I, Tổng quan về Hy Lạp cổ đại (TK XI TK IV (TCN)) A, Những điều kiện hình thành nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại a, Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý Hy Lạp cổ đại là một quốc gia ở khu vực Địa Trung H[.]
Trang 1I, Tổng quan về Hy Lạp cổ đại (TK XI-TK IV (TCN))
A, Những điều kiện hình thành nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại:
a, Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý:
Hy Lạp cổ đại là một quốc gia ở khu vực Địa Trung Hải, có vị trí địa
lý rất quan trọng trong việc giao thương giữa phương Đông và phương Tây Lãnh thổ Hy Lạp cổ đại bao gồm ba phần: phần Hy Lạp lục địa, Hy Lạp quần đảo và Hy Lạp Tiểu Á
Hy Lạp lục địa tương ứng với lãnh thổ Hy Lạp ngày nay, là vùng đất
ở nam bán đảo Bancăng, giống như một cái đinh ba từ đất liền chĩa ra Địa Trung Hải Đây là vùng đất giữ vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử Hy Lạp Toàn bộ vùng lục địa Hy Lạp được chia làm ba miền: miền Bắc, miền Trung và miền Nam
Đặc biệt, do nằm gần Tiểu Á-một vùng giàu có và là chiếc cầu nối Hy Lạp với các nước phương Đông cổ đại có nền văn minh phát triển sớm nên Hy Lạp đã tiếp xúc, bị ảnh hưởng và thừa hưởng nhiều thành tựu của văn minh phương Đông cổ đại
- Khí hậu: nằm trong khu vực khí hậu ôn đới Địa Trung Hải-một nền khí hậu được xem là lí tưởng đối với cuộc sống của con người, do đó mà các hoạt động sinh hoạt văn hóa và thể thao ngoài trời rất nhộn nhịp, phát triển Những ưu đãi của tự nhiên về khí hậu khiến cho cư dân Hy Lạp cổ đại có thể hoạt động sản xuất, buôn bán tất cả các mùa trong năm
b, Điều kiện dân cư:
- Hy Lạp cổ đại là một quốc gia đa dân tộc (người Êolieng, cư trú ở bắc bán đảo Balkan, đồng bằng Bêoxi; người Akeang, phía nam biển Egie nhưng chủ yếu cư trú ở đảo Cret….) nên nền văn minh Hy Lạp cổ đại đa dạng và phong phú với những hiểu biết, kĩ thuật làm nghề,… đến từ nhiều dân tộc khác nhau
c, Điều kiện kinh tế:
- Khác với các quốc gia cổ đại ở phương Đông, chủ yếu được hình thành ở những khu vực gần các con sông lớn (Ai Cập cổ đại với sông Nile, Văn minh Ấn độ với sông Ấn,.…) thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp; Hy Lạp cổ đại lại có nhiều đồi núi, đất đai không phì nhiêu, lượng mưa lại không nhiều nên không thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp Nhưng bù lại, Hy Lạp dồi dào khoáng sản, do đó hình thành nhiều ngành nghề thủ công Sự phát triển của thủ công nghiệp đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa
và sự mở rộng ngoại thương, quan hệ với các nước khác
Trang 2- Nền thương mại mậu dịch của Hy Lạp cổ đại rất phát triển và mang tính quốc tế từ sớm Chính điều này đã thúc đẩy giao lưu, buôn bán giữa Hy Lạp
và các nước khác, tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân Hy Lạp học hỏi từ khắp các nền văn minh cổ đại lúc bấy giờ và đồng thời mang những thành tựu văn hóa, văn minh của họ truyền bá khắp thế giới
d, Điều kiện về xã hội:
