Tìm hiểu các khoản mục đầu tư chứng khoán và đầu tư của NHTM. Các quy định liên quan đến khoản mục này ở Việt Nam. So sánh với NHTM Mỹ và châu Âu trong việc quản lý khoản mục này
Trang 1ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu các khoản mục đầu tư chứng khoán và đầu tư của NHTM Các quy định liên quan đến khoản mục này ở Việt Nam So sánh với NHTM Mỹ và châu Âu trong việc quản lý khoản mục này
Bài thuyết trình nhóm 12
Trang 4Phần I: Lý thuyết chung
Trang 51 Tại sao các ngân hàng nắm giữ chứng khoán và thực hiện hoạt động
đầu tư:
• Đáp ứng nguyên tắc trong quản lý TS có: đa dạng hóa tài sản có để giảm thiểu rủi ro.Khoản mục cho vay chiểm 1 tỷ trọng lớ n trong TS của ngân hàng, tuy nhiên đây là 1khoản mục có rủi ro cao và không dễ dàng bán trước ngày đáo hạn
• Tăng tính thanh khoản cho ngân hàng: các Ck có tính lỏng cao ( trái phiếu chính phủ,tín phiếu kho bạc…) dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết, đáp ứng nhu cầuthanh toán giảm chi phí cho ngân hàng Trong khi đó hoạt động cho vay của ngânhàng có tính thanh khoản kém chỉ thu được gốc khi đáo hạn
• Tìm kiếm lợi nhuận: các ngân hàng thu được nguồn lợi nhuận đáng kể khi nắm giữ
Ck từ lợi tức được chi trả cho ck( cổ phiế u, trái phiếu ), hoạt động mua bán chênhlệch giá( mua thấp- bán cao)
• Giảm nghĩa vụ nộp thuế đối với ngân hàng ( ở 1 số nước) có các CK chịu thuế và có
CK không Hoặc như tại Mỹ: trái tức của trái phiếu chính phủ có thể được trả bằngcách giảm trừ khoản thuế phải nộp
Trang 62 Phân loại
2.1 Phân loại chứng khoán đầu tư
• Là chứng khoán nợ, chứng khoán vốn hoặc chứng khoán khác;
• TCTD mua với chiến lược kinh doanh, mua để bán trong thời gian không quá 1 năm nhằm hưởng chênh lệch giá;
• TCTD không có mục đích kiểm soát doanh nghiệp.
• Là chứng khoán nợ, chứng khoán vốn hoặc chứng khoán khác;
• Có số lượng đầu tư vào một doanh nghiệp dưới 20% quyền biểu quyết;
• TCTD đầu tư với mục tiêu dài hạn và có thể bán khi có lợi;
• TCTD mua không có mục đích kiểm soát (2) doanh nghiệp;
• TCTD không là cổ đông sáng lập và không là đối tác chiến lược;
• Các loại chứng khoán được chỉ định vào nhóm sẵn sàng để bán (TCTD không phân loại vào chứng khoán kinh doanh và chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn);
• Được tự do mua bán trên thị trường (cả trên thị trường chính thức và phi
Trang 72 Phân loại
• Là chứng khoán nợ;
• TCTD mua hẳn với mục đích đầu tư để hưởng lãi suất;
• TCTD chắc chắn về khả năng giữ đến ngày đáo hạn của chứng khoán
• Bao gồm chứng khoán vốn, các khoản góp vốn đầu tư dài hạn
khác (ngoài các khoản góp vốn, đầu tư vào công ty liên doanh,
liên kết và công ty con);
• TCTD đầu tư với mục đích hưởng lợi trong các trường hợp sau: (i) TCTD là cổ đông sáng lập; hoặc (ii) TCTD là đối tác chiến lược; hoặc (iii) Có khả năng chi phối nhất định vào quá trình lập, quyết định các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp thông qua văn bản thỏa thuận cử nhân sự tham gia Hội đồng quản trị/Ban điều hành;
• Thời hạn nắm giữ, thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm
Trang 82 Phân loại
2.2 Các khoản mục đâu tư khác
Ngoài khoản mục chứng khoán thì ngân hàng chủ yếu đầu tư góp vốn vào công ty con, công ty liên doanh liên kết
Trang 93.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
Bao gồm
• Suất thu lợi kỳ vọng
• Khả năng chịu thuế.
