1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Tiểu luận) Thông tin đối ngoại qua thực tiễn tổ chức sản xuất thông tin thời sự quốc tế trên kênh VTV1

26 10 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thông tin đối ngoại qua thực tiễn tổ chức sản xuất thông tin thời sự quốc tế trên kênh VTV1
Tác giả Phạm Mai Hương
Trường học Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Chuyên ngành Báo chí đối ngoại và Truyền thông quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 415,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word Thông tin đối ngoại vtv1 docx HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TIỂU LUẬN MÔN BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI VÀ TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI QUA THỰC TIỄN TỔ CHỨC SẢN XUẤT THÔNG TIN THỜI.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TIỂU LUẬN MÔN: BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI VÀ TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ

THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI QUA THỰC TIỄN TỔ CHỨC SẢN XUẤT

THÔNG TIN THỜI SỰ QUỐC TẾ TRÊN KÊNH VTV1

Học viên: Phạm Mai Hương Lớp: Cao học Báo chí 27.2

HÀ NỘI 2023

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

Chương 1 3

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI 3

1.1 Khái niệm thông tin đối ngoại 3

1.2 Yêu cầu công tác tổ chức sản xuất thông tin thời sự quốc tế đáp ứng nhu cầu của công chúng báo chí thời kỳ hội nhập 7

Chương 2 THỰC TRẠNG THÔNG ITN ĐỐI NGOẠI QUA THỰC TIỄN TỔ CHỨC SẢN XUẤT THÔNG TIN THỜI SỰ QUỐC TẾ TRÊN VTV1 10

2.1 Giới thiệu về cơ quan khảo sát 10

2.2 Thực trạng tổ chức sản xuất chương trình thời sự quốc tế trên kênh VTV1 14

2.3 Đánh giá chung 20

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong khi đó những năm qua, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh cũng tạo ưu thế cho ngành truyền hình phát triển nhanh chóng như vũ bão Và mới đây, nằm trong khuôn khổ đề án số hóa truyền hình Việt Nam, ngày 15/8/2016,

Bộ Thông tin và Truyền thông thông báo ngưng phát sóng truyền hình tương

tự mặt đất (sử dụng công nghệ analog) tại thành phố Hà Nội Thay vào đó, các kênh truyền hình tương tự mặt đất sẽ được chuyển sang phát trên hệ thống truyền hình kỹ thuật số Tuy nhiên như vậy, những chuyển đổi trong công nghệ

và khoa học kỹ thuật khiến ngành truyền hình cũng phải nhanh chóng xây dựng

và hoàn tất một lộ trình thích ứng kịp thời với thời cuộc

Đứng trước những thách thức của xu thế toàn cầu hoá cũng như sự đa dạng hoá các kênh truyền hình như hiện nay, những tác động khách quan tác động đa chiều khiến truyền hình ở Việt Nam phải nỗ lực đi lên, thông tin hiệu quả, kịp thời

và nhanh chóng đến công chúng, vừa thỏa mãn nhu cầu thông tin vừa thực hiện chức năng tuyên truyền định hướng thông tin dư luận của báo chí

Trong đó, nhận định công tác tổ chức sản xuất chương trình thời sự có một vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện các chương trình truyền hình nói chung, và thông tin thời sự quốc tế nói riêng Mặt khác, việc nhận thức được những hạn chế, yếu kém và những khó khăn thách thức cần vượt qua trong giai đoạn hiện nay của công tác tổ chức sản xuất thông tin thời sự quốc tế cũng

sẽ tạo động lực thúc đẩy đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, biên tập viên của bộ phận Quốc tế các Đài truyền hình nhanh chóng xây dựng kế hoạch hành động và hướng tới mục tiêu thiết thực để nâng cao hiệu quả chất lượng tổ chức sản xuất chương trình thông tin thời sự quốc tế

Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài: “Thông tin đối ngoại qua thực tiễn tổ chức sản xuất thông tin thời sự quốc tế trên kênh VTV1” làm tiểu luận kết thúc môn học

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI 1.1 Khái niệm thông tin đối ngoại

