng tròn là 0,26 bps mỗi chu kỳ mặt trăng đối với đặc điểm 15-ngày và 27,48 bps mỗi chu kỳ mặt trăng cho đặc điểm 7-ngày, cả hai đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Đối với danh mục đầu tư cân bằng về giá trị, sự khác biệt trong tỷ suất sinh lợi tương ứng
là 0 bps đối với cho đặc điểm 15-ngày và 25, bps cho đặc điểm 7-ngày, có ý nghĩa thống kê tương ứng ở mức 10% và 5% Những con số này chuyển thành sự khác biệt tỷ
Trang 22suất sinh lợi hàng năm là từ % đến 5% Sự khác biệt trong trung bình lôgarít hàng ngày của tỷ suất sinh lợi giữa thời kỳ trăng non và thời kỳ trăng tròn là phù hợp với những phát hiện trên
Một mô hình sin cũng được ước tính để kiểm định cho mô hình tuần hoàn của hiệu ứng mặt trăng heo mô hình này, hiệu ứng mặt trăng đạt đến đỉnh cao của nó vào thời điểm trăng tròn và sụt giảm thấp xuống vào thời điểm mặt trăng non, theo sau một đường cong cosin với thời gian 2 ,5 ngày (độ dài trung bình của một chu kỳ mặt trăng) Kết quả cho thấy một mô hình tuần hoàn theo chu kỳ mặt trăng có ý nghĩa thống kê trong tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Để sử dụng đầy đủ dữ liệu bảng (panel data), một hồi quy gộp (pool regression) được ước tính với bảng hiệu chỉnh sai số chuẩn (panel corrected standard errors-PCSE) cho tất cả 48 quốc gia và cho các nhóm quốc gia sau đây: các quốc gia thuộc G- , các nước phát triển khác, và các nước thị trường mới nổi ính năng PCSE điều chỉnh đồng thời sự tương quan và phương sai thay đổi trong hệ số tỷ suất sinh lợi giữa các quốc gia với nhau, cũng như sự tự tương quan trong hệ số tỷ suất sinh lợi chứng khoán của mỗi nước
Khi tất cả các quốc gia được xem xét trong phân tích, một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê được tìm thấy giữa các tuần trăng và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán cho cả đặc tính 15 ngày và 7 ngày Trung bình, tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong thời kỳ trăng tròn thì thấp hơn bps hàng ngày (khoảng 5% mỗi năm) so với giai đoạn trăng non đối với đặc tính 15 ngày Sử dụng đặc tính 7 ngày, tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong thời kỳ trăng tròn thì thấp hơn bps hàng ngày (khoảng 4% mỗi năm) so với giai đoạn trăng non Mức ảnh hưởng được ước tính vẫn tương tự như vậy khi nhóm quốc gia có ảnh hưởng bất biến (country group ixed e ects) được xem xét Khi các quốc gia có ảnh hưởng bất biến (country ixed e ects) được xem xét, hiệu ứng mặt trăng được ước lượng trở nên mạnh hơn Một quan sát thú vị khác là độ lớn của hiệu ứng mặt trăng này trong các quốc gia có thị trường mới nổi thì lớn hơn với ở các nước đã phát triển
Trang 23Để nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu ứng mặt trăng và tâm lý của các nhà đầu tư, tác giả xem xét liệu hiệu ứng mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có liên quan đến quy mô chứng khoán (stock size) hay không, và do đó xem xét quá trình ra quyết định của cá nhân so với tổ chức, vì quyền sở hữu của tổ chức đối với các chứng khoán vốn hóa lớn thì cao hơn hật vậy, đối với chứng khoán Mỹ, tác giả tìm thấy bằng chứng cho thấy hiệu ứng mặt trăng lên NASDAQ và các chứng khoán vốn hóa nhỏ thì rõ rệt hơn
so với NYSE-AMEX và các chứng khoán vốn hóa lớn Chính vì vậy, bằng chứng cho thấy hiệu ứng mặt trăng mạnh mẽ hơn chủ yếu được xây dựng bởi các chứng khoán sở hữu bởi cá nhân Phát hiện này thì phù hợp với quan điểm cho rằng các giai đoạn mặt trăng ảnh hưởng đến tâm trạng cá nhân, do đó ảnh hưởng đến hành vi đầu tư
Để hiểu r hơn mối quan hệ giữa các giai đoạn mặt trăng và thị trường chứng khoán, tác giả điều tra liệu các giai đoạn mặt trăng có liên quan đến khối lượng giao dịch chứng khoán và biến động của tỷ suất sinh lợi hay không Không có bằng chứng nào được tìm thấy chứng tỏ hiệu ứng mặt trăng được quan sát thấy trong tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có liên quan đến khối lượng giao dịch hoặc sự khác biệt về nguy cơ trong suốt giai đoạn trăng tròn và trăng non