• Rủi ro lãi suất
• Rủi ro tín dụng.
• Rủi ro thanh khoản.
• Rủi ro thu hồi.
• Rủi ro lạm phát.
• Rủi ro kinh doanh.
• Rủi ro đảm bảo.
Trang 103.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.1 Lợi suất kỳ vọng
Để chọn chứng khoán đầu tư, trước hết các ngân hàng phải xác định suất thu lợitoàn bộ dự kiến tạo ra từ mỗi chứng khoán, bao gồm các khoản tiền lãi do ngườiphát hành cam kết trả cho chứng khoán đó và khả năng có được thu nhập hoặc bị lỗ
về vốn Điều này đòi hỏi người quản lý đầu tư của ngân hàng cần tính toán lợi suấtđến đáo hạn (YTM: Yie ld to maturity) nếu chứng khoán được giữ cho đến lúc đáohạn hoặc lợi suất trong khoảng thời gian hoạch đị nh nắm giữ (HPY: planned holdingperiod yield) nằm giữa thời điểm mua và thời điểm bán chứng khoán Công thức đểtính YTM như sau: Ở đây YTM là lợi suất lúc đáo hạn và n là số thời đoạn trong đóchứng khoán sẽ tạo ra luồng tiền dự kiế n Bởi vì giá trị thị trườ ng và luồng tiền dựkiến là những đại lượng đã biết trước, đẳng thức trên có thể giải để tìm ẩn số còn lại
đó là YTM
Tuy nhiên, các ngân hàng thường không nắm giữ chứng khoán của họ đến lúc đáohạn Một số chứng khoán cần phải được bán sớm để trang trải nhu cầu vay mớihoặc rút tiền gửi Để xử lý tình huống này, các ngân hàng cần phải tính lợi suất trongthời gian nắm giữ chứng khoán (HPY) ngân hàng có thể thu được HPY thực chất làsuất thu lợi làm cân bằng giá mua của một chứng khoán với chuỗi thu nhập kỳ vọng
từ chứng khoán đó đến khi được bán tới người đầu tư khác
Trang 113.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.2 Khả năng chịu thuế
Phần lớn thu nhập lãi và vốn từ đầu tư chứng khoán của ngân hàng là phải chịuthuế như mọi thu nhập kinh doanh thông thường khác Và do khả năng chịu thuếtương đối cao, các ngân hàng quan tâm đến suất sinh lợi sau thuế trên thu nhập củacác khoản vay và đầu tư chứng khoán nhiều hơ n là suất thu lợi trước thuế củachúng Vì thế, công thức sau đây thường được các ngân hàng sử dụng: Nếu nhữngnhân tố khác được giữ không đổi, ngân hàng sẽ so sánh kết quả suất lợi nhuận sauthuế của mỗi hình thức và công cụ đầu tư với nhau để từ đó chọn hình thức và công
cụ đầu tư nào là tối ưu về mặt thuế đối với ngân hàng (tỷ suất lợi nhuận sau thuế caonhất)
Thông qua những giả thuyết đã cho và kết quả tính toán ở trên, có thể thấy rằng đầu
tư vào trái phiếu là hấp dẫn hơ n cả Tuy nhiên, cần có thêm những xem xét khác đểđưa ra quyết định lựa chọn đầu tư cuối cùng, chẳng hạn như để thu hút và giữ cáckhoản tiền gửi, ngân hàng cần phải thoả mãn nhu cầu vốn cho các khách hàng vay
cũ và mới hội đủ tiêu chuẩn tín dụng, hoặc những thay đổi gần đây trong các luậtthuế mà ảnh hưở ng đến lợi suất ròng của các chứng khoán đô thị sau khi đã khấutrừ tất cả chi phí
Trang 123.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
Ví dụ: giả sử một ngân hàng đang xem xét 3 hình thức đầu tư sau đây:
- Mua trái phiếu công ty chất lượng Aaa có lợi suất trung bình đến lúc đáo hạn là 9%,
tỷ lệ thuế thu nhập 34%
- Cho vay kinh doanh có chất lượng tín dụng cao với lãi suất cơ bản 10% và tỷ lệ thuế
- Mua trái phiếu đô thị được sắp hạng tín dụng Aaa có lợi suất sau thuế 7% đến lúcđáo hạn