Ngày nay, chúng ta thường xuyên bắt gặp các thuật ngữ “thông tin đối ngoại”, “công tác thông tin đối ngoại”, “người làm công tác thông tin đối ngoại”… trên các phương tiên truyền thông đại chúng Tuy nhiên, chưa có định nghĩa chính thức nào về thông tin đối ngoại được các cơ quan, tổ chức đưa ra Tuy nhiên, theo những quan điểm, lập luận khác nhau của từng cá nhân hay tập thể đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này Theo đó, thông tin đối ngoại được coi là công cụ quan trọng mà các quốc gia đều ra sức triển khai nhằm ảnh hưởng tới dư luận quốc tế phục vụ những mục tiêu chung hoặc mục tiêu cụ thể của chính sách đối ngoại

Trên thế giới có một số thuật ngữ mang tính chất của hoạt động thông tin đối ngoại Cụm từ “Foreign Affair” là cụm từ được sử dụng nhiều nhất, nhắc đến như vai trò thông tin đối ngoại Theo từ điển mạng điện tử www.dictionary.com, có hai cách định nghĩa về cụm từ “Foreign Affair” Một

là, đây là “các hoạt động của một quốc gia trong các quan hệ với các quốc gia khác và trong các quan hệ quốc tế” Hai là, đây là “các công việc liên quan tới quan hệ quốc tế và lợi ích quốc gia với nước ngoài” Cả hai định nghĩa, cách hiểu đều phản ảnh và khái quát được tính chất chung của thông tin đối ngoại: mối quan hệ quốc tế và lợi ích quốc gia Tuy nhiên, hai cách hiểu này chưa nhấn mạnh được đặc điểm chính của thông tin đối ngoại

Một cụm từ khác cũng được hiểu mang nghĩa tương đương thông tin đối ngoại là “Public Diplomacy” Theo từ điển Thuật ngữ Quan hệ quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ ra, đó là những chương trình được chính phủ bảo trợ nhằm thông tin và tác động lên quan điểm nhân dân các nước khác với phương diện hoạt động chủ yếu là thông qua các ấn phẩm, phim ảnh, giao lưu văn hóa, phát thanh, truyền hình Tuy nhiên, thuật ngữ này thực chất tương đồng với

Trang 5

ngoại giao nhân dân, đối ngoại nhân dân, tức là một trong các loại hình đối ngoại

Trong Chỉ thị số 10/2000/CT-TTg, ngày 26/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại, có đưa ra quan niệm về thông tin đối ngoại dựa trên chính những nhiệm vụ của thông tin đối ngoại: “Thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng của công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta nhằm làm cho các nước, người nước ngoài (bao gồm cả người nước ngoài đang sinh sống, công tác tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài hiểu về đất nước con người Việt Nam, đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở

đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Tuy nhiên, đây chưa hẳn là định nghĩa mà mới chỉ dừng lại ở liệt kê các nhiệm vụ chính của thông tin đối ngoại

Theo cuốn “Sổ tay công tác Thông tin đối ngoại”, Nhà xuất bản Thông tin Truyền thông, năm 2012, dưới sự chỉ đạo biên soạn của PGS TS Phạm Văn Linh, định nghĩa về công tác thông tin đối ngoại như sau: “Thông tin đối ngoại

là thông tin quảng bá hình ảnh quốc gia, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam; thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam ra thế giới và thông tin về thế giới vào Việt Nam”

Bên cạnh yếu tố thực tiễn, ta có thể bám sát khái niệm thông tin đối ngoại trên phương diện ngôn ngữ Theo từ điển tiếng Việt, “Thông tin” là “Truyền tin cho nhau để biết”, “Đối ngoại” là “Đối với nước ngoài, bên ngoài, nói về

đường lối, chính sách, sự giao thiệp của một Nhà nước, một tổ chức” Từ đó ta

có thể xây dựng định nghĩa về thông tin đối ngoại với nội dung: Thông tin đối ngoại có thể được hiểu là những tin tức, thông báo, tri thức về một sự vật, hiện tượng được con người tiếp nhận và chọn lựa một cách có chủ đích để sử dụng trong hoạt động truyền tải thông điệp ra bên ngoài lãnh thổ một quốc gia hay

Trang 6

cho các đối tượng là người nước ngoài nhằm mục đích cung cấp thông tin chính thống, xác thực và tích cực nhằm nâng cao hình ảnh quốc gia đó trong mắt bạn

bè quốc tế, để họ hiểu rõ, ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác cùng phát triển Dù khác nhau về từ ngữ, nhưng ta có thể nhận thấy những đặc điểm chung của khái niệm thông tin đối ngoại Đó là việc đưa thông tin có chủ đích ra ngoài lãnh thổ nhằm phục vụ cho một số lợi ích của quốc gia

