Untitled SỔ TAY TẬP HUẤN KỸ THUẬT QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ MÚ LAI (♂ Epinphelus lanceolatus x ♀ E fuscoguttatus) Biên soạn TS Trương Quốc Thái Đơn vị Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III Khánh H[.]
Trang 1SỔ TAY TẬP HUẤN KỸ THUẬT QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIỐNG CÁ MÚ LAI
(♂ Epinphelus lanceolatus x ♀ E fuscoguttatus)
Biên soạn: TS Trương Quốc Thái
Đơn vị: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III
KHÁNH HÒA
-o0o - NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN III
Trang 3-o0o -GIỚI THIỆU
Nghề nuôi thương phẩm cá mú đã phát triển từ rất lâu, phổ biến nhất ở khu vực châu Á, nơi tập trung nhiều thị trường tiêu thụ cá mú lớn như: Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản,… Vì vậy, nhu cầu cá mú giống nhằm cung cấp cho các thị trường nuôi cá mú thương phẩm ở các khu vực này là rất cao Cá giống được cung cấp từ hai nguồn chủ yếu: bắt từ tự nhiên và sản xuất giống nhân tạo Tuy nhiên, nguồn cá giống khai khác từ tự nhiên đã có xu hướng giảm dần trong thời gian gần đây do việc khai thác quá mức, trong khi đó nguồn cá mú giống từ sản xuất nhân tạo còn chưa ổn định về số lượng và chất lượng do công nghệ sản xuất giống của một
số nước trong khu vực châu Á chưa đạt được độ ổn định cao Công nghệ sản xuất giống cá mú nhân tạo đã được nghiên cứu và phát triển từ thập niên 90, tập trung nhiều nhất là nghiên cứu về sản xuất giống, dinh dưỡng và nâng cao tỷ lệ sống khi ương nuôi ấu trùng Hiện nay, chỉ có một vài có công nghệ sản xuất giống tương đối tốt là Đài Loan, Trung Quốc, …
Cá mú lai (hay còn gọi là cá mú trân châu) là một loài mới, được lai tạo gần
đây, lai giữa cá mú cọp cái và cá mú nghệ đực (♂ Epinphelus lanceolatus x ♀ E
fuscoguttatus) Đây là loài có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, có tiềm năng đang
được phát triển nuôi nhiều tại một số nước như: Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Hồng Kông, Trung Quốc và Việt Nam Cá mú lai được sản
xuất ra bằng cách thụ tinh nhân tạo giữa trứng cá mú cọp cái (♀ E fuscoguttatus) với tinh của cá mú nghệ đực (♂ E lanceolatus) Cơ sở khoa học của việc sản xuất giống
cá mú lai là khả năng thừa kế và cải thiện về đặc điểm di truyền của thế hệ con lai so với bố mẹ Bên cạnh, một số ưu điểm như khả năng sống rộng muối, phổ thức ăn rộng, nuôi được cả lồng bè và ao đất, cá mú lai còn có những đặc tính nổi trội hơn do thừa hưởng từ bố mẹ so với một số loài cá mú khác như: (i) tốc độ tăng trưởng nhanh, (ii) chất lượng thịt thơm ngon, (iii) khả năng kháng bệnh cao, (iv) khả năng chống chịu tốt với sự thay đổi của điều kiện môi trường Ở Việt Nam, nghề nuôi thương phẩm cá mú lai đã và đang phát triển nhanh trong một vài năm trở lại đây Nguồn giống cá mú lai được cung cấp phục vụ cho nuôi thương phẩm chủ yếu từ hai nguồn chính là nhập khẩu từ nước ngoài (Đài Loan, Trung Quốc, Indonesia,…) và sản xuất trong nước Mặc dù, sản xuất giống cá mú lai trong nước đã thành công, tuy nhiên tỷ lệ sống chưa cao, cộng với nguồn cá bố mẹ ít nên số lượng trứng và cá giống được sản xuất ra hàng năm không đáp ứng đủ nhu cầu trong nước, nên nguồn giống cá mú lai vẫn phụ thuộc vào việc nhập giống từ nước ngoài Tuy nhiên, việc nhập giống cá mú lai từ nước ngoài đang đối diện với một số vấn đề như: chất lượng