- Sự phát triển của kinh tế thương nghiệp hàng hải đã tạo ra một nền kinh tế giàu mạnh cho Hy Lạp cổ đại Đặc biệt là sự phát triển cực thịnh của chế độ chiếm nô – gắn liền với phương thức sản xuất đạt đến mức hoàn chỉnh và cao nhất của nó trong xã hội Hy Lạp cổ đại.Chế độ chiếm nô này đã phân công lao động khá rõ ràng trong xã hội, tạo nên hai tầng lớp là lao động chân tay- lao động trí óc Nô lệ xuất hiện ở khắp nơi, ở mọi ngành nghề trong xã hội và đảm nhận mọi công việc nặng nhọc nhất nên tầng lớp trí thức có thêm thời gian và sức lực để nghiên cứu triết học, tôn giáo và các ngành nghề khoa học khác
Góp phần tạo điều kiện cho sự sáng tạo những giá trị vật chất, tinh thần của nền văn minh này
B, Sơ lược về những nền văn minh của Hy Lạp cổ đại:
a, Thời kì văn hóa Cret-Mixen (khoảng cuối thiên niên kỉ III-cuối thiên niên kỉ II TCN):
- Từ sớm, vùng biển Êgiê mà trung tâm là đảo Cret và vùng Myxen ở bán đảo Pêlêpônedơ đã từng tồn tại những nền văn minh rực rỡ Ở đây có nhiều cung điện, thành quách và có cả chữ viết
b, Thời kì Home (TK XI-TK IX TCN):
- Là “Thời đại anh hùng”, là giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy
- Con người đã bắt đầu sử dụng sắt để chế tạo vũ kí, dụng cụ phục vụ cho sản xuất và đời sống sinh hoạt thường ngày
c, Thời kì thành bang: (TK VIII-IV TCN):
- Thời kì quan trọng nhất trong lịch sử Hy Lạp cổ đại
- Chế độ thị tộc tan rã, nhiều quốc gia thành bang (hay quốc gia thành thị) ra đời Trong đó quan trọng nhất là thành bang Xpac và thành bang Aten
d, Thời kì Maxedonia:
- Năm 337 TCN, về hình thức, các thành bang Hy Lạp vẫn được độc lập nhưng thực chất đã biến thành chư hầu của Maxedonia
- Năm 168 TCN, Maxedonia bị La Mã tiêu diệt Năm 148 TCN, Hy Lạp bị nhập vào đế quốc La Mã Nhưng quốc gia này do trình độ thấp hơn nên tiếp nhận ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp và thời kì này gọi là “thời kì Hy Lạp hóa”
Trang 3Kết luận: Văn minh Hy Lạp cổ đại không chỉ đặt nền tảng vững chắc nhất cho văn minh phương Tây cổ đại phát triển, mà còn có nhiều đóng góp cho nhân loại với hàng loạt phát kiến vĩ đại trong suốt chiều dài lịch sử
II, Những thành tựu về thiên văn học:
- Phương pháp tính nhật thực, nguyệt thực: Vào năm 585 TCN, một trận chiến tàn bạo giữa hai quốc gia cổ đại là: Vương quốc Lydia (thuộc vùng Tiểu Á, một phần của Thổ Nhĩ Kì ngay nay) và người Iran cổ đại đã được ngăn chặn nhờ hiện tượng nhật thực Người đã dự đoán chính xác thời gian, địa điểm diễn ra hiện tượng này là “cha đẻ của ngành khoa học”, là người đầu tiên đặt nền móng cho nền khoa học tự nhiên của Hy Lạp- Thalet
(624-547 TCN) Ông đã dự đoán chính xác ngày xảy ra hiện tượng nhật thực là ngày 28-5-585 TCN và đưa ra cách tính toán, dự báo nhật thực, nguyệt thực Việc đưa ra những lời dự đoán như vậy rất mạo hiểm đối với các nhà chiêm tinh ngày xưa, vào năm 2300 TCN, đã có 2 nhà chiêm tinh TQ bị chém đầu
vì đưa ra dự đoán sai lầm về ngày nhật thực