Bằng những khái niệm nêu trên có thể đưa ra khái niệm chung nhất, quản lý thông tin đối ngoại trên báo mạng điện tử là là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của cơ quan quản lý báo chí, cơ quan chủ quản và đội ngũ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan báo chí đến đối tượng quản lý nhằm đạt những mục tiêu đề ra về thông tin đối ngoại

Theo cách hiểu trên, các chủ thể quản lý sử dụng các công cụ, hình thức quản lý khác nhau tác động tới đội ngũ nhân lực tham gia tổ chức sản xuất các sản phẩm báo chí nhằm thực hiện hai chiều thông tin Một là, thông tin về tình hình trong nước ra nước ngoài Đối với công tác này, nội dung thông tin thay đổi tùy thuộc vào từng địa bàn, từng giai đoạn phát triển của quốc gia đó, cũng như từng đối tượng và yêu cầu đặt ra tại từng thời điểm để xác định nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm phù hợp Hai là, thông tin về tình hình thế giới, khu vực vào trong nước Với tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin và trình độ dân trí ngày càng cao, người dân có khả năng tiếp cận trực tiếp với mọi thông tin trên thế giới thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, do đó, truyền thông đối ngoại có nhiệm vụ hết sức quan trọng là đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân về tình hình quốc tế và đường lối, chính sách đối ngoại của đất nước

Đối với Việt Nam, việc quản lý thông tin đối ngoại trên báo chí nói chung

và báo mạng điện tử nói riêng luôn có vị trí quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Do đó, ngay từ những ngày đầu đấu tranh giành độc lập cho đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng công tác truyền thông đối ngoại Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 10-5-1962, của Bộ Chính trị, về

Trang 7

công tác tuyên truyền đối ngoại đã xác định công tác tuyên truyền đối ngoại là một bộ phận của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng của nước ta trên phạm vi toàn thế giới; phục vụ chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Tiếp đó, nhiều văn bản quan trọng khác của Đảng và Nhà nước đã được ban hành, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về hoạt động thông tin truyền thông đối ngoại qua các thời kỳ phát triển, như: Chỉ thị số 11-CT/TW, ngày 13-6-

1992, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, về đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại; Chỉ thị số 10/2000/-CT/TTg, ngày 26-4-2000, của Thủ tướng Chính phủ, về tăng cường quản lý và đẩy mạnh công tác thông tin đối ngoại; Chỉ thị số 26-CT/TW, ngày 10-9-2008, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X, về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác thông tin đối ngoại trong tình hình mới… Đặc biệt, ngày 14-2-2012, Bộ Chính trị khóa XI đã ra Kết luận số 16-KL/TW về chiến lược thông tin đối ngoại giai đoạn 2011 - 2020, xác định rõ thông tin đối ngoại là một bộ phận rất quan trọng trong công tác tuyên truyền và công tác tư tưởng của Đảng ta, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài Thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định

số 368/QĐ-TTg, ngày 28-2-2013, phê duyệt Chương trình hành động của Chính phủ, về thông tin đối ngoại giai đoạn 2013 - 2020 Các văn bản trên là minh chứng cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta trong việc khẳng định tầm quan trọng của truyền thông đối ngoại trong giai đoạn mới Bởi:

Xét về lợi ích quốc gia, thực hiện tốt việc quản lý thông tin đối ngoại trên báo mạng điện tử sẽ giúp thế giới hiểu hơn về đất nước, con người, về những giá trị văn hóa, vật chất, tinh thần của dân tộc Việt Nam; nâng cao hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; góp phần thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và hội nhập quốc tế của đất nước ta, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Thực hiện tốt công tác truyền thông đối

Trang 8

ngoại còn góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm ổn định kinh tế - xã hội

Trong bối cảnh hiện nay, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, tham gia nhiều “sân chơi” mới, có nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với sự phát triển của kinh

tế, việc quản lý tốt thông tin đối ngoại càng đóng vai trò quan trọng

1.2 Yêu cầu công tác tổ chức sản xuất thông tin thời sự quốc tế đáp ứng nhu cầu của công chúng báo chí thời kỳ hội nhập

Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, công chúng báo chí càng có sự chọn lọc thông tin ngày càng rõ nét Chính vì vậy, làm sao để có những thông tin chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của công chúng báo chí nhất là những thông tin thời sự quốc tế đòi hỏi cơ quan báo chí phải hết sức chú ý và đầu tư vào công tác tổ chức thông tin cả về công tác tổ chức sản xuất và công tác tổ chức quản lý

