THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG – D16QL05 Nhóm 4 Đề bài Tìm hiểu số liệu về tình trạng thất nghiệp tại Việt nam qua các năm 2019, 2020, 2021 và thế giới ( một nước bất kỳ) I Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam qua.
Trang 1THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG – D16QL05
Nhóm 4
Đề bài: Tìm hiểu số liệu về tình trạng thất nghiệp tại Việt nam qua các năm 2019,
2020, 2021 và thế giới ( một nước bất kỳ)
I Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam qua các năm 2019-2020-2021
1 Năm 2019
Tổng cục Thống kê cho biết, năm 2019, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2019 ước gần 1,1 triệu người, giảm 5,5 nghìn người so với năm 2018 Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2019 ước là 2,16%, giảm 0,03 điểm phần trăm so với năm 2018
Thất nghiệp của lao động thanh niên trong độ tuổi từ 15-24 trong năm 2019 ước khoảng 428,5 nghìn người, chiếm 38,7% tổng số người thất nghiệp Tỷ
lệ thất nghiệp của thanh niên trong năm 2019 ước là 6,39%, giảm 0,53 điểm phần trăm so với năm 2018 (trong đó ở khu vực thành thị là 10,24%, giảm 0,22 điểm phần trăm) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15- 24 tuổi cao hơn gấp 3 lần so với tỷ lệ thất nghiệp chung do lực lượng này khi tham gia vào thị trường lao động thường có xu hướng tìm kiếm việc làm phù hợp với trình độ năng lực của mình hơn so với các nhóm dân số ở độ tuổi khác Đây là tình hình chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập hoặc đào tạo (NEET) của cả nước năm 2019 ước là 11,2%, tương đương với gần 1,3 triệu thanh niên Tỷ lệ NEET ở khu vực thành thị thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn, ở nữ thanh niên cao hơn 4,2 điểm phần trăm so với nam thanh niên Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi trong năm 2019 ước tính là 1,26% (ở khu vực nông thôn cao hơn 0,9 điểm phần trăm so với khu vực thành thị, tương ứng là 1,57% và 0,67%)
Bên cạnh đó, Kết quả TĐTDS&NO 2019 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của người dân ở khu vực thành thị và nông thôn cũng
có sự khác biệt khá lớn Việt Nam có tới 65,57% dân số cư trú ở khu vực nông thôn nhưng tỷ lệ thất nghiệp của khu vực nông thôn lại thấp hơn gần hai lần so với khu vực thành thị Tính theo vùng kinh tế, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên thất nghiệp cao nhất cả nước với 2,65% dân số; tại đây tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị là 2,96%, ở nông thôn là
Trang 22,14%; còn theo giới tính thì nữ giới lại có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam giới trong Vùng với mức tương ứng là 2,71% và 2,60% Đứng thứ 2 là Đồng bằng sông Cửu Long với tỷ lệ thất nghiệp chiếm 2,42% số dân trong vùng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với tỷ lệ 2,14% 2 Vùng kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất cả nước lần lượt là Trung du và miền núi phía Bắc 1,20% và Tây Nguyên 1,50%
Biểu 1: Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính, thành thị, nông thôn và vùng
kinh tế - xã hội
Đơn vị: %
Chung
Thành thị, nông thôn Giới tính Thành
TOÀN QUỐC 2,05 2,93 1,64 2,00 2,11
Trung du và miền núi phía Bắc 1,20 2,15 1,02 1,22 1,18
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 2,14 3,38 1,70 2,07 2,21
(Nguồn: Tổng cục thống kê, Báo cáo điều tra lao động và việc làm, 2019)
2 Năm 2020
Đại dịch Covit-19 xuất hiện tại Việt Nam đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trong tất cả các ngành và tại mọi miền trong nước từ nông thôn đến thành thị Nền kinh tế bị ngưng trệ, nhiều doanh nghiệp phải cho lao động ngừng, giãn hoặc nghỉ việc Điều này làm cho tỷ
lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động tăng kỷ lục trong vòng 5 năm gần đây cùng với đó là việc nhiều lao động rời bỏ thị trường Sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn 2016- 2019 là không có sự khác biệt theo giới, song
sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp năm 2020 đối với nữ giới là cao hơn, mức chênh lệch là rõ rệt và kéo theo xét chung trong 5 năm, giai đoạn