và số lượng con giống không ổn định, giá cao, cá thường bị yếu do vận chuyển xa và thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng tới quá trình nuôi thương phẩm, ảnh hưởng tới sự phát triển ổn định nghề nuôi cá mú lai trong nước
Trang 4I XUẤT XỨ QUY TRÌNH
Sổ tay kỹ thuật là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học tỉnh Khánh Hòa:
“Nghiên cứu quy trình sản xuất giống cá mú lai giữa cá mú cọp cái và cá mú nghệ
đực (♀ Epinephelus fuscoguttatus x ♂ E lanceolatus) tại Khánh Hòa” - Mã số:
ĐT-2017-40502-ĐL5 - Đơn vị chủ trì: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ÁP DỤNG
II.1 Đối tượng áp dụng
Sổ tay kỹ thuật là tài liệu hướng dẫn về quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá
mú lai (bao gồm: trình tự, nội dung và yêu cầu kỹ thuật) áp dụng cho tất cả các cơ sở sản xuất giống cá biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam
Hình 1: Cá mú lai (♀ Epinephelus fuscoguttatus x ♂ E lanceolatus)
II.2 Phạm vi áp dụng
Tài liệu này được áp dụng cho tất cả các cơ sở sản xuất giống cá biển trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh ven biển miền Trung đáp ứng yêu cầu về quy định điều kiện an toàn thực phẩm, an toàn sinh học và môi trường theo QCVN 02-15:2009/BNNPTNT và quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước biển theo QCVN10-MT:2015/BTNMT
Các số liệu về công trình nuôi trình bày trong sổ tay này phù hợp cho quy mô sản xuất khoảng 150.000 – 200.000 con/năm, cỡ giống 4 – 5 cm
Trang 5III NỘI DUNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT
III.1 Thiết kế và vận hành hệ thống trại sản xuất giống cá mú lai
Trại sản xuất giống cá biển phải được xây dựng ở vị trí phù hợp, đảm bảo được các yêu cầu về chất lượng nước, diện tích và mục tiêu của một trại sản xuất Đồng thời phải thuận tiện cho việc vận hành và quản lý Các yếu tố cần thiết khi xem xét và thiết kế trại giống cá biển:
Đối tượng sản xuất
Chất lượng môi trường nước
Mục tiêu sản xuất
Mức độ vốn đầu tưTùy thuộc vào mục tiêu đề ra mà có thể thiết kế trại giống ở các quy mô khác nhau như: quy mô công nghiệp, quy mô vừa và quy mô gia đình Vì vậy, việc đưa ra tiêu chuẩn lựa chọn địa điểm, thiết kế và xây dựng, nhu cầu diện tích trại là hết sức cần thiết
III.1.1 Tiêu chuẩn để chọn lựa địa điểm
* Nguồn nước biển cấp
Nguồn nước biển sạch là rất cần thiết cho trại sản xuất giống cá mú lai Nguồn nước này phải đảm bảo được các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá phù hợp với sự sinh trưởng
và phát triển của cá biển Các yếu tố như: độ mặn, pH, nhiệt độ phải ổn định (ít bị ảnh hưởng bởi mùa vụ) và không bị ô nhiễm Trại sản xuất cá giống nên tránh xây dựng gần nguồn nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp, nước thải sinh hoạt từ khu vực đông dân cư
Điều kiện môi trường nước đầu vào của trại sản xuất giống cá mú lai nhìn chung cũng quy định nước biển đầu vào cho trại cá biển được trình bày trong bảng 1
Bảng 1: Yêu cầu điều kiện môi trường nguồn nước đầu vào của trại sản xuất
Trang 6* Nguồn nước ngọt
Trại giống cần được xây dựng gần nguồn nước ngọt để phục vụ sản xuất (vệ sinh trại, hạ độ mặn, vệ sinh dụng cụ,…) và sinh hoạt
* Nguồn năng lượng
Nguồn điện trại sản xuất giống cá biển là nguồn năng lượng, điện phục vụ cho việc bơm nước biển, nước ngọt, hệ thống sục khí và các trang thiết bị cần thiết trong trại sản xuất giống Tuy nhiên, trong các trại sản xuất cần thiết phải có máy phát điện
để dự phòng bị cúp điện Ngoài ra, trại sản xuất giống cần phải gần nơi có mạng lưới giao thông thuận lợi để tiện cho việc đi lại phục vụ trại sản xuất