- Thừa nhận và chứng minh Trái Đất hình cầu:
Từ xa xưa, người Hy Lạp cho rằng Trái Đất dạng tròn trước cả khi họ
có bằng chứng thuyết phục Triết gia kiêm nhà toán học lỗi lạc Pythago (580-500 TCN) là người đầu tiên đưa ra giả thuyết Trái Đất hình cầu những năm 500 TCN, dù rằng ông chỉ dựa trên góc nhìn thẩm mĩ của riêng mình: Hình cầu là dạng hoàn hảo nhất Ông cũng khẳng định TĐ chuyển động theo một quỹ đạo nhất định
Một thế kỷ sau, nhà triết học Plato (428-347 TCN) cũng đưa ra ý kiến tương tự, đồng thời khiến cho nhận định này trở nên phổ biến
Khi bắt đầu đi vào chứng minh Trái Đất hình tròn, Aristotle (384-322 TCN) là triết gia người Hy Lạp tiên phong trong vấn đề này Trong cuốn sách ''Trên thiên đàng'' (On the Heavens), viết vào năm 350 TCN, ông đã đưa ra nhiều bằng chứng chứng minh Trái Đất hình cầu
- Thuyết về hệ thống Mặt trời: do Arixtaco (310-230 TCN) đề xuất (được trình bày trong cuốn sách “Bàn về sự lớn nhỏ của Mặt Trăng và Mặt trời cũng như khoảng cách giữa chúng với Trái Đất) Ông cũng là người đầu tiên đề xuất thuyết Mặt trời là trung tâm Đây là một đóng góp vô cùng to lớn cho lĩnh vực thiên văn học
- Lần đầu tiên trong LS, chu vi trái đất được tính ra với con số khá chính xác: 39.700km bởi Eraxtoten Ông cũng là người khẳng định TĐ có hình tròn dựa vào quy luật lên xuống của thủy triều ở Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương III, Những thành tựu về toán học:
Trang 4- Toán học Hi Lạp đã vượt qua cách tính nhân, chia, cộng, trừ sơ cấp để vươn tới sự khái quát thành những định lí, định đề, nguyên lí vẫn được sử dụng trong toán học hiện đại: Định lí Pitago, định lí Talét, định luật Acsimét, tiên
đề Ơcơlít… Các nhà toán học Hi Lạp cổ đại đã phát minh và đặt cơ sở cho môn hình học Họ đã tính được độ dài của chu vi quả đất (39.700 km), đường kính, diện tích và chu vi các hình với việc tìm ra giá trị của số đo pi = 3,1324.
- Talet:
Đóng góp tới 6 định lý về hình học, trong đó có các tính chất về góc, tam giác cân, đường tròn…
Tìm ra phương pháp tính được chiều cao của một vật khi biết bóng của nó Nhờ đó, ông trở thành người đầu tiên tính được chiều cao của kim tự tháp
- Pytago:
Đã có nhiều bằng chứng chứng minh người Babylon cổ đại đã áp dụng được định lý Pytago trước thời của chính Pytago cả nghìn năm
để đo đất đai Tuy nhiên, hệ thống số của Babylon bị hạn chế bởi vì
họ chỉ có thể sử dụng tối đa 60 số, có nghĩa là những người khảo sát
bị giới hạn trong bộ ba số Pitago (VD: 3;4;5) Phải mãi đến thời Pytago, định lý này mới được chứng minh và có một khái niệm cụ thể cho nó, đồng thời Pytago cũng cho chúng ta một công thức khái quát
để có thể tính tới những con số hàng trăm, chục nghìn
Có công tổng kết những tri thức về số học, thiết lập nhiều công thức, định lý toán học
Nổi tiếng nhất là định lý tam giác vuông, còn gọi là định lý Pytago hay còn gọi vui là định lý 100 con bò (Theo truyền thuyết, vì quá vui khi chứng minh được định lý trên, ông và học trò đã giết 100 con bò tót để ăn mừng)