2016-2020, tỷ lệ thất nghiệp của nữ giới có mức độ gia tăng cao hơn nam giới Nghiên cứu cho thấy, ảnh hưởng của đại dịch đến tình trạng mất việc làm của nữ giới là nghiêm trọng hơn đối với nam, do đó làm trầm trọng thêm vấn đề bất bình đẳng giới tại Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê (2020), tỷ lệ thất nghiệp ước khoảng 2,26%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,61%; khu vực nông thôn là 1,59%; Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,48%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,88%; khu vực nông thôn là 1,75% Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) năm 2020 ước tính là 7,1%, trong đó khu
Trang 3vực thành thị là 10,63%; khu vực nông thôn là 5,45% Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở nữ giới là 76,8%, trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 81,9%, đồng thời tỷ lệ phụ nữ làm công việc ổn định thấp hơn nam giới Khi đại dịch diễn ra, các vị trí việc làm kém ổn định dễ bị tổn thương và mất việc
Do đó, trong các giải pháp hỗ trợ lâu dài, khuyến nghị tăng tỷ lệ phụ nữ làm công việc ở vị trí ổn định, kể cả cấp quản lý, đồng thời cần nâng cao nhận thức người dân về bình đẳng giới
3 Năm 2021
Theo Tổng cục Thống kê tổ chức họp báo về tình hình lao động năm 2021 cho biết trước diễn biến phức tạp và kéo dài của đợt dịch Covid-19 lần thứ tư khiến tình hình lao động việc làm năm 2021 gặp nhiều khó khăn hơn so với năm 2020.Lực lượng lao động, số người có việc làm giảm; tỷ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp tăng
so với năm trước
Qúy II và 6 tháng đầu năm 2021
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2021 là gần 1,2 triệu người, tăng 87,1 nghìn người so với quý trước và giảm 82,1 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm
2021 là 2,62%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là 3,36%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,95 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Số thanh niên từ 15-24 tuổi thất nghiệp trong quý II năm 2021 là 389,8 nghìn người, chiếm 31,8% tổng
số người thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên quý II năm 2021 là 7,47%, tăng 0,03 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,57%, cao hơn 3,11 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn
Qúy III và 9 thán năm 2021
Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là hơn 1,7 triệu người, tăng 532,2 nghìn người so với quý trước và tăng 449,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III năm 2021 là 3,98%, tăng 1,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,25 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 lần thứ tư và thời gian giãn cách xã hội kéo dài ở nhiều địa phương đã đẩy tỷ lệ thất nghiệp quý III năm 2021 vượt xa con số 2% như thường thấy Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là 5,54%, tăng 2,18 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,60 điểm phần trăm so
Trang 4với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý III năm 2021 là 8,89%, tăng 1,42 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,75 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 12,71%, cao hơn 5,56 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn
Qúy IV năm 2021
Số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý IV năm 2021 là gần 1,5 triệu người, giảm 381,1 nghìn người so với quý trước và tăng 635,9 nghìn người
so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý IV năm 2021 là 3,37%, giảm 1,09 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 1,55 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị cao hơn so với khu vực nông thôn (tương ứng là 4,06% và 2,95%) Đây là quý thứ 3 liên tiếp thị trường lao động chứng kiến tình trạng tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Tình trạng này trái ngược với xu hướng thị trường lao động trong những năm trước đại dịch Covid-19
Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động, các quý năm
2020 và 2021
Trang 5(Nguồn: Tổng cục thống kê, Báo cáo điều tra lao động và việc làm, 2019)
II Thực trạng thất nghiệp ở Thế giới (Hoa Kỳ)
Kể từ khi đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 bùng phát tại Mỹ, nền kinh
