Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa VnDOc com VnDoc Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí Đề bài Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa Hướng dẫn Bài thơ Hạ[.]
Trang 1VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Đề bài: Phân tích bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa
Hướng dẫn
Bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa viết năm 1969 khi nhà thơ còn là một cậu bé 11 tuổi Thế mà bài thơ lại có tầm suy nghĩ của người lớn: chín chắn, chững chạc làm sao
Tứ thơ của bài thơ được phát triển bắt đầu từ ý khái quát: hạt gạo được kết tinh
từ những hương vị ngọt ngào của quê hương Đó là hương đồng gió nội, là bài
ca lao động, là lời ru của mẹ, là vị phù sa màu mỡ của đất đai quê nhà Những hạt gạo cũng còn được làm ra từ trong khó khăn của thiên tai, từ trong khói lửa của chiến tranh Hạt gạo không chỉ là sản phẩm vật chất mà còn là sản phẩm tinh thần vô giá:
"Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay"
Các khổ 2 và 3 của bài thơ tập trung thể hiện những "đắng cay"mới có được hạt gạo dẻo thơm Trong một bài ca dao ông cha đã từng nhắc nhở: "Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo ngon một hạt đắng cay muôn phần" Vị đắng cay mà Trần Đăng Khoa muốn nói đến là nỗi vất vả trong khắc phục thiên tai để sản xuất của người nông dân Những bão lụt, hạn hán dồn dập… Điệp từ "có" kết hợp với số
từ "bảy", "ba", "sáu", nhà thơ đã thể hiện được sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên:
"Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy"
Bài thơ ca ngợi ý chí vượt khó của mẹ, của bà con nông dân trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên
Những năm 60, 70, giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc Chúng hòng phá hoại những thành quả xây dựng ta, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam Những trai làng phải lên đường đánh giặc:
"Những năm bom Mỹ Trút lên mái nhà Những năm khẩu súng Theo người đi xa"
Ở quê nhà là các bà, các chị Họ vừa phải sản xuất vừa phải chiến đấu để bảo
vệ thành quả lao động của mình, bảo vệ quê hương bình yên với đồng lúa thẳng
Trang 2VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
cánh cò bay Ngày ấy, hình ảnh các cô gái súng quàng vai, lưng đeo băng đạn
cả khi cày khi cấy trở thành một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam Đó là
sự kết hợp đẹp giữa chiến đấu và sản xuất:
"Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông"
Những năm tháng gian khổ ấy, các em thiếu nhi cũng muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước:
"Hạt gạo làng ta
Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quết đất"
Các em tham gia một cách tự giác, chăm chỉ Sự chăm chỉ ấy được bài thơ thể qua các từ: sớm, trưa, chiều Sự đối lập giữa sức vóc bé nhỏ với công việc người lớn mà các em tham gia được tác giả khắc họa một cách khá ngộ nghĩnh
và xúc động
Khổ cuối, tác giả nâng giá trị của hạt gạo thành: "Hạt vàng làng ta" Hạt gạo quý như hạt vàng Điệp khúc "Hạt gạo làng ta" ở mỗi khổ thơ thể hiện được sự trân trọng tự hào của nhà thơ đối với quê hương Ta có thể nhận ra những"hạt vàng" lấp lánh trong bài thơ