Sau đó tác giả kiểm tra xem hiệu ứng mặt trăng có thể được giải thích bởi các sự kiện kinh tế vĩ mô và những bất thường theo lịch khác đã được nghiên cứu (documented calendar anomalies) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu ứng mặt trăng không phải là do ảnh hưởng bình thường của các công bố vĩ mô hay những thay đổi trong lãi suất ngắn hạn Hiệu ứng âm lịch cũng không thể được giải thích đầy đủ bởi những cú sốc toàn cầu
Kết quả về hiệu ứng mặt trăng vẫn tương tự sau khi tác giả kiểm soát các hiệu ứng bất thường theo lịch khác có liên quan, chẳng hạn như hiệu ứng tháng Giêng (January effect), hiệu ứng ngày trong tuần ( day-of-week effect), hiệu ứng tháng dương lịch (calendar month effect), và các hiệu ứng ngày nghỉ (kể cả ngày lễ âm lịch)(holiday effect) Vì vậy, tác giả kết luận rằng hiệu ứng mặt trăng không phải là một biểu hiện của những hiệu ứng bất thường theo lịch
Trang 24Ngoài ra, tác giả còn tiếp tục kiểm tra tính vững mạnh của hiệu ứng mặt trăng bằng cách sử dụng các gỉa định độ dài chu kỳ mặt trăng khác nhau (lunar window length), điều kiện ARIMA thay thế, và một thử nghiệm các chu kỳ 30-ngày ngẫu nhiên
3.3 A Bayesian Analysis of Lunar Effects on Stock Returns (Shu-Ing Liu* and Jauling Tseng**- The IUP Journal of Behavioral Finance, Vol VI, Nos 3 &
4, 2009)
Bằng chứng rộng rãi về mặt sinh học, tâm lý học và y học cho thấy rằng các giai đoạn mặt trăng có thể ảnh hưởng đến hành vi và tâm trạng của con người Đề nghị này thúc đẩy nghiên cứu về mối quan hệ giữa các giai đoạn mặt trăng và tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Các nghiên cứu liên quan cho thấy hiệu ứng chu kỳ mặt trăng có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán Chúng chỉ ra rằng trung bình tỷ suất sinh lợi của chứng khoán hàng ngày khi gần trăng tròn thấp hơn và cao hơn khi gần mặt trăng non Nghiên cứu này tiếp tục điều tra các mối liên hệ giữa các giai đoạn mặt trăng và tỷ suất sinh lợi hàng ngày của chứng khoán bằng cách sử dụng một mô hình tự hồi quy hai
cơ chế (two-regime autoregressivemodel) với sự cải tiến GARCH (1,1) Thay vì chỉ kiểm tra trung bình tỷ suất sinh lợi hàng ngày, sự tranh luận sẽ được mở rộng theo ba hướng: trung bình tỷ suất sinh lợi hàng ngày, sự tương quan giữa các tỷ suất sinh lợi hàng ngày liên tiếp nhau , và biến động GARCH
Trong nghiên cứu này, tác giả thiết lập kích thước chu kỳ là N , và để cho
If biểu thị cho thời kỳ trăng tròn và n biểu thị cho thời gian trăng non Giả sử rằng tỷ suất sinh lợi hàng ngày của chứng khoán{Rt} theo mô hình chuỗi thời gian sau đây:
Trang 25Để thuận tiện, chỉ số phụ '1' biểu thị cho thời kỳ trăng tròn và chỉ số phụ '2' biểu thị giai đoạn trăng non Để đáp ứng điều kiện tĩnh, I cần thỏa mãn điều kiện | I |<1 Phương sai có điều kiện được xác định là:
Tham số ij đáp ứng các điều kiện 0 ij 1 và 0 i1 i2
ơn nữa, để
làm cho mô hình linh hoạt hơn, phân phối t có điều kiện được xem xét, thay vì phân phối
có điều kiện truyền thống
Cách tiếp cận Bayes sẽ được áp dụng cho tỷ suất sinh lợi hàng ngày của 12 quốc gia, bao gồm cả các thị trường G và năm thị trường mới nổi ở châu Á Nhìn chung, kết quả thống kê cho thấy sự tồn tại của hiệu ứng mặt trăng trên tỷ suất sinh lợi hàng ngày , mặc dù các mẫu hình khác nhau được thể hiện ở các thị trường G7 và một vài thị trường châu đã được thảo luận Cụ thể, sự tự tương quan đối với tỷ suất sinh lợi hàng ngày liên tiếp nhau là khác nhau đáng kể theo các giai đoạn mặt trăng cũng như là theo các cấu trúc đa dạng của các thị trường chứng khoán khác nhau
Các kết quả đối với một số thị trường chứng khoán mới nổi, chẳng hạn như ở hượng Hải, Singapore và Đài Loan, cho thấy sự tự tương quan đối với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán những ngày liên tiếp nhau là dương và có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn trăng non Điều này được giải thích là do ba nước này được phân loại là các nước thị trường mới nổi, hoặc tỷ suất sinh lợi hay giá hiện tại của chứng khoán có thể không đầy đủ hoặc có kết quả phản ánh thông tin trong quá khứ, do đó nhà đầu tư có xu hướng hợp lý và xem xét thông tin gần đây như là một tài liệu tham khảo trong thời kỳ trăng non Mặt khác, kết quả cho một nửa thị trường G7 cho thấy sự tư tương quan nổi bật hơn
