PHÒNG GD&ĐT BÌNH XUYÊN TRƯỜNG TH&THCS TÂN PHONG HỘI THẢO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TUYỂN SINH VÀO 10 Tên chuyên đề “Một số định hướng giúp học sinh học tập tốt phần Mắt; Kính lúp; Phân tích ánh sáng – Vật l[.]
Trang 1PHÒNG GD&ĐT BÌNH XUYÊN TRƯỜNG TH&THCS TÂN PHONG
HỘI THẢO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
TUYỂN SINH VÀO 10
Tên chuyên đề:“Một số định hướng giúp học sinh học tập tốt phần:
Mắt; Kính lúp; Phân tích ánh sáng – Vật lí 9”.
- Đơn vị công tác: Trường TH&THCS Tân Phong – Bình Xuyên
- Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
Bình Xuyên
Trang 2- Tác giả chuyên đề: Trương Thị Lợi
- Chức danh: Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trường TH&THCS Tân Phong
- Tên chuyên đề: Một số định hướng giúp học sinh học tập tốt phần:
Mắt; Kính lúp; Phân tích ánh sáng – Vật lí 9”.
- Đối tượng áp dụng học sinh lớp 9 Dự kiến số tiết dạy 12 tiết
A Thực trạng chất lượng giáo dục bộ môn vật lí 9 của đơn vị năm học 2021-2022:
Qua kết quả khảo sát đầu năm chỉ có 47% học sinh khối 9 đạt từ trung bình trở lên Qua bài thi giữa kì I vừa xong có 61% học sinh khối 9 đạt từ trung bình trở lên Tôi nhận thấy nhiều em không biết cách học, nhận thức chậm, không hiểu bài, dần dần mất gốc trở nên chán học tập, sợ học nên kết quả học tập còn thấp Từ thực
tế đó tôi thấy trách nhiệm của mình cần phải làm gì đó để giúp đỡ các em học tập tố hơn Tôi đã mạnh dạn đưa ra một số những giải pháp giúp học sinh học tâp tốt hơn phần: Mắt – Kính lúp – Phân tích ánh sáng
B Hệ thống các phương pháp cơ bản, đặc trưng để giải các bài tập trong chuyên đề.
Vậy những giải pháp, định hướng giúp học sinh lớp 9 biết giải bài tập Mắt – Kính lúp – Phân tích ánh sáng một các đơn giản và khắc phục được tình trạng giải bài tập mò mẫm, không có định hướng, áp dụng công thức máy móc và thậm chí làm nhưng không hiểu dẫn đến làm sai:
Giải pháp hiệu quả và thực hiện đơn giản và mang tính khả thi mà tôi đã và đang thực hiện trong thời gian qua cụ thể như sau:
- Kiểm tra, đánh giá các kiến thức, kĩ năng theo chuẩn kiến thức kĩ năng đã quy định mà học sinh đã học
- Rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức, phân tích, so sánh, tổng hợp và khái quát hóa các kiến thức đã học
- Củng cố, ôn tập các kiến thức theo chuẩn kiến thức kĩ năng tối thiểu quy định giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần giáo dục
kĩ thuật tổng hợp
- Khai hóa tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học
Trang 3- Giáo dục ý thức, tinh thần tự lập, kiên trì cũng như tinh thần vượt khó trong học tập
C Các bước giải một bài tập vật lí.
Bước 1: Đọc và tìm hiểu đề bài Viết tóm tắt đề bài xem bài cho gì? Cần tìm gì?
- Đọc và tìm hiểu kĩ đề bài, tìm hiểu ý nghĩa của những thuật ngữ, những đại lượng vật lí, để tóm tắt chính xác các đại lượng vật lí bằng kí hiệu, các dữ kiện của
đề bài
- Đổi đơn vị (nếu cần) Đổi các đơn vị trong bài về cùng một hệ đơn vị theo tiêu chuẩn trong hệ SI
Lưu ý:Học sinh thường không để ý và hay quên làm thao tác này.
- Vẽ hình minh họa (nếu cần), mô tả lại tình huống được nêu trong bài tập và lưu ý nếu hiện tượng có nhiều đối tượng tham gia hay có nhiều trường hợp xảy ra
Bước 2: Xác lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm để tìm
phương hướng giải
- Phân tích hiện tượng vật lí
- Phân tích nội dung để làm sáng tỏ bản chất vật lí
- Suy nghĩ để xác lập mối liên hệ của các dữ kiện có liên quan tới công thức nào của các dữ kiện xuất phát và rút ra các dữ kiện liên quan cần tìm để xác định phương hướng giải
Bước 3: Lập kế hoạch giải, thực hiện giải.