III.1.2 Nhu cầu mặt bằng
Tùy theo từng quy mô sản xuất mà nhu cầu về mặt bằng cũng thay đổi khác nhau, tuy nhiên mặt bằng của trại sản xuất giống cá mú cần phải rộng rãi thoáng mát, thuận tiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất khi nhu cầu thị trường tăng Một số hạng mục tối thiếu cho trại sản xuất giống cá mú lai bao gồm: Khu xử lý nước, lắng
và lọc nước; khu nuôi vỗ cá bố mẹ và cho đẻ hoặc hệ thống lồng bè để nuôi vỗ (nếu
trại có nuôi cá bố mẹ); khu nuôi gây thức ăn tươi sống (tảo, luân trùng, ấp Artemia);
khu ương nuôi ấu trùng cá; khu văn phòng và nhà kho
III.1.3 Thiết kế xây dựng các hạng mục công trình
Trại giống nên được xây dựng sao cho có thể vận hành một cách dễ dàng và hoạt động ổn định Mục đích của việc thiết kế và xây dựng trại sản xuất giống cá mú lai là để đảm bảo phù hợp với mục tiêu sản xuất, vốn đầu tư và nhu cầu thị trường
* Hệ thống bể chứa
Được tính toán dựa trên công suất trại giống, hệ thống bể chứa giúp cho việc
dự trữ lượng nước cần thiết phục vụ sản xuất, đồng thời còn để lắng các chất vẩn, cặn
bã hữu cơ trước khi bơm qua hệ thống lọc và xử lý nước
* Hệ thống lọc và xử lý nước
Hệ thống lọc nước và xử lý nước có thể dùng bể lọc cát truyền thống, đèn cực tím hoặc ozone để xử lý nước Vì vậy, tùy mức độ đầu tư mà có thể chọn lựa phương thức xử lý nước phù hợp, đảm bảo hiệu quả của việc lọc và xử lý nước phục vụ sản xuất
* Hệ thống bể nuôi cá bố mẹ
- Bể lưu giữ cá tạm thời: Để thiết kế xây dựng dựa trên công suất của trại sản xuất (thông thường 25 – 30 m3/bể), sử dụng để lưu giữ cá tạm thời trong thời gian cá
Trang 7- Bể nuôi vỗ cá bố mẹ: Tùy theo công suất của trại mà thiết kế xây dựng hai hay nhiều bể nuôi vỗ, có thể xây dựng theo kiểu dạng hình vuông các góc được bo tròn hoặc hình tròn (tốt nhất) để tạo dòng chảy để kích thích cá đẻ và thu gom thức
ăn thừa hoặc có thể nuôi lồng bè trên biển Các yếu tố kỹ thuật khác cần quan tâm như: nước cấp chảy vào bể phải đầy đủ, thể tích bể từ 50 - 100 m3 hoặc lồng bè 4 – 6 cái (5 x 5 x 5 m) đảm bảo trao đổi nước tốt và vệ sinh bể hoặc lồng nuôi vỗ định kỳ
- Bể giữ cá cho đẻ: Số lượng bể có thể 2 – 3 bể, tốt nhất là hình tròn để tạo dòng chảy kích thích cá Bể phải có hệ thống nước chảy vào ra, thường có thể tích khoảng 10 – 25 m3, tùy theo nhu cầu sản xuất
- Bể ấp trứng cá: Trứng cá sau khi được vuốt và thụ tinh nhân tạo, được chuyển sang bể ấp có thể tích 500 – 1.000 lít, thường sử dụng bể nhựa trắng dạng hình nón hay bể dạng hình tròn là tốt nhất, đáy bằng để ấp trứng cá
* Hệ thống bể ương ấu trùng
Hệ thống bể ương nuôi được xây dựng bằng ximăng (hình tròn là tốt nhất, hoặc hình vuông, hình chữ nhật được bo tròn các góc), hay bể bạt tròn, được đặt trong trại sản xuất có mái che, lưới che, có tường bao hoặc không Bể xây âm dưới mặt đất khoảng 1/3 chiều cao là tốt nhất (để ổn nhiệt) và thể tích tối thiểu là 8 m3nước (thể tích có thể lớn hơn tùy thuộc công suất trại giống), đặc biệt là đáy bể phải dốc về hố thoát nước, đảm bảo tháo cạn nước khi thu cá hoặc vệ sinh bể
* Hệ thống nuôi thức ăn tươi sống
Khu nuôi thức ăn tươi sống thường chiếm khoảng 10% tổng thể tích bể ương của một cơ sở sản xuất cá mú lai (tỷ lệ này có thể thay đổi tùy theo kỹ thuật nuôi từng trại)
- Hệ thống gây nuôi tảo: Thể tích nuôi tảo thường chiếm khoảng 5 - 10% Tảo
từ thể tích nhỏ trong phòng thí nghiệm được mua về sau đó được nhân sinh khối trong các túi nylon (thể tích từ 30 – 50 lít) và các bể composite hay bể ximăng có thể tích từ 500 – 10.000 lít