Trang 26trong thời kỳ trăng tròn Các quốc gia G thường được phân loại là nước có thị trường phát triển, vì vậy, về mặt lý thuyết, thị trường của họ hiệu quả và tỷ suất sinh lợi hiện tại
có xu hướng phản ánh đầy đủ thông tin trong quá khứ Vì vậy, sự tự tương quan sẽ không tồn tại giữa tỷ suất sinh lợi các ngày liên tiếp ở các quốc gia G7 Tuy nhiên, trong thời kỳ trăng tròn, người dân có xu hướng ít tự tin và ít hợp lý hơn, và do đó,có xu hướng xem xét thông tin trong quá khứ một cách phi lý Điều này làm cho sự tự tương quan dương và
có ý nghĩa thống kê trong thời kỳ trăng tròn
Đối với hầu hết các thị trường G7 , tỷ suất sinh lợi trung bình hàng ngày là cao hơn trong giai đoạn mặt trăng non so với giai đoạn trăng tròn Sự tự tương quan giữa tỷ suất sinh lợi các ngày liên tiếp nhau là tự tương quan dương trong giai đoạn trăng tròn Những biến động trong tỷ suất sinh lợi thì cao hơn trong thời kỳ trăng tròn uy nhiên, các kết quả cho một số thị trường châu thì ngược lại: tỷ suất sinh lợi trung bình hàng ngày chỉ hơi cao hơn trong thời kỳ trăng tròn Sự tự tương quan giữa tỷ suất sinh lợi các ngày liên tiếp nhau cũng là tương quan dương trong giai đoạn trăng non.Mặt dù ở châu
Á, Hồng Kông cho thấy những kết quả khá giống với các quốc gia g7do sự kết nối chặt chẽ về thương mại và tài chính quốc tế với các nước phát triển Những phát hiện này thì phù hợp với các phỏng đoán rằng tỷ suất sinh lợi của chứng khoán bị ảnh hưởng bởi sự không đồng nhất trong nhân khẩu học và hiệu quả của thị trường chứng khoán, cũng như tâm trạng các nhà đầu tư, sự bất hợp lý và quá tự tin, đặc biệt là trong thời gian trăng tròn
Tất cả các nước được thảo luận, ngoại trừ Canada và Italy, cho thấy biến động tỷ suất sinh lợi cao hơn trong thời kỳ trăng tròn Nhìn chung, hiện tượng này thì nổi bật hơn đối với thị trường Châu Á Nếu sự chú ý chỉ tập trung vào tỷ suất sinh lợi trung bình hàng ngày và sự tự tương quan giữa tỷ suất sinh lợi các ngày liên tiếp nhau thì kết quả cho thấy Hàn Quốc hầu như chịu ảnh hưởng của hiệu ứng mặt trăng lên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, sự biến động của tỷ suất sinh lợi cho Hàn Quốc vẫn còn cao trong thời
kỳ trăng tròn Một lần nữa, điều này chỉ ra rằng hành vi bất thường trong thời kỳ trăng tròn có thể tạo nên sự biến động của thị trường chứng khoán
Trang 27Tóm lại,các bằng chứng được đưa ra trong nghiên cứu này là phù hợp và hỗ trợ niềm tin phổ biến về việc các giai đoạn mặt trăng ảnh hưởng đến hành vi tài chính của con người
3.4 Does lunar cycle effect exist? Lunar phases and stock return volatilities Hsien Wang, Chin-Tsai Lin and Wei-Ling Chen- African Journal of Business Management Vol 4(18), pp 3892-3897, 18 December, 2010)
(Yi-Nghiên cứu này thông qua quan điểm tài chính hành vi để kiểm tra các mối quan
hệ giữa chu kỳ mặt trăng và hành vi của nhà đầu tư, đặc biệt là phân tích hành vi của thị trường chứng khoán tại Đài Loan Các mẫu trong điều tra này sử dụng dữ liệu trong giai đoạn từ năm 1 đến năm 200 Ngoài ra, nghiên cứu này thông qua mô hình bất cân xứng General Autoregressive Conditional eteroscedosticity (GARC ) để phân tích và xem xét ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng lên hành vi của nhà đầu tư là tích cực hay tiêu cực trên thị trường chứng khoán Cuối cùng, bằng chứng thực nghiệm được trình bày trong nghiên cứu giải thích làm thế nào mà chu kỳ mặt trăng cho thấy ảnh hưởng đáng kể
và tiêu cực đối với tỷ suất sinh lợi của chứng khoán trong khi những biến động của chứng khoán lại cho thấy ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê Kết quả ngụ ý rằng mặt trăng ảnh hưởng đến tâm trạng và suy nghĩ cá nhân,từ đó dẫn đến thay đổi trên thị trường chứng khoán