tế nước này phải đối mặt với những thách thức của một thời kỳ bất ổn chưa từng có: Kinh tế rơi vào suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, doanh nghiệp phá sản hàng loạt Mặc dù chính quyền Tổng thống Donald Trump đã đưa ra nhiều biện pháp chưa có tiền lệ để vực dậy nền kinh tế, song những diễn biến khó lường của đại dịch COVID-19 vẫn đang "thử thách" sức bật của nền kinh tế lớn nhất thế giới
Kinh tế ngày càng trượt dốc
Theo số liệu của Chính phủ Mỹ, GDP của nền kinh tế lớn nhất thế giới đã tuột dốc 9,5% trong quý II/2020, giảm 32,9% so với cùng kỳ năm trước Đây là mức giảm sâu nhất của một quý, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, xóa sạch thành quả tăng trưởng kinh tế trong 5 năm qua và ghi dấu mức tăng trưởng tồi tệ nhất tính từ năm 1947 Cùng với mức giảm gần 5% trong quý I/2020, nền kinh tế Mỹ đã chính thức rơi vào suy thoái lần đầu tiên kể từ năm 2009
Nguyên nhân chính của đợt suy thoái quý vừa qua là do người tiêu dùng Mỹ cắt giảm chi tiêu tới 34,6% so với cùng kỳ năm 2019, trong khi đây là yếu tố đóng góp đến 2/3 GDP Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), dịch COVID-19 chính là mối đe dọa lớn nhất của nền kinh tế Mỹ hiện nay Tác động của cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng này thể hiện rõ nhất qua tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh và tình trạng thua lỗ tài chính của các doanh nghiệp nhỏ
Báo cáo của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) cho thấy, các doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất do dịch COVID-19 và gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu Tính cả quý II/2020, thời điểm mà dịch COVID-19 bùng phát dữ dội, sản lượng công nghiệp của Mỹ giảm 42,6% so với cùng kỳ năm ngoái Đây cũng là mức giảm theo quý lớn nhất đối với lĩnh vực công nghiệp Mỹ kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II Trong đó, lĩnh vực chế tạo giảm tới 47% trong cả quý II
Tình hình đầu tư cũng trở nên ảm đạm với mức giảm tới 27% so với cùng kỳ năm
2019 Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên 14,7% vào tháng 4/2020, mức cao nhất kể từ cuộc đại khủng hoảng những năm 30 thế kỷ trước cũng tạo gánh nặng lớn cho kinh tế Mỹ
Trong khi đó, một số biện pháp can thiệp, như: Hạ lãi suất cơ bản của đồng USD xuống mức gần 0% hay bơm hàng tỷ nghìn tỷ USD vào nền kinh tế; Chính phủ Mỹ tung ra các gói cứu trợ vài nghìn tỷ USD… chưa đạt được nhiều hiệu quả rõ ràng Theo Hãng Nghiên cứu IHS Markit, nếu không có giải pháp phù hợp, kinh tế Mỹ
có 20% rủi ro sẽ rơi vào tình trạng suy thoái kép Tỷ lệ rủi ro sẽ tăng lên nếu nỗ lực
Trang 6kiểm soát dịch bệnh không đạt kết quả tích cực, cũng như việc Nhà Trắng và Quốc hội Mỹ không thể tìm tiếng nói chung về các gói cứu trợ mới
Giới chuyên gia đều nhận định, tình hình kinh tế Mỹ sẽ diễn biến xấu đi trong thời gian tới, khi hầu hết các chính sách cứu trợ của Chính phủ Mỹ sẽ hết hiệu lực khiến tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp thêm bất an
Triển vọng khó đoán định
Theo tờ Washington Post, triển vọng kinh tế Mỹ trong ngắn hạn sẽ không có nhiều tín hiệu khả quan qua các dự báo của giới phân tích Các Thống đốc bang đã yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh không thiết yếu phải đóng cửa để ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 sau khi mở cửa trở lại một phần nền kinh tế
Mặc dù giải pháp này là cần thiết và phù hợp để đối phó với đại dịch, song trên phương diện kinh tế, đây chính là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến tăng trưởng sụt giảm nghiêm trọng mà theo dự báo có thể lên tới 50% Đây là hệ lụy từng xảy ra trong thời kỳ Đại Suy Thoái, song không kéo dài
Theo dự báo Ủy ban Thị trường Mở Liên bang thuộc Fed, GDP của Mỹ có thể giảm tới 6,5% trong năm 2020, sau đó bật tăng trở lại 5% vào năm 2021 và 3,5% trong năm 2020 Những diễn biến trong thời điểm hiện nay cho thấy, dự báo này là hoàn toàn có cơ sở Giới phân tích cho rằng, trong các chỉ số chi phối đến triển vọng kinh tế Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp cao ở mức báo động là mối quan ngại lớn đối với Chính phủ
Tỷ lệ thất nghiệp trung bình được dự báo là 9,3% trong năm 2020, cao hơn nhiều