Sử dụng công thức trên, ngân hàng so sánh lợi suất sau thuế của 3 phương án đầu tưtheo tính toán dưới đây:
+ Chứng khoán công ty hạng Aaa: 9,0% x (1-0,34) = 5,54%
+ Đầu tư tín dụng chát lượng cao: 10% x (1-0,34) = 6,60%
+ Trái phiếu đô thị hạng Aaa: 7,0% x (1-0,34) = 7,00%
Trang 133.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.3 Rủi ro lãi suất:
Lãi suất biến động tạo ra rủi ro cho đầu tư của các ngân hàng Lãi suất tăng lên làmgiảm thấp giá thị trường của các chứng khoán nợ phát hành trước đó, và mức độthiệt hại tài chính tỷ lệ thuận với kỳ hạn của mỗi chứng khoán Hơ n nữa, các thời kỳgia tăng lãi suất còn được ghi nhận bởi nhu cầu tín dụng leo thang và bởi vì ưu tiêntrước hết của các ngân hàng là cấp tín dụng, nên các khoản đầu tư vào chứngkhoán buộc phải thanh lý để tạo ra nguồn ngân quỹ cho vay Phải bán chứng khoántrong điều kiện giá cả bất lợi như vậy tất nhiên thường dẫn đến tổn thất vốn đáng kểcho các ngân hàng Để phòng ngừa rủi ro lãi suất trong đầu tư chứng khoán, cónhiều công cụ đã được sử dụng trong những năm gần đây, chúng bao gồm: các hợpđồng tài chính tương lai, quyền chọn mua và bán, hoán đổi lãi suất, quản trị độ lệch
Trang 143.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.4 Rủi ro tín dụng/khả năng vỡ nợ:
Đây là rủi ro mà người phát hành chứng khoán không thể hoàn trả được vốn gốc vàtiền lãi đối với các trái phiếu và giấy nợ đã phát hành Do tín dụng thể hiệ n trên nhiề uloại chứng khoán khác nhau, nhất là những chứng khoán mà người phát hành là cáccông ty tư nhân và chính quyền địa phương, nên lĩnh vực đầu tư này được qui địnhkhá chặt chẽ, nhằm hạn chế việc dự trữ những chứng khoán mang tính rủi ro caotrong các ngân hàng Nói chung các ngân hàng chỉ được phép mua các chứng khoán
có rủi ro thấp để ngăn ngừa ngân hàng tiếp nhận rủi ro quá mức và bảo vệ quyền lợicho người gửi tiền
Ngoài ra, các ngân hàng thươ ng mại chỉ được phép bao tiêu các trái phiếu đô thịchính phủ và có nghĩa vụ bao quát, mặc dù một số ngân hàng được bao tiêu nhữngchứng khoán do công ty tư nhân phát hành và được ngân hàng trung ương chấpthuận
Trang 153.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.5 Rủi ro lạm phát
Rủi ro lạm phát là rủi ro về khả năng tăng giá phổ biến của các loại hàng hoá và dịch
vụ và dẫn đến hậu quả làm giảm giá trị của các tài sản tài chính Các ngân hàngthườ ng xuyên cảnh giác với khả năng sức mua của thu nhập lãi và vốn gốc thu lại từđầu tư chứng khoán và cho vay bị suy giảm do tác động của lạm phát, mặc dù ngàynay vấn đề này ít nghiêm trọng hơn so với những thập niên trước đây Lạm phátcũng có thể làm hao mòn giá trị đầu tư của các cổ đông tại một ngân hàng Bằngcách đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn và có lãi suất thả nổi, các ngân hàng cóthể giảm thiểu tác động bất lợi của lạm phát đối với tài sản đầu tư và đem lại chongân hàng một sự năng động lớn hơn trong việc đáp ứng với mọi sức ép lạm phát
Trang 163.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.6 Rủi ro kinh doanh