Thứ nhất, đó là nhanh và tuyệt đối chính xác Ngày nay người ta có thể

tiếp cận tin tức một cách nhanh chóng từ rất nhiều kênh khác nhau, có thông tin tốt nhưng bên cạnh đó cũng có những thông tin xấu, sai lệch so với sự thật Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, các cơ quan báo chí nếu không làm chủ được thông tin đồng nghĩa sẽ tuột khỏi tay một vũ khí cực kỳ sắc bén Các

cơ quan báo chí của Đảng và Nhà nước phải giữ vai trò chi phối thông tin Để thực hiện được điều đó, không có cách nào khác các cơ quan báo chí phải giữ được quyền chủ động trong thông tin, thông tin phải thật nhanh, đặc biệt là phải chính xác và đúng định hướng Thông tin của các cơ quan báo chí nếu sai lệch

sẽ có hậu quả rất khó lường, khiến cho đại đa số công chúng báo chí nghe theo dẫn đến những tri thức sai lệch, ảnh hưởng đến kiến thức của công chúng báo chí, cao hơn, nếu không cảnh giác cao độ và sửa chữa kịp thời, những thế lực thù địch sẽ nhân cơ hội này lợi dụng để thực hiện những âm mưu, ý đồ xấu đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

Trang 9

Riêng về phần thông tin thời sự quốc tế, muốn nhanh và chính xác thì bản thân phóng viên, biên tập viên phải nắm rõ được dư luận trong nước quan tâm đến vấn đề gì để dùng thông tin bên ngoài làm rõ những vấn đề trong nước

Ví dụ như vấn đề thị trường, tìm thị trường, nguồn vốn, kinh nghiệm phát triển những khu chế xuất, khu công nghiệp nước ngoài

Bên cạnh sự nhanh nhạy và kịp thời, mỗi tác phẩm báo chí khi phát hành đều phải bảo đảm độ chính xác, không phải vì nhanh mà quên mất một yêu cầu

có tính chất sống còn đối với báo chí là chính xác và trung thực Điều này đòi hỏi những người làm công tác thông tin thời sự quốc tế phải giỏi ngoại ngữ để hiểu đúng vấn đề và phải cẩn trọng trong từng câu chữ hay con số Việc bảo đảm được sự nhanh nhạy và chính xác của thông tin là một vấn đề tưởng chừng như đơn giản nhưng thực tế lại là một bài toán khó Chính vì thế một trong những yêu cầu quan trọng đối với các biên tập viên là phải thường xuyên rèn luyện tính cẩn thận, làm việc nhanh nhạy nhưng không được cẩu thả

Thứ hai, đó là đúng định hướng Nhanh và chính xác vẫn chưa đủ bởi

một tiêu chí tuyệt đối quan trọng đối với mỗi tác phẩm báo chí phải là đúng định hướng, phù hợp với đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta Một tin tức sai định hướng không còn là vũ khí sắc bén mà còn phản tác dụng, thậm chí có thể gây tác hại không nhỏ khi nó làm nhiễu, gây hoang mang trong dư luận xã hội Hậu quả là các thông tin đó sẽ bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống lại Đảng và Nhà nước ta

Đưa tin đúng định hướng không phải là một vấn đề dễ dàng với người làm công tác thông tin thời sự quốc tế Trong một thế giới ngổn ngang các sự kiện, đầy ắp các câu hỏi cần giải đáp, cộng với nguồn tin dồn dập đến từ nhiều hướng khác nhau khiến cho việc đưa tin trở nên khó khăn hơn Do đó, các phóng viên, biên tập viên phải không ngừng nâng cao nhận thức chính trị để không bị ảnh hưởng của các thế lực phương Tây và bảo đảm rằng thông tin mà chúng ta đưa ra có lợi nhất cho đất nước, không đi ngược lại đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước Khi đưa thông tin quốc tế nếu không tỉnh táo, biên tập viên rất dễ bị sa đà vào việc tuyên truyền những chính sách, quan điểm

Trang 10

không phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Và như vậy

vô hình chung chúng ta đã công khai thừa nhận các chính sách này Đứng trước một khối lượng thông tin khổng lồ, phức tạp, đa dạng về cả nội dung và xu hướng tư tưởng, các biên tập viên phải có ý chí vững vàng, tỏ rõ năng lực sáng tạo và bản lĩnh nghề nghiệp của mình