Trang 28Trong bài nghiên cứu này, lần đầu tiên mô hình GJR-GARCH(Glosten et al, 1993) được áp dụng để kiểm tra ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi và sự biến đổi của chứng khoán Ngoài ra, điều tra này tiếp tục chia nhỏ chu kỳ mặt trăng thành giai
đoạn trăng non và giai đoạn trăng tròn để mang lại kết quả đầy đủ hơn Các mẫu thời gian chạy từ tháng ai năm 1 đến tháng a năm 200 Các dữ liệu về chỉ số chứng khoán hàng ngày được cung cấp bởi Tạp chí Kinh tế Đài Loan (Tej), và tổng cộng bao gồm
2 quan sát đã được thực hiện Bên cạnh đó, ngày trăng non và trăng tròn được đối chiếu theo lịch Trung Quốc heo đó, các biến giả được đặt vào trong GJR-GARCH (1,1)
để phát hiện các ảnh hưởng của trăng non lên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và các biến động, như sau:
rong đó NM biểu thị hiệu ứng trăng non, NM được xác định bằng 1 khi nó phù hợp với các mẫu đang có trong thời kỳ trăng non và các thời gian khác bằng 0 Bên cạnh
đó, FM biểu thị cho hiệu ứng trăng tròn FM được xác định bằng 1 với các mẫu trong thời
kỳ trăng tròn và những giai đoạn khác bằng 0 rong phương trình (2), phân phối t trung tâm cho phép tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có phần đuôi lớn hơn trong khi vẫn cân xứng (Harvey và Siddique, 1999; Áng và Chen, năm 2002; Wang và Lin, 200 ) Vì vậy, nghiên cứu này giả định rằng tỷ suất sinh lợi của TAIEX biểu lộ một phân phối t không trung tâm
Trang 29Độ trễ của tỷ suất sinh lợi trung bình có điều kiện của mô hình GARCH (1, 1) được chọn bởi giá trị tối thiểu theo Tiêu chí Thông tin Akaike(Akaike Information Criterion) (Akaike, 1973) và tiêu chí của Schwarz Bayesian (Schwarz Bayesian Criterion)(Schwarz, 1978) Các tham số của phương sai-hiêp phương sai trung bình có điều kiện và thời gian khác nhau cùng được xác định bằng cách phương pháp ước lượng likelihood tối đa
3.5 Are investors moonstruck? Further international evidence on lunar phases and stock returns (Stephen P Keef, Mohammed S Khaled- ngày 16 tháng
nă )
Trong bài nghiên cứu “Are investors moonstruck? Lunar phases and stock returns” của Yuan và các cộng sự (200 ) đã xem xét ảnh hưởng của các giai đoạn mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi của các chỉ số chứng khoán ở 48 quốc gia và hai chỉ số toàn cầu Thời gian bắt đầu từ khoảng tháng 1 năm 1 đến tháng 1 năm 1 Ngày kết thúc là tháng 7 năm 2001 Kết quả của họ cho thấy:
(i) Tỷ suất sinh lợi trung bình trong suốt giai đoạn trăng tròn thì thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trăng non (xem thêm Dichev và Janes, 200 );
(Ii) hiệu ứng mặt trăng không bị ảnh hưởng bởi khối lượng giao dịch, sự biến động và lãi suất ngắn hạn Theo lối nghiên cứu tương tự, chính hiệu ứng mặt trăng đã không xuất hiện trong chuỗi thời gian biến động của tỷ suất sinh lợi, khối lượng giao dịch, tỷ suất sinh lợi của trái phiếu và những thay đổi trong lãi suất mà chủ yếu là trên dữ liệu Hoa Kỳ (Dichev và Janes, 2003, trang 27.);
(Iii) hiệu ứng mặt trăng không bị ảnh hưởng bởi bốn bất thường theo lịch(hiệu ứng tháng Giêng,hiệu ứng theo tháng dương lịch, hiệu ứng ngày trong tuần và hiệu ứng trước ngày nghỉ);
(Iv) hiệu ứng mặt trăng thì tương đối mạnh mẽ hơn cho các nền kinh tế mới nổi và tỉ lệ nghịch với quy mô công ty đối với giá cổ phiếu của Hoa Kỳ
Bài nghiên cứu này sử dụng một mô hình thay thế cho mô hình trong bài của Kathy Yuan và các cộng sự năm 200 để kiểm tra lại những ảnh hưởng của trăng non và
Trang 30trăng tròn lên tỷ suất sinh lợi hàng ngày đối với 62 chỉ số chứng khoán quốc tế cho giai đoạn từ năm 1 đến năm 200 Mô hình bảng với các hiệu ứng bất biến kết hợp hiệu ứng ngày ưu tiên (the prior day e ect)và hai hiệu ứng bất thường theo lịch, ví dụ, hiệu ứng ngày thứ Hai (the Monday effect) và hiệu ứng khi tháng thay đổi ( the turn-of-the-month e ect), để đánh giá những biến đổi trong ảnh hưởng của mặt trăng ác giả xây dựng một đồng tham số - dựa trên bình quân tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo đầu người để xem xét kết quả giữa các nước khác nhau như thế nào Hiệu ứng ngày ưu tiên thì mạnh mẽ hơn cho các nước kém phát triển Hiệu ứng trăng non được gia tăng trong tổng thể thì độc lập với GDP rong khi đó lại không có hiệu ứng trăng tròn trong tổng thể Những hiệu ứng mặt trăng này bị yếu đi do ảnh hưởng do các bất thường theo lịch Điều này đạt được bằng cách kiểm tra cách mà:
(i) các hiệu ứng mặt trăng khác nhau một cách có hệ thống giữa các nước Động lực chính cho cách tiếp cận này được tìm thấy trong Keef et al (2009) Nghiên cứu về mặt trăng trước đây đã không kiểm tra sự khác biệt giữa các quốc gia một cách có hệ thống (ii) các hiệu ứng mặt trăng bị ảnh hưởng bởi ba bất thường theo lịch chính;
(iii) tỷ suất sinh lợi vào ngày trăng tròn và trăng non có sự khác biệt với tỷ suất sinh lợi vào những ngày kiểm soát Nghiên cứu trước đó đã kiểm tra Tỷ suất sinh lợi trong giai đoạn trăng tròn khác với tỷ suất sinh lợi trong giai đoạn trăng non như thế nào Điều này được giải thích như là ảnh hưởng trăng tròn đã suy giảm với ngụ ý rằng những ngày trăng non thì không bất thường Những kết quả trước thì bị ảnh hưởng bởi một giải thích cũng
có giá trị khác Đó là, có một ảnh hưởng trăng non được gia tăng trong khi những ngày trăng tròn thì không bất thường Phân tích của tác giả hỗ trợ cho giải thích thay thế này
3.6 “Nghiên cứu ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng đến lợi suất chứng khoán tại
th trư ng Việt Na ” (Th Ại Cao Mai Phương –Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 2(12), tháng 1-2/2012)
Bài viết này mong muốn khai thác thêm một khía cạnh về yếu tố chu kỳ có thể ảnh hưởng đến tâm sinh lý học của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán VN từ đó ảnh
Trang 31hưởng đến quyết định đầu tư của họ Kết quả cho thấy mức độ ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng tác động lên lợi suất chứng khoán tại thị trường VN là khá nhẹ, và việc giới hạn biên độ dao động là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tính hiệu quả của thị trường
Dữ liệu mà bài nghiên cứu này sử dụng là giá đóng cửa của vnindex theo dương lịch từ 1 / /2002 đến 2 /10/2011tương ứng với thời gian từ 0/1/2002 đến 01/10/2011
âm lịch Dữ liệu phân tích được chọn trong giai đoạn trên bởi đây là thời gian Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh bắt đầu chuyển sang giao dịch 5 phiên/ tuần thay vì 3 phiên/tuần như trước đó Với cách chọn này sẽ có thể hạn chế được những ảnh hưởng từ
độ vênh về tính liên tục của dữ liệu qua thời gian
Trong bài viết nà, tác giả sử dụng hai phương pháp phân tích là: Thống kê mô tả
và Phân tích hồi quy (hàm số cosin và sử dụng biến giả) Nhằm khám phá sự khác biệt về lợi nhuận giữa hai thời kỳ trăng tròn và trăng non, tác giả sẽ thiết kế những khung thời gian có độ dài khác nhau ởcả hai phương pháp phân tích Cụ thể, có bốn khung thời gian xác định (N = 0, 1, 3, và N=7) với những độ dài khác nhau, tậptrung vào những ngày trăng non và trăng tròn Để tính lợi suất thị trường Rt trong các mô hình, biến Pt lấy là giá trị của chỉ số vnindex tại thời điểm đóng cửa ở ngày giao dịch thứ t tương ứng và Pt-1 là biến trễ một thời kỳ của vnindex Lợi suất Rt thị trường tại thời điểm t được tính từ Pt theo công thức:
3.7 SAD- Sự b t đầu mạnh mẽ và hồi phục (M.S.Khaled và S.P Keef Kamstrated và cộng sự (2003, 2009, 2012)
M.S.Khaled và S.P Keef Kamstrated và cộng sự (200 , 200 , 2012) đưa ra giả thuyết về rối loạn mùa để giải thích sự biến đổi trong tỷ suất sinh lợi của chứng khoán
Trang 32hàng ngày Tác giả nghiên cứu một biến số mới gọi là sự bắt đầu mạnh mẽ/hồi phục của SAD Nghiên cứu này chỉ ra giá trị của lý thuyết SAD
Kamstra và cộng sự (2003) phát triển một lý thuyết với nội dung sự phổ biến của SAD ảnh hưởng có hệ thống lên chí số giá chứng khoán
Tác giả tập trung vào nghiên cứu biến mới đó là biến sự bắt đầu mạnh mẽ/hồi phục của SAD Biến này được dùng để thay thế 2 biến đầu tiên trong mô hình đầu tiên của họ Tác giả kiểm định 6 kết quả thống kê đối với biến mới Mỗi kết quả hàm ý sâu xa đối với