Các ngân hàng thuộc mọi qui mô đều phải đối mặt với một loại rủi ro gắn liền với suythoái kinh tế của khu vực thị trường họ đang phục vụ Những xu hướ ng tiêu cực nàythườ ng được gọi là rủi ro kinh doanh Điều này thường được biểu hiện bởi sự giảmsút doanh số bán hàng, gia tăng các vụ phá sản và tình trạng sa thải nhân công hàngloạt của nhiều doanh nghiệp trong khu vực Những trạng thái tiêu cực này tất yếuảnh hưở ng nhanh chóng đến danh mục cho vay của ngân hàng Ở đây, nhiều khoảnvay không có khả năng hoàn trả sẽ xuất hiện một khi người vay đã phải tận lực đểtạo ra đủ lưu lượng tiền để hoàn trả nợ cho ngân hàng
Bởi vì rủi ro kinh doanh luôn hiệ n hữu, nhiều ngân hàng dựa vào danh mục đầu tưchứng khoán của họ để bù trừ cho tác động của rủi ro kinh tế đối với danh mục chovay Điều này thườ ng có nghĩa là, ngân hàng sẽ mua nhiều chứng khoán của nhiề udoanh nghiệp nằm ngoài khu vực thị trườ ng cho vay hiện thời của ngân hàng nhằmmục đích cân bằng với rủi ro tác động lên trên các khoản vay
Trang 173.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.7 Rủi ro thanh khoản
Theo định nghĩa, chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thịtrường cho việc bán lại một cách dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian, vàkhả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thuỷ của ngân hàng (rủi rođối với vốn gốc là thấp) Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng dứt khoátphải xem xét đến khả năng cần phải bán lại trước khi chúng đáo hạn để tái tạo nguồnvốn đầu tư ban đầu Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là chứng khoán khó tìm đượcngười mua hoặc phải bán mất giá, ngân hàng sẽ gánh chịu những tổn thất tài chínhlớn trong những trường hợp như vậy Và điều này được gọi là rủi ro thanh khoảntrong đầu tư chứng khoán của ngân hàng
Trang 183.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.8 Rủi ro thu hồi trước của người phát hành
Phần lớn các công ty và chính phủ có phát hành chứng khoán đầu tư thường giữ lạiquyền mua lại các chứng khoán do mình phát hành trước lúc chúng đáo hạn vàthanh toán dứt điểm đối với chúng Do vậy, sự thu hồi như thế thường xảy ra khi lãisuất thị trường giảm sút (và người phát hành có thể phát hành các chứng khoán mới
có lãi suất thấp hơn), ngân hàng đang đầu tư vào chứng khoán có tính chất nói trên
sẽ phải tiếp nhận rủi ro mất mát lợi nhuận bởi vì họ phải tái đầu tư nguồn vốn vừamới thu hồi ở các mức lãi suất thấp hơn hiện thời Nói chung, các ngân hàng cốgắng để tối thiể u hóa rủi ro thu hồi bằng cách mua các chứng khoán được công bố
có thời gian thu hồi tương đối dài (vì thế việc thu hồi không thể xảy ra trong một vàinăm ngân hàng nắm giữ) hoặc đơn giản hơ n cả là ngân hàng tránh đầu tư vàonhững loại chứng khoán có đặc điểm như thế
Trang 193.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
3.9 Các yêu cầu đảm bảo:
Các ngân hàng sẽ không được chính phủ cho phép thực hiệ n nghiệp vụ huy độngtiền gửi trừ phi họ bố trí ký quỹ thoả đáng để bảo vệ an toàn tiền gửi của công chúng