- Oclit (cha đẻ của “hình học” – người viết nên cuốn sách giáo khoa đầu tiên
về hình học)
Bằng cách sưu tầm, chọn lọc và phân loại, Euclid đã biến các công thức, định lý hình học của những vị tiền bối đi trước như Thales, Pythagore trở nên hoàn hảo hơn Những công thức, định lý đơn lẻ được gắn kết với nhau, là cơ sở trong một hệ thống chặt chẽ và logic Cũng từ đây, bộ sách “Cơ sở của các yếu tố” ra đời, mang nhiều giá trị đối với sự phát triển của môn hình học phẳng, đặt nền móng cho toàn bộ toán học cổ đại
Trang 5 Bộ sách được xem là quyển sách giáo khoa của toàn thế giới trong hơn 2000 năm khi được sử dụng rộng rãi tại nhiều trường học thuộc các quốc gia khác nhau
- Acsimet:
Phương pháp tính thể tích hình cầu, hình trụ và các hình thể phức tạp khác cũng như công thức tính các số đo của hình tròn đã được Acsimet tìm ra và tổng hợp trong cuốn “Bàn về lượng tròn” và “Bàn
về thể hình cầu và hình trụ”
Ông cũng phát minh ra nhiều nguyên lý, định lý quan trọng vẫn còn được áp dụng trong Vật lý hiện đại
Đặc biệt, ông chính là người tính ra số Pi gần chính xác nhất với con
số hiện tại Trước đây 4000 năm, người Babylon cổ đại đã tính ra số
Pi với giá trị là 3,125 Sau đó, người Ai Cập đã tính diện tích hình tròn một công thức cho giá trị của π là 3.1605, chính xác hơn con số trước đó của người Babylon Nhưng phải đến Acsimet, giá trị của số
Pi đã được tính toán chính xác hơn nhiều: 3,1419 Sau đấy, số Pi đã được kí hiệu bằng chữ cái thứ 16 trong bảng mẫu tự Hy Lạp, và sau này dần dần được cải tiến thành kí hiệu như hiện nay
IV, Những thành tựu về Y học:
- Trepanation (lỗ khoan) là một trong số phương pháp được các bác sĩ thời xưa áp dụng để điều trị Họ nghĩ rằng những bệnh khác nhau được gây ra bởi một linh hồn ma quỷ bị kẹt bên trong đầu của một con người, vì vậy vậy
họ khoan lỗ để cho tinh thần giải thích ra ngoài
- Những biện pháp mê tín dị đoan và quái gở này xuất hiện rất nhiều lúc bấy giờ và sẽ còn kéo dài mãi nếu không có sự phản đối mạnh mẽ của
Hippocrates Hippocrates – “thủy tổ” của nền y học Hy Lạp- người đã bác
bỏ những quan niệm sai lệch về việc chữa trị bằng những hiện tượng siêu nhân huyền bí Ông coi y học là ngành khoa học và cho rằng mỗi bệnh tật đều có nguyên nhân tự nhiên riêng Và tất nhiên, ông bị chống đối kịch liệt
và phải ngồi tù 20 năm chỉ vì phát biểu này
- Ông cũng kịch liệt phản đối việc dùng nghề y để trục lợi và đưa ra một tư tưởng vô cùng văn minh và tiến bộ: người thầy thuốc phải có trách nhiệm lớn với cuộc sống của con người Vấn đề về đạo đức và trách nhiệm này đã
để lại một ảnh hưởng to lớn tới nền Y học Hy Lạp sau này và trở thành chân
lý trong ngành Y của ngày hôm nay: lời thề Hippocrates
- Luận điểm não là trung tâm hệ thần kinh, chỉ huy các hoạt động của con người, học thuyết về sự tuần hoàn của máu và phương pháp khám bệnh thông qua việc bắt mạch (nhanh, chậm) của bệnh nhân) đã được nghiên cứu
Trang 6và khám phá ra bởi Herophin.