- Hệ thống bể nuôi luân trùng: Có thể dùng nhiều loại bể với nhiều kích cỡ (bể nhựa, composite hay ximăng), thể tích bể từ 500 – 10.000 lít đặt ở khu vực nuôi riêng
ở trong nhà hoặc ngoài trời
- Hệ thống ấp Artemia: Bể ấp Artemia trong các trại sản xuất giống cá biển
thường là xô nhựa hoặc bể nhựa trắng hình nón có thể tích từ 200 – 500 lít được đặt trong trại sản xuất Ở các trại có công suất lớn có thể sử dụng nhiều bể hơn để đáp ứng được nhu cầu sản xuất
* Hệ thống máy bơm nước biển
Trại sản xuất cá giống tối thiểu cần có hai hệ thống máy bơm Hệ thống bơm nước biển vào bể lắng, bể cá bố mẹ (công suất 2 - 5 mã lực) và hệ thống bơm chìm
Trang 8để bơm nước cấp cho các bể ương cá và các bể nuôi thức ăn tươi sống (công suất 0.5 – 1.5 mã lực) Đối với các cơ sở có công suất lớn hơn cần có nhiều hệ thống bơm, để
tủ lạnh, kính hiển vi, các test kit đo môi trường, máy đo độ mặn
* Một số loại thiết bị chuyên dụng
Khúc xạ kế, kính hiển vi, cân điện tử, tủ lạnh, một số thiết bị đo môi trường, các thiết bị phân tích bệnh cũng rất cần thiết cho cở sở sản xuất cá biển Tuy nhiên, các trại qui mô nhỏ không cần thiết phải có đủ các thiết bị này, các trại có thể kết hợp với các Viện, Trung tâm nghiên cứu liên quan gần nhất để hợp tác hỗ trợ khi cần thiết
III.2 Kỹ thuật nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ
III.2.1 Tuyển chọn cá bố mẹ
Trong sản xuất giống cá mú lai, cá bố mẹ cho đẻ gồm hai loài: cá đực là cá mú
nghệ (E lanceolatus), khối lượng thành thục thường trên 30 kg, tương ứng với tuổi
cá thường trên 3 năm; cá cái là cá mú cọp (E fuscoguttatus), khối lượng thành thục
từ 3 kg trở lên, tương ứng với tuổi cá từ 3 năm trở lên Nguồn cá bố mẹ này có thể được tuyển chọn từ nguồn cá nuôi thương phẩm hoặc khai thác ngoài tự nhiên
Trang 9Bang 2: Yêu câu ky thuât tuyển chọn đôi vơi ca bô me nuôi vỗ thành thục
4 Ngoai hinh Cân đối, không dị tật, không bị tổn thương
6 Trang thai hoat đông Cá bơi nhanh nhẹn, phản xạ tốt khi có tác động từ bên ngoài
7 Tinh trang sưc khoe Khỏe mạnh, không có dấu hiệu bệnhSau khi tuyển chọn, cá bố mẹ được vận chuyển về trại sản xuất để thuần dưỡng trước khi đưa cá vào nuôi vỗ Việc nuôi vỗ cá bố mẹ có thể được thực hiện trong bể xi măng hoặc lồng bè Chi phí nuôi ở lồng sẽ thấp hơn so với nuôi trong bể
III.2.3 Thuần dưỡng cá bố mẹ
Cá được thuần dưỡng trong bể ximăng có thể tích tối thiểu là 25 m3,mật độ nuôi khoảng 1 - 2 kg/m3 (bao gồm cả cá mú cọp và cá mú nghệ) Nước nuôi được thay 100% hằng ngày bằng cách cho nước chảy vào ra Hàng ngày cho cá ăn bằng các loại cá tạp có chất lượng tốt (như cá nục, cá trích, cá ngân ) Thường xuyên theo dõi sức khỏe của cá, khi cá hồi phục sức khoẻ và thích nghi với điều kiện nuôi nhốt thì tắm cá bằng nước ngọt trong vòng 10–15 phút để phòng bệnh trước khi chuyển sang bể nuôi vỗ cá bố mẹ Thông thường thời gian thuần dưỡng cá bố mẹ khoảng 15
- 30 ngày tùy theo từng nguồn cá được tuyển chọn
Trang 10III.2.4 Nuôi vỗ cá bố mẹ
* Nuôi vỗ cá bố mẹ bằng lồng trên biển
- Vị trí đặt lồng: Lồng nuôi vỗ cá bố mẹ thường được đặt ở những nơi kín gió,
có dòng chảy nhẹ và liên tục, xa nguồn nước thải, mực nước thuỷ triều lên xuống ổn định, độ sâu tối thiểu 10 m và gần trại sản xuất giống càng tốt Các yếu tố môi trường nước phù hợp trong khoảng: nhiệt độ 25 – 29C, độ mặn 27 - 35‰, NH4+ < 0,01mg/L, NO2- < 0,2 mg/L, pH > 7,5.