lý thuyết SAD
Lý thuyết SAD có sức hấp dẫn một cách trực giác Khi mùa thu bắt đầu, số người
bị triệu chứng rối loạn cảm xúc mùa càng gia tăng Mùa thu làm gia tăng sự thất vọng, tạo nên sự gia tăng e ngại rủi ro, từ đó dẫn đến sự sụt giảm trong chỉ số giá chứng khoán Đông chí gây ra sự đảo ngược trong tâm lý của những người bị triệu chứng rối loạn cảm xúc theo mùa Sự thất vọng, và những e ngại rủi ro có liên quan , làm yếu đi và có một phản hồi trong sự gia tăng chỉ số giá chứng khoán
Mô hình gốc dựa trên dự liệu hàng ngày, từ mô hình ước tính hệ số của mô hình Tuy nhiên có những tranh luận về giá trị của mô hình và những đặc tính kỹ thuật cũng như sự giải thích của những hệ số trong mô hình Từ đó Kamstra đề xuất 2 phương pháp đo lường mới của SAD Thêm vào 2 biến Incidencet và Onset/recoveryt Tuy nhiên trong bài nghiên cứu này tác giả chỉ giới thiệu biến Onset/Recoveryt vì nó phù hợp, biến này gần giống với hàm sin chạy từ -0.5 (xuân phân) đến 0.5 (thu phân)
Tác giả k tìm thấy bằng chứng thống kê có ý nghĩa cho việc đưa vào mô hình thêm biến Onset/recoveryt
Xem xét những bất thường ảnh hưởng đến giá trị thị trường, chẳng hạn như hiệu ứng Monday (Keefet 2009) và sự thay đổi của hiệu ứng tháng (mcconnel và Xu 2008) Một nhóm nghiên cứu khác sử dụng những bằng chứng dựa trên tâm trạng để phát triển những lý thuyết có thể kiểm chứng được Những nhà đầu tư nhạy cảm dễ thay đổi tâm trạng sẽ ảnh hưởng đến những quyết định định giá tài sản và do đó gây ra thay đổi trong
Trang 33mức giá (Lee, 2010) Tâm trạng tốt có liên quan đến việc tăng giá chứng khoán Một ví
dụ đối với sự ảnhh hưởng của thời tiết, được đo lường bởi lượng mây bao phủ, đối với giá chứng khoán (Hirshleifer và Shumway, 2003) Bằng chứng ủng hộ cho lý thuyết cho rằng lượng mây bao phủ gây ra tâm trạng bi quan và do đó đưa đến kết quả gia tăng giá tài sản Một ví dụ khác đối với ảnh hưởng của SAD lên hành vi định giá tài sản của nhà đầu tư (Kamstra 200 ) Lý thuyết cho rằng sự sụt giảm số giờ nắng trong mùa thu gây tâm trạng không tốt và sự gia tăng số giờ nắng vào mùa đông tạo tâm trạng tốt cho nhà đầu tư (Kliger và Levy, 200 ) Kết quả này có liên hệ với tỷ suất sinh lợi thấp hơn vào mùa thu và tỷ suất sinh lợi cao hơn vào mùa đông
Biến sadt là số giờ của đêm hơn quá 12 KKL (200 ) đã phát biểu rằng “đo lường
độ dài của đêm mà tác giả sử dụng để mô tả ảnh hưởng của SAD đối với thị trường chứng khoán tác giả có thể xác định sự đo lường SAD của họ” Garret (2005) đã nói “ Những bằng chứng y học đã chỉ ra rằng SAD liên hệ với ánh nắng ban ngày trong chiều hướng độ dài của ngày, phụ thuộc vào từng mùa” Điều này được Kelly và Meschke (2003) ủng hộ
Sự tồn tại của lý thuyết SAD cho rằng hội chứng rối loạn cảm xúc theo mùa ảnh hưởng có hệ thống lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán so sánh giữa mùa thu và mùa đông Một bằng chứng về tâm lý và y học làm nền tảng cho lý thuyết SAD được tìm thấy trong KKL (2003) và Garret (2005) Với lý thuyết cho rằng sự gia tăng độ dài của đêm dẫn đến
sự thất vọng, gây nên tâm lý e ngại rủi ro Khi mùa thu bắt đầu, số người bị triệu chứng rối loạn cảm xúc theo mùa gia tăng, những người này có khuynh hướng tránh xa những tài sản có tính rủi ro và đầu tư vào những tài sản ít rủi ro Khuynh hướng này gia tăng khi mùa thu bắt đầu rõ rệt Ảnh hưởng thực sự của SAD là tỷ suất sinh lợi giảm xuống trong suốt mùa thu Vì sadt đại diện cho phạm vi ảnh hưởng và tính khắc nghiệt của triệu chứng rối loạn cảm xúc theo mùa, nó được kỳ vọng chỉ rỏ mối quan hệ nghịch biến giữa SAD
và tỷ suất sinh lợi vào mùa thu Đông chí, thời điểm có ngày ngắn nhất trong năm và là ngày bắt đầu mùa đông, dẫn đến sự thay đổi trong tâm lý những người bị rối loạn cảm xúc theo mùa Khi độ dài của ngày băt đầu tăng, sự thất vọng gây ra bởi triệu chứng rối loạn theo mùa bắt đầu giảm xuống và nhà bắt đầu quay trở lại đầu tư vào những tài sản rủi ro Hệ quả là, tỷ suất sinh lợi của chứng khoán được mong đợi gia tăng vào mùa đông