NỀN VĂN MINH LA MÃ CỔ ĐẠI
A/ Tổng quan về La Mã (753 TCN - 476 TCN)
I/ Cơ sở hình thành nên nền văn minh La Mã
1/ Điều kiện tự nhiên:
a, Địa hình
Khởi phát từ bán đảo Italia - một bán đảo dài, hẹp vươn ra Địa Trung Hải, với dãy Alpes về phía Bắc ngăn cách với châu Âu Bán đảo này được bao bọc ba mặt Đông, Tây, Nam là biển, trong đó: phía Nam bán đảo là đảo Sicilia, phía Tây là đảo Corsica và đảo Sardinia (được kí hiệu tô màu hồng trong lược đồ)
Phạm vi lãnh thổ của La Mã thời đế chế đã được mở rộng gồm toàn bộ các vùng đất xung quanh Địa Trung Hải, các vùng đất ven bờ Đại Tây Dương và quần đảo Anh
Ngoài ra, với sự gần gũi về vị trí địa lí, sự hình thành và phát triển sớm của văn minh Hi Lạp và phương Đông, sự mở rộng lãnh thổ và giao thương với các quốc gia nhất là các nước quanh Địa Trung Hải, tạo cơ sở để La Mã tiếp thu những thành tựu văn hoá của nền văn minh Hi Lạp và phương Đông
b, khí hậu:
Khí hậu ấm áp, lượng mưa tương đối đều => thuận lợi SX Nông nghiệp Song không có điều kiện tốt để phát triển ngành hàng hải như Hi Lạp
2/ Điều kiện dân cư
Bán đảo Italia có con người cư sống từ khá sớm Đây là nơi chung sống của những con người đến từ nhiều nền nơi khác nhau Bên cạnh những người bản địa, cư dân trên bán đảo đa số là những người di dân từ phía Bắc châu
Âu, từ Tiểu Á, Hy Lạp như Người Galia ở phía Bắc bán đảo, chủ yêu ở đồng bằng sông Pô; Người Êtơruxcơ ở giữa vùng sông Ácnơ và Tibrơ; Miền Trung và Nam là người Italios Những cư dân Italios ở đồng bằng Latium gọi là người Latinh Chính họ lập nên thành bang La Mã Họ là nhóm cư dân
có vai trò quan trọng nhất với lịch sử La Mã Điều này đã góp phần hình thành nên sự đa dạng của nền văn minh La Mã
3/ Điều kiện kinh tế
Bán đảo Italia có nhiều đồng bằng phì nhiêu: đồng bằng sông Pô ở miền Bắc, đồng bằng Tibrơ ở miền Trung, các đồng bằng trên đảo Sicilia cùng những đồng cỏ lớn ở miền Nam Do vậy, nền nông nghiệp bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi của La Mã rất phát triển
Trang 74/ Điều kiện xã hội
Xã hội La Mã là cũng là xã hội chiếm hữu nô lệ giống như Hy Lạp Tuy ban đầu nhà nước La Mã cũng ra đời dưới hình thức nhà nước thành bang như
Hy Lạp nhưng sau đó quá trình phát triển của nó lại khác hoàn toàn, khiến
nó dần trở thành một đế quốc rộng lớn, có một chính quyền trung ương hùng mạnh
II/ Sơ lược về các thời kỳ lịch sử của La Mã cổ đại
Chia thành 3 thời kỳ lớn: thời kỳ vương chính, thời kỳ cộng hòa và thời kỳ đế chế 1/ Thời kỳ “vương chính”
Vào năm 753 TCN 3 bộ lạc Latinh ở miền trung bán đảo Italia xây dựng nên thành bang của mình lấy tên là Roma (La Mã) - theo tên người anh hùng trong truyền thuyết Rômuluxơ
Thời kỳ này có 3 bộ phận trong tổ chức nhà nước: Đại hội nhân dân, viện
“nguyên lão” và vua Và vua không theo chế độ cha truyền con nối mà do Đại hội nhân dân bầu ra
Năm 509 TCN quần chúng La Mã nổi dậy lật đổ vị vua Táckiniút, thời kì vương chính kéo dài hơn 200 năm cũng chấm dứt
2/ Thời kỳ cộng hòa (thế kỷ VI TCN - thế kỷ I)
Sau khi lật đổ sự thống trị của quý tộc Etơruxcơ, nhà nước La Mã được tổ chức lại Chính quyền lúc này trở thành chính quyền của dân, vì lẽ đó nên nó mang tên nhà nước cộng hoà Tuy nhiên nó còn mang nặng tính chính cộng hoà quý tộc Kinh tế thời kì này phát triển nhanh chóng, La Mã bắt đầu bành trướng thế lực bằng những cuộc chiến tranh xâm lược Dần đến thế kỉ I TCN, La Mã trở thành 1 đế quốc lớn nhất TG