- Lập những công thức có liên quan đến các đại lượng cho biết, đại lượng cần tìm
- Suy nghĩ những công thức nào có thể dùng để giải
- Chọn công thức giải
- Chọn cách giải phù hợp
- Tìm ra đại lượng cần tìm sau khi biến đổi và kết hợp các công thức (chưa vội thay số)
- Thay số để tìm ra kết quả cuối cùng (Nếu có)
Lưu ý: Trong quá trình thực hiện bước này, có thể sử dụng và vận dụng linh hoạt,
kết hợp giữa bước 2 với bước 3 với nhau trong quá trình giải (Tùy theo yêu cầu cụ thể của từng bài).
Bước 4: Kiểm tra, đánh giá, biện luận và kết luận.
Trang 4Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại việc giải bài tập (bài toán) vật lý theo một hoặc một số cách như sau:
- Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi của yêu cầu bài tập (Bài toán) chưa
- Đã xét hết các trường hợp theo yêu cầu của bài tập (Bài toán) chưa
- Kết quả tính được và đơn vị của kết quả tính được có phù hợp thực tế không
- Tìm cách giải khác cho bài (Nếu có)
D Hệ thống hóa các kiến thức trọng tâm liên quan.
Hệ thống hóa các kiến thức trọng tâm theo từng dạng tương ứng với từng dạng bài tập về Mắt – Kính lúp – Phân tích ánh sáng cụ thể sau:
MẮT
a) Cấu tạo của mắt:
- Hai bộ phận quan trọng nhất của mắt là thể thủy tinh (là một thấu kính hội
tụ bằng một chất trong suốt và mềm, dễ dàng phồng lên hay dẹt xuống nên tiêu cự của nó có thể thay đổi được) và màng lưới (còn gọi là võng mạc)
b) Điểm cực cận và điểm cực viễn của mắt:
- Điểm xa mắt nhất mà ta có thể nhìn rõ được khi không điều tiết gọi là điểm cực viễn (kí hiệu CV)
- Điểm gần mắt nhất mà ta có thể nhìn rõ được (khi đìều tiết tối đa) gọi là điểm cực cận (kí hiệu CC)
c) Mắt cận thị
- Mắt cận thị là mắt có thể nhìn rõ những vật ở gần, nhưng không nhìn rõ được những vật ở xa
- Để khắc phục tật cận thị người ta phải đeo kính cận thị là thấu kính phân
kì Kính cận thị thích hợp có tiêu điểm F trùng với điểm cực viễn (CV) của mắt
d) Mắt lão
- Mắt lão là mắt có thể nhìn rõ những vật ở xa, nhưng không nhìn rõ được những vật ở gần
- Để khắc phục tật mắt lão, người mắt lão phải đeo kính lão là thấu kính hội tụ
KÍNH LÚP
Trang 5B
A
B/
Hình 266
- Kính lúp là một thấu kính hội tụ có tiêu cự ngắn Người ta dùng kính lúp để quan sát các vật nhỏ
- Số bội giác G = 1,5x G 40x
=> tiêu cự của kính lúp: 0,625cm f 16,67cm
-Cách quan sát một vật nhỏ qua kính lúp, ta phải đặt vật trong khoảng tiêu cự của kính sao Ảnh của vật qua kính lúp là ảnh ảo lớn hơn vật
PHÂN TÍCH ÁNH SÁNG.
- Dưới ánh sáng trắng, vật có màu nào thì có ánh sáng màu đó truyền vào mắt ta (trừ vật màu đen) Ta gọi đó là màu của vật
- Vật màu nào thì tán xạ tốt ánh sáng màu đó và tán xạ kém ánh sáng các màu khác
- Vật màu trắng tán xạ tốt tất cả các ánh sáng màu
- Vật màu đen không có khả năng tán xạ các ánh sáng màu
E Ví dụ minh họa
Bài tập 1 Một người đứng cách cột điện 25m để quan sát thì ảnh của nó hiện lên
trong mắt cao 0,8cm Nếu coi khoảng cách từ thể thủy tinh đến màng lưới của mắt người đó là 2cm Vẽ hình và tính:
a Chiều cao của cột điện
b Tiêu cự của thể thủy tinh lúc đó
Gợi ý.
a Coi mắt tương tự như máy ảnh ta có: Hình 266.
AB
b Tiêu cự của thể thủy tinh lúc đó:
Từ hệ quả bài IV.29 ta dùng công thức
+) Sai lầm học sinh hay mắc phải khi làm bài 1 là không biết vận dụng các
bước giải bài tập để làm bài tập
Trang 6+) Ở bài 1 này sai lầm nghiêm trọng của học sinh không biết dựng ảnh của
một vật qua mắt
+) Nguyên nhân dẫn đến sai lầm là do học sinh không nắm được bản chất lí thuyết, không nhớ được cách dựng ảnh của một vật tạo bởi thể thủy tinh
+) Biện pháp để khắc phục sai lầm trên là giáo viên giúp cho học sinh học thuộc lý thuyết đã học, nhớ được cách dựng ảnh của một vật tạo bởi thấu kính hội
tụ từ đó suy ra cách dựng ảnh của một vật tạo bởi thể thủy tinh của mắt Đặc biệt giúp các em học sinh nhớ được bước giải bài tập vật lí để trình bày có định hướng Tránh mò mẫm và sai lầm khi trình bày bài giải
Bài tập 2 Một người mắt bình thường, có khoảng cách từ thể thủy tinh đến màng
lưới mắt 2cm, không đổi Điểm cực cận của mắt là 25cm Hỏi khi mắt nhìn một vật
ở tại điểm cực cận đến khi nhìn một vật ở xa thì tiêu cự của thể thủy tinh tăng hay giảm, trong khoảng nào?