- Hình dạng và kích cỡ lồng nuôi: Lồng có hình vuông, tròn thông thường sử dụng lồng vuông có kích thước: 5 x 5 x 5 m (lồng có thể lớn hơn tùy từng trại), kích thước mắt lưới 2a = 4 cm, mật độ nuôi vỗ 2 – 4 kg/m3 Đối với nuôi vỗ cá mú nghệ cần 2 lớp lưới để đảm bảo an toàn
- Quản lý và chăm sóc: Thức ăn cho cá bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ là cá tạp tươi (cá nục, cá trích, ), mực, cua, ghẹ Bổ sung vitamin, khoáng 1 lần/tuần với liều lượng 50 mg/kg thức ăn và DHA Selco (thành phần gồm: lipid 65%, DHA, vitamin
A, D3, C, E) 1 lần/tuần với liều lượng 10 mg/kg thức ăn hai tháng trước khi vào mùa
vụ sinh sản (nếu duy trì việc bổ sung các thành phần này xuyên suốt thời gian trong năm càng tốt) Khẩu phần ăn 3 - 5% khối lượng thân (BW) Tắm cá bằng nước ngọt định kỳ 15 ngày/lần để phòng bệnh, thời gian tắm cá khoảng từ 10-15 phút Định kỳ kiểm tra lưới lồng và vệ sinh xung quanh lồng, đảm bảo nước lưu thông
* Nuôi vỗ trong bể xi măng
- Nguồn nước: Nguồn nước cung cấp vào bể cá bố mẹ tốt nhất là được lọc qua
hệ thống lọc cơ học với than hoạt tính để loại bỏ các chất vẩn và mầm bệnh Nước được cung cấp vào bể phải đảm bảo các thông số môi trường như: Nhiệt độ 25 –
290C, độ mặn 27 - 35‰, NH4+ <0,01mg/L, NO2- < 0,2 mg/L, pH > 7,5, DO > 5 mg/L.
- Bể nuôi vỗ: Bể nuôi vỗ thường có kích thước lớn, hình tròn hoặc hình vuông tuỳ theo thiết kế Thể tích bể tối thiểu là 50 m3 Bể được vệ sinh sạch, khử trùng bằng chlorine nồng độ 30 ppm sau đó rửa sạch lại bằng nước ngọt trước khi cấp nước biển sạch vào Mật độ nuôi vỗ thường từ 1 – 2 kg/m3
+ Quản lý và chăm sóc: Thức ăn cho cá bố mẹ trong quá trình nuôi vỗ tương
tự như nuôi lồng bè Hàng ngày thay 100% nước trong bể bằng cách cho nước chảy vào ra Định kỳ 15 ngày vệ sinh bể nuôi vỗ bằng cách chà rửa, mục đích là loại bỏ những mầm bệnh từ bên ngoài Tắm cá bằng nước ngọt định kỳ 15 ngày/lần để phòng bệnh, thời gian tắm cá khoảng từ 10-15 phút Khi cần có thể chuyển cá sang
bể khác để vệ sinh toàn bộ bể nuôi một cách triệt để
Trang 11III.3 Kỹ thuật tuyển chọn cá bố mẹ và cho đẻ
III.3.1 Kỹ thuật tuyển chọn cá bố mẹ
Vào mùa sinh sản (từ tháng 3 đến tháng 11 dương lịch) kiểm tra sự thành thục của tuyến sinh dục bằng que thăm trứng (đường kính que 1,2 mm) đối với cá cái và vuốt tinh dịch đối với cá đực khoảng 15 ngày/lần ở hai thời điểm trong tháng theo chu kỳ trăng (trăng non và trăng tròn) Khi cá thành thục đạt tiêu chuẩn thì tiến hành kích thích sinh sản Các đặc điểm nhận biết cá bố mẹ thành thục tốt là:
* Đối với cá cái (cá mú cọp): Cá cái nhìn bên ngoài bụng to, mềm, thành bụng