Trang 34KKL (2003) từ đó xây dựng lý thuyết “sự thất vọng ảnh hưởng SAD và do đó sự e ngại rủi ro có thể không đối xứng qua ngày đông chí với tác động xấu vào mùa thu và tốt vào mùa đông
Kelly và Meschke (2010) phát triển 3 vấn đề Thứ nhất, những nghiên cứu tâm lý học có lẽ không ủng hộ lý thuyết SAD của KKL(2003) Thứ hai, đối với từng quốc gia,
hệ số ước tính của mô hình SAD không thể hiện mối quan hệ kinh tế với mức độ phổ biến của SAD Nghiên cứu này của tác giả đưa ra một sự ủng hộ khá phù hợp cho 2 vấn
đề chỉ trích này Cuối cùng, họ cho rằng ý nghĩa thống kê của những hệ số ước tính đối với biến giả mùa thu trong mô hình thực nghiệm được kết luận một cách máy móc (Kelly
Bài nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ giữa sự thất vọng theo mùa (do đó làm gia tăng e ngại rủi ro) và tỷ suất sinh lợi thị trường Tác giả nghiên cứu tỷ suất sinh lợi chứng khoán hàng ngày và hàng tháng qua các quốc gia Mỹ, Nhật, Anh, và Thụy Điển ở bán cầu bắc, New Zealand và Úc ở bán cầu Nam Kết quả ở 6 thị trường chỉ ra rằng hiệu ứng SAD được thể hiện hoàn toàn trong mô hình trong đó cho phép rủi ro thị trường biến động và mức giá rủi ro biến động Một kết quả đáng chú ý của mô hình đó là mức giá rủi
ro có thể được giải thích như trung bình có trọng số của hệ số tương quan e ngại rủi ro Điều đó có nghĩa là hiệu ứng SAD có thể là một kết quả của việc thay đổi e ngại rủi ro qua thời gian
Trang 35PHẦN 3: PH ƯƠN G PHÁP N GHIÊ N CỨU
Chúng tôi dựa trên phương pháp nghiên cứu chính từ bài “Are investor moonstruck (200 )” của tác giả Kathy Yuan và các cộng sự
1 Đối với nghiên cứu về tác động của chu kỳ mặt trăng:
1.1 Phương pháp nghiên cứu
Để hiểu hơn về ảnh hưởng của chu kỳ mặt trăng lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán, chúng tôi khảo sát một loạt các hiệu ứng liên quan như hiệu ứng ngày trong tuần, hiệu ứng tháng Giêng, hiệu ứng tháng dương lịch, hiệu ứng ngày lễ
1.1.1 Mặt trăng ảnh hưởng lên tỷ suất sinh lợi trên 2 sàn chứng khoán:
Khi áp dụng tại Việt Nam, chúng tôi sử dụng cách tính tỷ suất sinh lợi theo phương pháp trung bình và tiến hành một loạt các thống kê mô tả để so sánh tỷ suất sinh lợi trung bình của chứng khoán trong giai đoạn trăng tròn và trăng non
Kế tiếp chúng tôi sử dụng một mô hình sin về tác động liên tiếp của mặt trăng để kiểm định cho mẫu hình hiệu ứng mặt trăng Đây là hồi quy được ước lượng cho mối liên hệ giữa chu kỳ mặt trăng và tỷ suất sinh lợi chứng khoán:
Rt= α + β* cos(2∏dt/29.53) + et,
ở đó d là số ngày kể từ ngày trăng tròn cuối cùng và β là hệ số cho biết mối liên hệ giữa
tỷ suất sinh lợi chứng khoán và chu kỳ mặt trăng
Tỷ suất sinh lợi thị trường tại thời điểm t được tính theo công thức :
Rt = (Pt - Pt-1 ) /Pt-1
rong đó Pt là giá trị của chỉ số Vnindex (Hnxindex) tại thời điểm đóng cửa của ngày giao dịch thứ t tương ứng và Pt-1 là biến trễ một thời kỳ của Vnindex (Hnxindex)
Trang 361.1.2 Phân tích OLS:
Một hồi quy OLS của log tỷ suất sinh lợi trung bình theo ngày của 2 sàn chúng khoán cho mỗi giai đoạn mặt trăng được thiết lập với dữ liệu chéo và dữ liệu chuỗi thời gian
Chúng tối ước lượng theo một phương trình hồi quy được cho như sau:
Rt α+ β* Lunardummyt + et
Rt là log lợi nhuận trung bình theo ngày trong một giai đoạn trăng tròn hay trăng non thời điểm t Lunardummy là biến giả cho biết giai đoạn trăng tròn hay trăng non; nó nhận giá trị là 1 với giai đoạn trăng tròn và bằng 0 với giai đoạn trăng non Hệ số của biến này cho biết sự khác biệt giữa log tỷ suất sinh lợi trung bình theo ngày giữa các giai đoạn mặt trăng
1.1.3 Khối ượng giao d ch và độ biến động th trư ng:
Để xác định ảnh hưởng của mặt trăng đã được quan sát có liên quan đến khối lượng giao dịch và biến động lợi nhuận, chúng tôi khảo sát theo một hồi quy cho một danh mục tính theo phương pháp trung binh và dữ liệu theo 2 sàn cho chu kỳ 15 ngày trăng tròn:
Normvolumejt αj + λj*lunardummyt + ejt