Thứ ba, đó là đa dạng hoá các đề tài Năng lực sáng tạo trước hết thể hiện

ở khả năng phát triển những tin tức cần thông tin, trên cơ sở xác định những giá trị của chúng đối với đời sống con người Ngoài ra nó còn thể hiện khả năng phân tích thông tin, tìm hiểu nguyên nhân, bản chất các sự kiện, dự báo diễn biến, hậu quả của chúng, đánh giá các ý nghĩa (tích cực hoặc tiêu cực) của chúng đối với con người, cộng đồng quốc gia hay khu vực… và hình thành tác phẩm báo chí phù hợp

Có một định kiến tồn tại khá lâu trong công chúng, thậm chí trong một

bộ phận báo giới là người làm công tác thông tin thời sự quốc tế không cần nhiều sự sáng tạo, hoặc nói chung không cần sáng tạo như phóng viên trong nước vì họ dễ dàng tìm được, khai thác được những nguồn tin nước ngoài và công việc của họ chủ yếu là sao chép và biên tập lại Định kiến này chẳng qua

là sự chưa hiểu hết về tính chất và đặc thù của thông tin quốc tế

Thứ tư, đó là các hình ảnh phải chân thực, ấn tượng Ngoài những yếu tố

về mặt nội dung như trên, những hình ảnh để minh hoạ cho những chương trình mang thông tin thời sự quốc tế cũng phải tránh mắc những lỗi sai sót về mặt kỹ thuật hình ảnh, và phải chân thực, ấn tượng, khắc hoạ được đúng nội dung của chương trình, phù hợp với thị hiếu của khán giả Tránh trường hợp xảy ra sai sót

về mặt kỹ thuật hình ảnh tiền kỳ, hậu kỳ dẫn đến những hình ảnh minh hoạ thiếu logic, sai lệch hoặc không phù hợp với nội dung thông tin, hình ảnh “không sạch”, xuất hiện logo kênh khác to hoặc chìm không xoá được, hình ảnh hiện những từ ngữ, ký tự… không phù hợp với nội dung thông tin Đối với lĩnh vực truyền hình, hình ảnh minh hoạ là một yếu tố rất quan trọng làm nên hiệu quả trong quá trình thông tin từ nhà đài đến khán thính giả

Trang 11

Chương 2 THỰC TRẠNG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI QUA THỰC TIỄN TỔ CHỨC SẢN XUẤT THÔNG TIN THỜI SỰ QUỐC TẾ TRÊN

VTV1 2.1 Giới thiệu về cơ quan khảo sát

Ngày 04/01/2968, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị ký quyết định số

01/TTG-VP cho phép Tổng cục Thông tin (trực thuộc Chính phủ) thành lập “Xưởng phim vô tuyến truyền hình Việt Nam” Đây là một xưởng phim nhựa 16 ly, có nhiệm vụ làm phim thời sự tài liệu truyền hình gửi ra nước ngoài nhờ Đài truyền hình các nước xã hội chủ nghĩa phát trên sóng của họ để tuyên truyền đối ngoại, đồng thời hướng dẫn và hợp tác với các đoàn làm phim vô tuyến truyền hình nước ngoài đến quay phim ở Việt Nam

Ngày 7/9/1970, chương trình truyền hình thử nghiệm đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được phát sóng Chương trình này do Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện

Năm 1971, Chính phủ đã quyết định chuyển xưởng phim vô tuyến truyền hình

từ Tổng cục Thông tin sang Đài Tiếng nói Việt Nam, tăng cường cho truyền hình một đội ngũ làm phim thời sự tài liệu có kinh nghiệm thực tế và có một số vốn tư liệu quý

Giữa năm 1966, Mỹ đưa truyền hình vào miền Nam Khi nhận được thông tin này, bộ biên tập và đội ngũ cán bộ kỹ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam quyết tâm chuẩn

bị cho được truyền hình để có thể tiếp quản và điều hành các Đài truyền hình miền Nam ngay sau khi giải phóng Nhiều đoàn cán bộ, kỹ thuật viên được gửi ra nước ngoài học truyền hình Sau một thời gian dài nỗ lực của đội ngũ đông đảo cán bộ, kỹ thuật viên, ngày 7/9/1970 chương trình truyền hình đầu tiên được tổ chức trong phòng thu nhạc lớn, thường gọi là Studio M, của Đài Tiếng nói Việt Nam tại trụ sở 58 Quán Sứ Chương trình thử nghiệm này dài 60 phút, bao gồm thời sự, ca nhạc, thiếu nhi Trong