của cá mỏng, vùng chung quanh lỗ sinh dục có màu hồng tươi, cương phồng Dùng ống thăm trứng dài khoảng 30 cm, đưa sâu vào trong lỗ sinh dục khoảng từ 5-10 cm sau đó hút nhẹ và đưa ra quan sát bằng mắt thường hoặc kính hiển vi Trứng cá thành thục tốt có những đặc điểm sau: trứng rời, tròn đều và có màu vàng nhạt, đường kính các trứng đều nhau, đường kính trứng tốt nhất có thể tiến hành cho đẻ là ≥ 0,5mm
* Đối với cá đực (cá mú nghệ): Vuốt nhẹ hai bên lườn bụng từ vây ngực đến
gần hậu môn, thấy tinh (hoặc sẹ) đặc màu trăng sữa chảy ra từ lỗ sinh dục, dễ tan trong nước
III.3.2 Kỹ thuật cho cá đẻ
Cá bố mẹ thành thục tốt (được tuyển chọn theo những tiêu chí của kỹ thuật tuyển chọn cá bố mẹ ở mục III.3.1) thì tiến hành tiêm hormone Hormone sử dụng tiêm cho cá mú là hCG (Human chorionic gonadotropin), trước khi tiêm cá bố mẹ cần được gây mê bằng thuốc mê Tricaine-S – Tricaine methanesulfonate (công ty Syndel, Canada) với nồng độ 70 – 100 mg/L nước biển (có thể sử dụng thuốc gây mê khác tùy vào khả năng mua được sản phẩm) để tránh cá bị sốc, giãy giụa làm mất nhớt và tổn thương cá, ảnh hưởng tới việc cho đẻ
* Đối với cá cái (cá mú cọp): tiêm 2 hai lần với liều lượng mỗi lần là 500
UI/kg cá và thời gian giữa hai lần tiêm cách nhau 24 h
Hình 2: Cá bố mẹ (cá mú nghệ - A; cá mú cọp – B)
Trang 12* Đối với cá đực (cá mú nghệ): tiêm một lần với liều lượng 500 UI/kg cá, tiêm
cùng với thời gian lần tiêm thứ nhất của cá cái
Sau khi tiêm hormone, cá đực và cá cái được nhốt riêng trong các bể khác nhau với mật độ 3 – 5 kg/m3 Thông thường khoảng 14 h sau lần tiêm thứ hai đối với
cá cái thì kiểm tra cá bố mẹ để tiến hành vuốt tinh và trứng Các đặc điểm nhận biết
cá có thể tiến hành vuốt tinh và trứng là: cá đực dùng tay ép nhẹ vào phần bụng dưới
và di chuyển về hướng lỗ sinh dục thấy tinh chảy ra; cá cái bụng phình to, mềm đều,
lỗ hậu môn cương phồng Các bước vuốt trứng, tinh và thụ tinh trứng được thực hiện như sau:
- Bước 1: Tiến hành vuốt tinh cá mú nghệ trước, dùng tấm mềm vải mềm để quấn toàn thân cá đực, để hở phần bụng dưới, dùng khăn thấm khô lỗ sinh dục và phần bụng, dùng tay ép nhẹ vào phần bụng dưới và di chuyển về hướng lỗ sinh dục của cá để tinh chảy ra Thu tinh bằng các ống nhựa (5 - 12 mL) đã được vô trùng, chia nhỏ lượng tinh thành nhiều ống và giữ trong ngăn mát của tủ lạnh (40C) Tinh có thể giữ trong tủ lạnh 48 h, tuy nhiên sử dụng ngay là tốt nhất;
- Bước 2: Vuốt trứng cá cái được tiến hành tương tự các bước như cá đực, trứng chảy ra sẽ được thu vào trong các chậu nhựa (có đường kính khoảng 25 – 40 cm) đã được chuẩn bị sẵn Trứng sau khi vuốt tiến hành thụ tinh ngay là tốt nhất, để càng lâu thì ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở;