Ở đó biến, normvolume, là khối lượng giao dịch theo ngày được chuẩn hoá bởi khối lượng trung bình theo ngày trong tháng và t là chỉ số thời gian cho mỗi ngày Lunardummy là biến giả bằng 1 nếu đó là giai đoạn trăng tròn và bằng 0 nếu đó là giai đoạn trăng non Giai đoạn trăng tròn là ngày trước và sau ngày trăng tròn cộng với ngày trăng tròn; giai đoạn trăng non là phần còn lại của tháng âm lịch là thời chỉ số thời gian cho giai đoạn mặt trăng
Trang 371.1.4 Hiệu ứng mặt trăng và các nhân tố âm l ch có ảnh hưởng:
Phần này xem xét liệu hiệu ứng mặt trăng có thể giải thích bằng các nhân tố khác theo lịch được không
1.1.5 Hiệu ứng tháng Giêng
ai hiệu ứng này có biểu hiện khác nhau do âm lịch và dương lịch không có tương quan với nhau Tuy nhiên, để xem mối quan hệ của hai hiệu ứng, tác giả thêm biến giả mặt trăng vào mô hình hồi qui:
Rt α + β*lunardummyt + δ*Calendardummyt + et
Calendardummy là biến giả bằng 1 với các ngày trong nửa tháng đầu và bằng 0 với trường hợp còn lại
1.2 Mô tả dữ liệu
Trang 38Trong bài nghiên cứu của Kathy Yuan, tác giả đã sử dụng bảng hiệu chỉnh sai số chuẩn (PCSE) tuy nhiên do điều kiện tại Việt Nam nên chúng tôi sẽ không sử dụng phương pháp đó Lý do thứ nhất vì tại Việt Nam chúng tôi chỉ xét đến 2 sàn chứng khoán tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là không đủ để thực hiện phương pháp này hứ hai là do thời gian giao dịch của 2 sàn là không liên tục, trong thời gian dịch lại tồn tại quá nhiều khoảng thời gian trống như những ngày nghỉ, những ngày lễ tết Bên cạnh đó, chúng ta chỉ mới thực hiện giao dich theo 5 phiên trong thời gian gần đây ( kể từ 13/3/2002 tại sàn HOSE và từ 1/6/2006 tại sàn HNX) Vì những lẽ đó chúng tôi sử dụng
dữ liệu chéo để đo lường chỉ số 2 sàn
Với cách lựa chọn này có thể hạn chế được những ảnh hưởng từ độ lệch về tính liên tục của dữ liệu thời gian
Dữ liệu của bài nghiên cứu được lấy từ trang web cophieu68.com và dữ liệu cổ phiếu metastock Trang web này cung cấp các chỉ số chứng khoán tại 2 sàn HNX và HOSE như giá mở cửa, giá đóng cửa, khối lượng giao dịch,… Chúng tôi chia dữ liệu theo 3 giai đoạn : từ 2001 đến 2004, từ 2005 đến 2008, từ 200 đến 2012 để dễ dàng phân tích các biến động theo từng giai đoạn Dữ liệu về ngày âm lịch chúng tôi lấy từ trang web www.lunaroutreach.org
2 Đối với nghiên cứu hiệu ứng rối loạn theo mùa
1.1 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng mô hình hồi quy OLS đơn giản để kiểm định mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi chứng khoán và các yếu tố thời tiết tác động đến tâm lý nhà đầu tư thông qua một
số biến đại diện như lượng mưa, mây bao phủ, nhiệt độ, triệu chứng rối loạn mùa
Chúng tôi thực hiện hồi quy theo phương trình sau:
Trang 39rong đó rt là tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên thị trường
Rt-1, rt-2 : là độ trễ tỷ suất sinh lợi chứng khoán trên thị trường
Dtmonday là biến giả trong thời kỳ t, bằng 1 nếu là ngày giao dịch sau ngày cuối tuần (thường là thứ 2) và bằng 0 nếu ngược lại
Dttax là biến giả, bằng 1 đối với một quốc gia cho trước khi thời gian t rơi vào ngày giao dịch cuối hoặc 5 ngày giao dịch đầu tiên của năm thuế và bằng 0 nếu ngược lại
Dfall là biến giả mùa thu bằng 1 đối với 1 quốc gia cho trước khi t là thời điểm mùa thu và bằng 0 nếu ngược lại
Mỗi yếu tố môi trường được đo lường ở 2 địa điểm khác nhau là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh: phần trăm mây bao phủ (Cloudt), milimet lượng mưa (Precipitationt)
và nhiệt độ oc (Temperaturet)
Định nghĩa H t như thời gian từ hoàng hôn đến bình minh tại một vị trí riêng biệt
Sau đó chúng tôi có thể xác định thước đo SAD của chúng tôi, sad t , tại điểm đó như sau:
Trang 40quốc gia gần xích đạo như Việt Nam, giá trị thay đổi một cách một cách tương ứng gần hơn với 0 trong suốt mùa thu và đông
Số giờ của đêm, H t có thể được xác định phép xấp xỉ chuẩn sử dụng như sau Để tính toán số lượng giờ của đêm tại vĩ độ trước tiên chúng tôi cần độ nghiêng của mặt
rong đó “arcos” là arc cosine