so với tỷ lệ thất nghiệp mục tiêu do Fed đề ra và có thể ở mức 6,5% trong năm
2021, 5,5% trong năm 2022 Tỷ lệ này đã tăng lên mức kỷ lục 14,7% vào tháng 4/2020 và hơn 20 triệu lao động đã mất việc do đại dịch Đáng chú ý, tỷ lệ thất nghiệp thực tế còn phải kể đến những trường hợp bán thất nghiệp, hay còn gọi là tình trạng người lao động vẫn có việc làm nhưng không làm hết năng suất
Do đó, con số thất nghiệp thậm chí còn có thể cao hơn nhiều so với tỷ lệ công bố Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ dự báo, kinh tế Mỹ có thể suy giảm 38%, số người thất nghiệp có thể lên tới 26 triệu Tình hình của quý III/2020 có thể được cải thiện, song không đủ để bù đắp những thiệt hại trước đó Những hệ lụy tiêu cực
sẽ lan sang quý IV/2020, với sản lượng kinh tế thấp hơn và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn
Các chuyên gia kinh tế cấp cao nhận định, Mỹ đang chứng kiến những bằng chứng cho thấy đà phục hồi kinh tế đang chậm lại, thậm chí dường như xu hướng tăng trưởng đi ngang sẽ diễn ra, kinh tế Mỹ sẽ tiếp tục trong tình trạng đình đốn Trong khi hàng triệu người dân Mỹ vẫn đang thất nghiệp, nhiều người lo ngại rằng tình trạng thất nghiệp tạm thời có thể trở thành vĩnh viễn nếu tình hình dịch bệnh không
Trang 7được cải thiện Một nghiên cứu mới đây của California Policy Lab cho thấy, có tới 57% số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp tại bang này kể từ khi đại dịch bắt đầu bùng phát và những người này sau đó tiếp tục mất việc hoặc bị cắt giảm giờ làm Các chuyên gia kinh tế cho biết, làn sóng thất nghiệp thứ hai tập trung vào lĩnh vực khách sạn, giải trí, bán lẻ, các dịch vụ xã hội và chăm sóc sức khỏe Những đối tượng chịu tác động của làn sóng này gồm phụ nữ, người lao động trẻ được đào tạo ở trình độ thấp, người Mỹ gốc Tây Ban Nha và gốc Phi
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng cảnh báo, số liệu về tình trạng thất nghiệp là một dấu hiệu đáng ngại giữa lúc nhiều người Mỹ không thể quay trở lại làm việc sau khi nền kinh tế bị dịch bệnh tàn phá vào đầu năm nay Hiện, các nghị sĩ Mỹ đang đàm phán về một gói kích thích mới lên tới hàng nghìn tỷ USD hết sức cần thiết cho nền kinh tế lớn nhất thế giới Một số yếu tố khác cũng sẽ tác động tiêu cực đến triển vọng kinh tế Mỹ là chỉ số lạm phát và giá dầu Một mặt, lạm phát sẽ
ở mức 0,8% trong năm 2020, tăng lên 1,6% trong năm 2021 và 1,7% trong năm
2022 Fed thường dùng lạm phát lõi (không tính biến động của giá thực phẩm và năng lượng) làm cơ sở để hoạch định chính sách tiền tệ
Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ vào năm 2021 là 5.46% theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới Theo đó chỉ số Tỷ lệ thất nghiệp Hoa Kỳ giảm 2.59 điểm phần trăm so với con số 8.05% trong năm 2020 Ước tính Tỷ lệ thất nghiệp Hoa Kỳ năm
2022 là 3.70% nếu tình hình kinh tế xã hội vẫn như năm vừa rồi Với giả định tình hình kinh tế Hoa Kỳ và kinh tế thế giới không có nhiều biến động Số liệu Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ được ghi nhận vào năm 1991 là 6.80%, trải qua khoảng thời gian 31 năm, đến nay số liệu Tỷ lệ thất nghiệp mới nhất là 5.46% Tỷ lệ thất nghiệp Hoa Kỳ đạt đỉnh cao nhất là 9.63% vào năm 2010
Trang 8Quan sát Biểu đồ Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ giai đoạn 1991 - 2021 chúng ta có thể thấy trong gian đoạn 1991 - 2021 chỉ số Tỷ lệ thất nghiệp: đạt đỉnh cao nhất vào năm 2010 là 9.63% có tỷ lệ thấp nhất vào năm 2019 là 3.67%
Bảng số liệu Tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ qua các năm
1 Các giải pháp, chính sách nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn 2019-2021
Trang 9 Xuất phát từ các yếu tố tác động đến tỷ lệ thất nghiệp và nền kinh tế thị trường của Việt Nam, Chính phủ nỗ lực đưa ra các giải pháp kịp thời, hiệu quả và phù hợp
Thứ nhất, giảm thiểu tối đa số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, phá sản:
Chính phủ đưa ra các chính sách, gói hỗ trợ cho doanh nghiệp tiêu biểu là gói kích cầu kinh tế 280.000 tỷ đồng (theo chỉ thị 11 của Thủ tướng Chính Phủ ngày 04/03/2020) để hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó, đảm bảo an sinh xã hội Cụ thể bao gồm:
+ Gói tín dụng 250.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay kịp thời; cho vay với lãi suất thấp, ưu đãi hơn (giảm 0,5%-1,5%); rút ngắn thời gian xét duyệt vay vốn…
+ Gói hỗ trợ tài khóa 30.000 tỷ đồng để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch bệnh Covid-19 Giải pháp này
đã phần nào giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định Tình trạng thất nghiệp được cải thiện khi mà các doanh nghiệp hoạt động trở lại, nền kinh tế thị trường ổn định hơn
Thứ hai, chú trọng đào tạo và tự đào tạo nghề:
Hỗ trợ, khuyến khích các lao động cải thiện kỹ năng, nâng cao trình độ lao động theo kịp xu hướng phát triển công nghệ kỹ thuật của thế giới và xu hướng chuyển đổi số của đất nước, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia Tập trung ưu tiên đào tạo thế hệ thanh niên có kỹ năng, bằng cấp, chứng chỉ cần thiết để có được công việc ổn định
Thứ ba, mở rộng thị trường xuất khẩu lao động:
Việt Nam đến nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 trong 200 quốc gia trên toàn thế giới; thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì lợi ích của mỗi nước và vì hòa bình, hợp tác
và phát triển ở khu vực và trên thế giới Với nền tảng ngoại giao tốt, Chính Phủ Việt Nam đã có các cuộc trao đổi và thỏa thuận cùng lãnh đạo nhiều nước về xuất khẩu lao động Đặc biệt, thị trường xuất khẩu lao động của người lao động Việt Nam chủ yếu là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan Nhà nước Việt Nam cùng Nhà nước các quốc gia nhận lao động tạo nhiều điều kiện và cơ hội cho sinh viên, học sinh và người lao động Bên cạnh đó, nhằm nâng cao chất lượng của lực lượng xuất khẩu lao động, Chính phủ đã yêu cầu các cơ quan chức năng cũng như các doanh nghiệp cung ứng xuất khẩu lao động phải tổ chức các khóa học bồi dưỡng cho xuất khẩu lao động
Trang 10trước khi ra nước ngoài Công tác đào tạo nghề và kỹ năng cho các lao động chuẩn bị đi xuất khẩu được coi là khâu then chốt để xuất khẩu lao động có thể thâm nhập vào các thị trường mới, đòi hỏi trình độ tay nghề cao Các khóa học này trang bị một khối lượng kiến thức khá đa dạng như: phổ biến pháp luật và quy định của quốc gia sở tại, đào tạo nghề và nâng cao trình độ tay nghề trong trường hợp nước tiếp nhận yêu cầu; các lớp học
và phổ cập ngoại ngữ cũng như các lớp bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho xuất khẩu lao động Nhờ được tham gia các lớp học này, khoảng cách giữa khả năng của xuất khẩu lao động và yêu cầu của các doanh nghiệp tiếp nhận xuất khẩu lao động của Việt Nam được thu hẹp lại, được các bên có liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động đánh giá cao
Thứ tư, đẩy mạnh công tác giáo dục hướng nghiệp, phân luồng trong giáo dục gắn với nhu cầu của xã hội:
Việc hướng nghiệp được Bộ giáo dục chú trọng thực hiện sớm cho lứa tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên có thể sớm tiếp cận được với các thông tin
về ngành học, nghề nghiệp tương lai Điều này sẽ giúp cho các em có thể lựa chọn đúng ngành nghề phù hợp với sở thích, khả năng, có hiểu biết cơ bản về công việc định hướng trong tương lai Ngày 14, tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định phê duyệt Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025” nhằm tạo bước đột phá về chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước và địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế
Ngoài ra còn một số giải pháp và chính sách nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2019-2021 Đa số các giải pháp và chính sách đều mang lại hiệu quả tích cực; ược đề xuất và tiến hành nhanh chóng, triệt để Có thể nhận ra được Chính Phủ Việt Nam vẫn luôn nỗ lực trong việc cải thiện tình trạng thất nghiệp, nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả tích cực thì có một số giải pháp chưa tối ưu hóa, và có thể để lại hệ lụy cho nền kinh tế vĩ mô của đất nước
2 Đề xuất giải pháp giảm tỷ lệ thất nghiệp cho giai đoạn tiếp theo
Trong giai đoạn tiếp theo, nền kinh tế thế giới và Việt Nam đều bước vào giai đoạn phục hồi sau những tổn thất lớn mà đại dịch Covid-19 đã mang tới, là cơ hội tốt để giảm tỷ lệ thất nghiệp khi mà nền kinh tế ổn định trở lại Chính phủ