- Bước 3: Tiến hành thụ tinh nhân tạo, tinh cá đực sẽ lấy từ trong tủ lạnh đổ nhẹ vào chậu nhựa chứa trứng (liều lượng 1 – 1,5 mL tinh/1 kg trứng cá), dùng tay khuấy nhẹ, để trứng và tinh trùng tiếp xúc đều với nhau nhằm tăng tỷ lệ thụ tinh Sau khi đã khấy đều trứng với tinh với nhau (3 – 5 phút), thêm một ít nước biển đã lọc sạch vào khấy nhẹ thêm khoảng 5 phút nữa, sau đó đổ nhẹ trứng ra vợt (kích thước mắt lưới 200 – 300 µm) để rửa sạch trứng, loại bỏ tinh dư thừa và đổ trứng sau khi được thụ tinh ra thau nhựa để siphone loại trứng bỏ hư hoặc trứng không thụ tinh ở đáy
Trang 13
III.4 Kỹ thuật thu, ấp trứng
III.4.1 Kỹ thuật thu trứng
Việc cho cá mú lai đẻ thường tiến hành vào ban đêm khoảng 18h đến 24h để thuận lợi cho việc vận chuyển trứng đến các cơ sở sản xuất giống, do lúc này nhiệt
độ thấp, ít ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển phôi của trứng Trứng cá mú lai trương nước sau khi được thụ tinh, nổi lơ lửng gần mặt nước, có đường kính khoảng 0,8 - 0,9 mm Kiểm tra trứng thụ tinh trên kính hiển vi, tiến hành siphon đáy loại trứng hư hoặc không thụ tinh Dùng vợt thu trứng bằng lưới mềm, mịn, có kích thước mắt lưới
200 - 300 µm để thu trứng, thao tác trong quá trình thu trứng phải nhẹ nhành và cẩn thận tránh làm vỡ trứng ảnh hưởng đến tỷ lệ nở và chất lượng ấu trùng Trứng được tiến hành định lượng trước khi đưa vào bể ấp hoặc chuyển cho các trại giống
III.4.2 Kỹ thuật ấp trứng
Bể ấp trứng thường được vệ sinh sạch sẽ và khử trùng bằng chlorine trước sử dụng ấp trứng Nguồn nước cung cấp vào bể ấp phải sạch được xử lý bằng tia cực tím hoặc chlorine Các yếu tố môi trường nước đảm bảo thích hợp cho quá trình phát triển phôi cá gồm: độ mặn 30 - 32‰, nhiệt độ 27 – 290C, hàm lượng oxy hoà tan ≥ 5 mg/L, NH4+ < 0,01 mg/L, NO2- < 0,2 mg/L, pH 7,5 – 8,5 Sục khí được duy trì để đảm bảo cung cấp đủ lượng oxy hoà tan, đồng thời nước được luân chuyển đều giúp trứng phân tán và đảo đều, tránh quá mạnh sẽ làm vỡ trứng Mật độ ấp trứng khoảng 1.000 trứng/L Trứng sẽ bắt đầu nở sau thời gian 17 – 19h (với điều kiện nhiệt độ như trên) Sau khi nở, giảm sục khí nhỏ, ấu trùng cá phân bố tầng mặt và giữa tầng nước, trong khi đó các trứng hư và vỏ trứng sẽ chìm dưới đáy bể, tiến hành siphon để loại bỏ các thành phần này Định lượng xác định tỷ lệ nở và số lượng cá bột để chuyển sang hệ thống bể ương
III.5 Kỹ thuật ương nuôi từ cá bột lên cá hương
III.5.1 Chuẩn bị bể ương nuôi
Bể ương ấu trùng nuôi cá mú lai là bể xi măng hoặc bể bạt, hình chữ nhật, nhưng hình tròn là tốt nhất (để dễ thao tác chăm sóc và ấu trùng cá, do sau thời gian ương cá sẽ có khuynh hướng di chuyển thành đàn quanh bể nuôi nên bể tròn rất thuận lợi) và thường có thể tích tối thiểu là 8 m3 (thể tích này có thể lớn hơn tùy điều kiện của từng trại sản xuất giống và trình độ kỹ thuật ương nuôi), hệ thống bể ương
và tất cả các trang thiết bị dụng cụ trong trại sản xuất đều phải được tẩy trùng bằng chlorine với nồng độ 30 ppm, để khô 1 – 2 ngày và sau đó rửa lại bằng nước ngọt trước khi đưa vào sử dụng Ánh sáng ương nuôi ấu trùng dao động 500 – 600 lux