Khi nhìn một vật ở xa thì mắt không phải điều tiết và tiêu điểm của thể thủy tinh nằm đúng trên màng lưới, lúc đó tiêu cự của thể thủy tinh là f1=2cm
- Khi nhìn một vật ở cách mắt 25cm, ảnh của vật cũng hiện rõ trên màng lưới
Từ hệ quả bài IV.29 ta dùng công thức để tính tiêu cự của thể thủy tinh:
Vậy tiêu cự của thể thủy tinh tăng trong phạm vi từ 1,85cm đến 2cm
ĐS: f tăng từ 1,85cm đến 2cm.
+) Sai lầm học sinh hay mắc phải khi làm bài 2 là không biết vận dụng các
bước giải bài tập để làm bài tập
+) Ở bài 2 này sai lầm nghiêm trọng của học sinh không biết dựng ảnh của
một vật tạo bởi thấu kính hội tụ, từ đó không thể dựng được ảnh của một vật tạo bởi thể thủy tinh trong con mắt
+) Nguyên nhân dẫn đến sai lầm là do học sinh không nắm được bản chất lí thuyết, không nhớ được cách dựng ảnh của một vật tạo bởi thể thủy tinh
+) Biện pháp để khắc phục sai lầm trên là giáo viên giúp cho học sinh học thuộc lý thuyết đã học, nhớ được cách dựng ảnh của một vật tạo bởi thấu kính hội
Trang 7tụ từ đó suy ra cách dựng ảnh của một vật tạo bởi thể thủy tinh của mắt Đặc biệt giúp các em học sinh nhớ được bước giải bài tập vật lí để trình bày có định hướng Tránh mò mẫm và sai lầm khi trình bày bài giải
MỘT SỐ VÍ DỤ KHÁC
C7-SGK: Chiếu chùm sáng trắng qua tấm lọc màu đỏ ta được ánh sáng đỏ.
Ta có thể coi như tấm lọc màu đỏ có tác dụng tách chùm sáng đỏ khỏi chùm sáng trắng Nếu thay tấm lọc màu đỏ bằng tấm lọc màu xanh thì ta lại được ánh sáng xanh Cứ như thế cho các tấm lọc màu khác, ta sẽ biết được trong chùm sáng trắng
có những ánh sáng nào Đây cũng là cách phân tích ánh sáng trắng-Tuy nhiên cách này mất thời gian
C8-SGK: Phần nước nằm giữa mặt gương và mặt nước tạo thành một lăng
kính bằng nước Xét một dải sáng trắng hẹp phát ra từ mép của vạch đen trên trán, chiếu đến mặt nước Dải sáng này khúc xạ vào nước, phản xạ trên gương, trở lại mặt nước, lại khúc xạ ra ngoài không khí và đi vào mắt người quan sát Dải sáng này coi như đi qua lăng kính nước nói trên, nên nó bị phân tích ra thành nhiều dải sáng màu sắc như cầu vồng Do đó khi nhìn vào phần gương ở trong nước ta sẽ không thấy vạch đen mà thấy một dải nhiều màu
V Kết quả triển khai chuyên đề tại đơn vị nhà trường (Nếu đã triển khai).
Kết quả Kết quả thi vào 10:
đạt 5,7 Xếp thứ 71/145 trường trong toàn tỉnh
Kết quả thi vào 10:
đạt 7,86 Xếp thứ 43/145 trường trong toàn tỉnh
Trang 8KẾT LUẬN
Trong quá trình giảng dạy môn vật lí 9 tôi thấy sự cần thiết ở giáo viên phải
có sự tư duy linh hoạt từ cách thức tổ chức bài học đến việc tạo cảm hứng giúp các
em học sinh có được sự đam mê học tập trở lại Việc hướng dẫn học sinh nhớ kĩ kiến thức trọng tâm, phương pháp học tập bộ môn và vận dụng kiến thức để làm được bài tập một cách đơn giản, dễ dàng, hiệu quả là điều quan trọng
Trong quá trình thể hiện nội dung chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các đồng nghiệp để chuyên
đề này được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cám ơn!
Tân phong, ngày 18 tháng 11 năm 2021
Người viết chuyên đề
Trương Thị Lợi