3/ Thời kỳ đế chế (Thế kỷ I - thế kỷ V)
Thế kỷ I - II: Giai đoạn cực thịnh của chế độ chiếm nô Roma - thời đại Augustus: Chế độ chiếm nô Roma đạt tới sự phát triển thịnh vượng về mọi mặt của nó, với nền kinh tế phát triển toàn diện, quyền lực chính trị của đế quốc được củng cố
Thế kỷ III - IV: Giai đoạn suy tàn của chế độ chiếm nô Roma : Chế độ chiếm nô Roma lâm vào khủng hoảng và suy thoái, kinh tế không còn phồn thịnh như trước, phương thức canh tác và bóc lột trong các đại điền trang thay đổi, chế độ lệ nông xuất hiện
Trang 8 Năm 395, đế quốc La Mã bị chia ra làm hai: Đông La Mã và Tây La Mã Năm 476, Tây La Mã diệt vong Đến năm 1453, phía Đông La Mã cũng bị
đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ thôn tính
III/ Những thành tựu khoa học tự nhiên của nền văn minh La Mã cổ đại 1/ Thiên văn:
Marcus Tullius Cicero (106 TCN - 43 TCN) - một triết gia, nhà hùng biện nổi tiếng thời La Mã đã từng đề cập trong tác phẩm “De Officiis” của mình rằng:
“ Trong tất cả các ngành nghề cố định, không có gì tốt hơn nông nghiệp, không có gì lợi hơn nông nghiệp, không có gì thú vị hơn nông nghiệp, và không có gì để cho một người được tự do hơn là trong nông nghiệp "
=> Bắt nguồn từ tầm quan trọng của nền nông nghiệp thời kỳ La Mã, một
số thành tựu về thiên văn học đã ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu quan sát thời tiết, hỗ trợ cho việc trồng trọt, thu hoạch mùa màng thuận tiện hơn
*Thành tựu:
- Tác phẩm “Lịch sử tự nhiên” (Naturalis Historia) của Gaius Plinius
Secundus - nhà khoa học nổi tiếng nhất La Mã cổ đại
Gaius Plinius Secundus (23 - 25/8/79 CN), được biết đến nhiều hơn với tên Pliny cha, Pliny cậu, Pliny già, Pliny lớn, là một tác giả, nhà tự nhiên học, và triết học tự nhiên La Mã Ông đã dành phần lớn thời gian rảnh rỗi của mình nghiên cứu, viết hoặc điều tra các hiện tượng tự nhiên và địa lý trong lĩnh vực này “Naturalis Historia” cũng là tác phẩm đầu tiên của ông
Tác phẩm này gồm 37 chương, là bản tập hợp những tri thức của thiên văn học và một số ngành tri thức khoa học khác Đây được coi như một bộ Bách khoa toàn thư của La Mã cổ đại
- Tác phẩm “Nghiên cứu về tự nhiên của triết gia” của Seneca (4 TCN - 65)
Seneca (4 TCN - 65) là một triết gia nổi tiếng thời La Mã Vậy nên, tác phẩm “Nghiên cứu về tự nhiên của triết gia” này là nơi ông đưa ra những đúc kết về tự nhiên dưới góc nhìn của một triết gia
Cuốn sách gồm 7 phần trình bày về hiện tượng tự nhiên như sấm sét, cầu vồng, nước, tuyết, gió, động đất,
- Bộ sách Tổng hợp Kết cấu toán học (Composition mathématique)
Trang 9của Claude Ptolémée
Ptôlêmê (SCN 100 - SCN 170) là nhà địa lí, thiên văn học và toán học
Trong cuốn sách, ông đã tổng kết những thành tựu khoa học của Ai Cập, Babylon và Hy Lạp, đề ra thuyết “Địa tâm”
Tuy kết luận mặt trời quay quanh quả đất là sai lầm nhưng thành tựu mà bộ sách có vẫn rất lớn: khẳng định quả đất hình cầu, có ảnh hưởng tới các nhà phát kiến địa lí thế kỷ XV – XVI Mãi đến thời Phục hưng, quan điểm này