Cấp nước biển đã được lắng, lọc thô, lọc qua túi lọc 5 µm và xử lý bằng ozone hoặc tia cực tím hoặc chlorine vào bể ương khoảng 80% thể tích bể ương để sau đó cấp tiếp tảo vào bể ương
Trang 14Hệ thống sục khí được bố trí tùy theo thể tích bể ương (1 viên đá bọt/m2), ở giai đoạn cá bột mới nở phải sục khí nhẹ hơn nhằm hạn chế việc gây sốc cho cá, sau
đó tăng dần ở các giai đoạn sau
III.5.2 Phương pháp chuyển cá bột sang bể ương nuôi
Sau khi chuẩn bị xong bể ương nuôi cá bột, tiến hành định lượng số lượng cá bột trong bể ấp sau đó chuyển ấu trùng cá này sang bể ương nuôi với mật độ cá bột ban đầu trung bình khoảng 12 con/L Dùng xô nhựa hoặc có thể siphon để chuyển cá bột từ bể ấp sang bể ương nuôi Thao tác kỹ thuật trong quá trình chuyển cá bột mới
nở sang hệ thống ương nuôi cần phải cẩn thận, nhẹ nhàng, tránh làm sốc cá
III.5.3 Quản lý chăm sóc cá
* Cho ăn
- Giai đoạn mới nở: Cá bột được nuôi trong môi trường nước xanh, tảo sử
dụng là Nannochloropsis oculate được cấp vào bể ương vào ngày thứ 1 với mật độ
ban đầu khoảng 3 - 5x105 tế bào/mL (mục đích ổn định môi trường nuôi, giảm ánh sáng chiếu trực tiếp làm cá bị sốc, đồng thời làm thức ăn cho luân trùng và nauplii
Artemia) Trong khoảng 3 ngày đầu, nguồn dinh dưỡng chính cho cá bột là noãn
hoàng, hết ngày thứ 3 ấu trùng bắt đầu ăn thức ăn ngoài Tuy nhiên, tùy theo điều kiện nhiệt độ mà thời gian mở miệng của ấu trùng cá có thể ngắn hoặc kéo dài hơn tốt nhất là nên cấp thức ăn cho cá bắt đầu ở ngày thứ 3 để khi cá mở miệng là có thứ
ăn sẵn
- Giai đoạn ăn thức ăn ngoài: Ở giai đoạn này, luân trùng (Brachionus plicatilis) được sử dụng như là nguồn thức ăn đầu tiên cho cá bột sau khi sử dụng hết
noãn hoàng, tốt nhất là nên cấp luân trùng bắt đầu ở ngày thứ 3 để khi cá mở miệng
là có thứ ăn sẵn Thời gian cho ăn luân trùng từ khi cá mở miệng đến ngày thứ 16 –
17, luân trùng được là giàu bằng DHA protein Selco 150 ppm trong 12 giờ với mật
độ cho ăn là 10 con/mL Mật độ tảo Nannochoropsis oculata được duy trì ổn định 3 -
5 x 105 tb/mL trong bể ương ấu trùng cá khoảng 26 – 27 ngày Từ ngày ương thứ 14
cá bột được tập ăn nauplii Artemia (được làm giàu bằng A1 DHA Selco 150 ppm
trong 12 giờ) khoảng 2 - 3 ngày với mật độ 2 – 3 con/mL sau đó tăng lên đến 8 – 10
con/mL và thời gian cho ăn nauplii Artemia kéo dài tới ngày thứ 25 - 26 Từ ngày 26
- 35 cho cá ăn Artemia sinh khối với mật độ 1 – 2 con/mL Thức ăn công nghiệp 0,2
– 0,3 mm được tập cho cá ăn khoảng ngày thứ 30 – 32, đầu tiên cho một ít thức ăn
công nghiệp trước các cử cho ăn Artemia, khi thấy cá bắt đầu ăn được thì tăng dần lượng thức ăn công nghiệp và giảm lượng thức ăn Artemia, cho đến khi cá chuyển