Ví dụ tại Mỹ, 100.000 USD tiền gửi đầu tiên sẽ được cơ quan bảo hiểm tiền gửi Liênbang trang trải, phần còn lại phải được hậu thuẫn bởi việc nắm giữ các chứng khoánchính phủ được đị nh giá theo giá trị danh nghĩa của bản thân mỗi ngân hàng Một sốtrái phiếu đô thị (ít nhất có chất lượng tín dụng hạng A) cũng có thể được dùng đểđảm bảo cho các khoản tiền gửi của chính phủ Liên bang tại các ngân hàng, nhưngcác chứng khoán này phải được định giá theo giá trị chiết khấu còn lại (thường từkhoản 80% đến 90% giá trị danh nghĩa của chúng nhằm mục đích đem lại cho nhữngngười gửi tiền chính phủ một vùng đệm an toàn bổ sung Có một sự khác biệt rộngrãi về yêu cầu bảo đảm tiền gửi từ bang này sang bang khác, mặc dù phần lớn cácbang cho phép các ngân hàng sử dụng kết hợp các chứng khoán đô thị và Liên bang
để đáp ứng yêu cầu bảo đảm tiền gửi thuộc chính quyền các cấp và phải được đặttại một tổ chức uỷ thác mà không thuộc nhóm liên kết với ngân hàng
Yêu cầu bảo đảm cũng đồng thời áp dụng cho nguồn vốn khác của ngân hàng
Trang 203.Các nhân tố tác động đến CK- ĐT
Ví dụ:
Khi một ngân hàng vay tiền theo hình thức chiết khấu tại ngân hàng trung ương, họ phải thế chấp các chứng khoán của chính phủ phát hành hoặc những tài sản thế chấp đáng giá Nếu ngân hàng sử dụng các hợp đồng mua lại (RP: repurchase agreements) để tăng vốn, họ phải cầm cố một số chứng khoán (thường là chứng khoán
do kho bạc hoặc do các cơ quan thuộc chính phủ phát hành) như là vật đảm bảo để có được nguồn vốn ở lãi suất thấp.
Trang 21Phần II: Khoản mục chứng khoán và đầu
tư của các NHTM Việt Nam
Trang 221 Các quy định NN về đầu tư của NHTM
Theo luật các tổ chức tín dụng 2010
Về góp vốn, mua cổ phần của NHTM (Điều 103):
NHTM chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần vào cácdoanh nghiệp khác Để hoạt động trong các lĩnh vực chứng khoán (gồm bảo lãnhphát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹđầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiế u),cho thuê tài chính và bảo hiểm, NHTM phải thành lập công ty con, công ty liên kết.Đối với các lĩnh vực quản lý tài sản bảo đảm, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, baothanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ hỗ trợ thanh toán,NHTM có thể lựa chọn trực tiếp thực hiện các hoạt động này hoặc gián tiếp thực hiệ nthông qua thành lập công ty con, công ty liên kết Tuy nhiên, việc góp vốn, mua cổphần của NHTM phải tuân thủ các giới hạn quy định tại Điều 129 của Luật Việc mua,nắm giữ cổ phiếu của NHTM, công ty con của NHTM trong các TCTD khác đượcthực hiện theo quy định (về giới hạn và điều kiện) của NHNN
Trang 231 Các quy định NN về đầu tư của NHTM
Về giới hạn góp vốn, mua cổ phần (Điều 129)
Các giới hạn về góp vốn, mua cổ phần được quy định chặt chẽ hơn và thực tế đượcxây dựng trên cơ sở các quy định của các văn bản dưới luật hiện hành (Quyết đị nh
457, hiện nay đã được thay bằng thông tư 13) Trong đó, tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua
cổ phần của các TCTD được tính trên cơ sở hợp nhất (bao gồm cả phần góp vốn,mua cổ phần của công ty con, công ty liên kết theo tỷ lệ sở hữu tương ứng) Theomức độ rủi ro đối với hệ thống, Luật 2010 quy định tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua cổphần của công ty tài chính cao hơn so với NHTM Đồng thời Luật cũng có quy đị nhcấm TCTD góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, TCTD khác là cổ đông,
thành viên góp vốn của chính TCTD (cấm sở hữu chéo).