đã bị thuyết “Nhật tâm” của Côpecnich đánh đổ
Ông cũng vẽ được bản đồ thế giới chính xác nhất lúc bấy giờ, với đất đai thuộc 3 châu: Á, Âu, Phi mà Địa trung Hải là trung tâm
=> Những thành tựu thiên văn học ở thời kỳ La Mã cổ đại được hình thành dựa trên sự quan sát, nghiên cứu, chiêm nghiệm và được ghi chép, lưu giữ cẩn thận dưới dạng những cuốn sách còn tồn tại tới hiện nay
2/ Toán Học:
Các thành tựu toán học được ra đời dựa trên sự cần thiết của việc tính toán, cần những số liệu đo đạc chính xác để xây dựng các công trình kiến trúc cùng với một số nhu cầu thực tiễn
*Thành tựu:
- Hệ thống chữ số La Mã:
Phát hiện khoảng 1000 năm TCN
Phổ biến ở châu Âu thời Trung cổ và tồn tại rất lâu sau sự suy tàn của đế chế
La Mã
Đến thế kỷ XIV, hệ thống này được thay bằng các chữ số Ả Rập hiện đại
- Hero xứ Alexandria ( 10 - 70)
Hero xứ Alexandria là nhà toán học và kỹ sư, có nhiều đóng góp cho các lĩnh vực khác nhau
Là người đầu tiên biết đến sự tồn tại của số ảo
Là người đưa ra lời giải cho các phương trình, từ đó phát triển đại số trong những năm đầu CN
Là người đưa ra công thức tính diện tích tam giác (Công thức Herong)
=> Các thành tựu Toán học thời La Mã cổ đại vẫn mang tính ứng dụng cao trong thời điểm hiện tại Các kiến thức về số La Mã, số ảo, phương trình đại số hay công thức tính diện tích tam giác nêu trên vẫn được phổ cập tại các trường học, xuất hiện trong các bài thi chính thống,
Trang 103/ Y học :
Thành tựu Y học được xuất phát từ việc cần tìm ra phương pháp để chữa trị cho các căn bệnh, sự tò mò về cơ thể con người,
*Thành tựu:
- Aurelius Cornelius Celsus (khoảng 30 TCN - 38 SCN):
Là nhà y học tài ba của La Mã cổ đại
Bộ sách "De Re Medicina" được soạn vào những năm 30 - 35 sau Công nguyên dưới triều vua Tiberius
Miêu tả các kiến thức giải phẫu học và sinh lý học
Phê phán chủ trương tàn bạo của Haemophilus và Erasistratus
Celsus đề cập nhiều vấn đề bệnh học, mô tả các bệnh lý theo từng cơ quan,
mô tả nhiều kỹ thuật ngoại khoa, đề cập 4 dấu hiệu kinh điển của viêm là
“sưng, nóng, đỏ, đau”
=>Bộ sách này được đánh giá là tác phẩm quan trọng nhất thời cổ đại Nhờ nó, chúng ta hình dung được diện mạo nền y học thời kỳ này
- Nổi bật nhất ở thế kỉ II là Claođiút Galênút:
Claođiút Galênút (130 SCN – 210 SCN) là nhà Y dược học nổi tiếng nhất La Mã
Ông đã tổng kết khoa học những tri thức về y học từ Hypocrite ( thuỷ tổ của
y học phương Tây) để viết nên những tác phẩm về y dược học và giải phẫu học, nhiều tác phẩm đến thời trung đại được dịch sang tiếng A rập, Do Thái, Latinh Trong đó, cuốn sách “Phương pháp chữa bệnh” được dùng làm sách giáo khoa trong thời gian dài
Galen còn là người tiên phong của phương pháp thí nghiệm trong giải phẫu
y học Giải thích của Galenus về y học giải phẫu được thực hiện trên khỉ và lợn (do việc giải phẫu người không được phép thực hiện vào thời đó), dù còn nhiều điều không chính xác, nhưng đã có một số sự tiệm cận với kiến thức y khoa hiện đại
Ông cũng đã chứng minh nước tiểu được hình thành trong thận (trái với niềm tin phổ biến là từ bàng quang)
Khám phá quan trọng nhất của ông là việc động mạch mang máu, dù ông không phát hiện ra sự tuần hoàn
*VÀI NÉT NỔI BẬT, KHÁC BIỆT CỦA LA MÃ CỔ ĐẠI