đó, tin tức thời sự có thời lượng 15 phút, do phát thanh viên đọc trực tiếp trên micro Hai phát thanh viên đảm nhiệm nhiệm vụ này là Lan Hương và Việt Khoa Ngày phát sóng đầu tiên này cũng là ngày kỷ niệm truyền thống của Truyền hình Việt Nam

Trang 12

Sau ngày 7/9/1970, Chính phủ chính thức giao cho Đài Tiếng nói Việt Nam nhiệm vụ làm truyền hình thử nghiệm Với những thiết bị ban đầu còn nghèo nàn, tối 27/01/1971 (tối 30 Tết Tân Hợi), nhân dân Thủ đô Hà Nội được xem chương trình truyền hình đầu tiên của Việt Nam Chương trình được phát sóng từ 19h đến 22h với các chuyên mục: Thời sự, ca nhạc, phim tài liệu, phim truyện Việt Nam Trong đó, chương trình thời sự kéo dài 30 phút, gồm thời sự trong nước và thế giới do các phát thanh viên thay nhau đọc trước micro, thu vào camera điện tử chuyển thẳng đến máy phát đưa lên cột ăng ten Sau đó, mỗi tuần lễ phát chương trình thử nghiệm hai tối, mỗi tối hai tiếng rưỡi, rồi tiến lên ba tối, bốn tối một tuần

Như vậy, ngay từ những chương trình truyền hình thử nghiệm cũng như chương trình phát sóng phục vụ nhân dân đầu tiên, truyền hình Việt Nam đã dùng hình thức phát trực tiếp là do những hạn chế về mặt thiết bị kỹ thuật Lúc

đó chúng ta chưa có máy ghi hình dùng băng từ và cũng chưa có telecine (máy chiếu phim truyền hình)

Sau khi chương trình thử nghiệm tiếp tục kéo dài và nâng cao tần suất phát sóng lên ba tối, bốn tối một tuần, kéo dài đến tháng 4 năm 1972 khi Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá ác liệt vào Hà Nội Trong thời gian này các phóng viên, biên tập viên của Đài truyền hình vẫn tiếp tục làm việc nhằm ghi lại những hình ảnh chiến đấu dũng cảm của quân và dân Thủ đô Những bộ phim tài liệu được thực hiện

trong thời gian này như Hà Nội – Điện Biên Phủ, Hà Nội 5 ngày đọ sức, Tiếng trống trường đã giành được nhiều giải thưởng Bông Sen Bạc quốc tế và trong nước

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, các chương trình của Đài Truyền hình Việt Nam lại được tiếp tục phát sóng với những chương trình đáng chú ý như Vì an ninh

Tổ quốc (27.1.1973), Văn hoá xã hội (21.3.1976), Kinh tế (9.5.1976)…

Giữa năm 1976, Ban Biên tập Vô tuyến truyền hình được chuyển thành Đài Truyền hình Trung ương, có trụ sở làm việc tại trung tâm Giảng Võ Tại đây đã có một trung tâm hoàn chỉnh với 3 trường quay (S1, S2, S3), tổng khống chế (master control room), máy phát 1kW kênh 6 và cột ăng ten cao 60m

Trang 13

Năm 1976, Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thử nghiệm phát hình màu Một năm sau, năm 1977, Đài Truyền hình Trung ương cũng bắt đầu phát thử nghiệm truyền hình màu vào các sáng Chủ nhật Từ giữa năm 1980, khi Đài Hoa sen đi vào hoạt động, chương trình phát sóng của Đài truyền hình Trung ương xen kẽ lúc có màu, lúc không do sử dụng nhiều chương trình màu thu từ Đài Hoa sen

Ngày 1/8/1986, Đài Truyền hình Trung ương chuyển hẳn sang phát màu hệ SECAM 3b bằng các thiết bị chuyên dùng, từ bỏ hoàn toàn truyền hình đen trắng Đây

là hệ màu được Liên Xô và phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa sử dụng khi ấy

Sau khi trở thành Đài truyền hình quốc gia, Truyền hình Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh và vững chắc Từ 01/01/1990, Đài phát sóng 8 tiếng mỗi ngày với hai chương trình VTV1 và VTV2

Bắt đầu từ ngày 01/01/1991, hệ truyền hình màu của Đài Truyền hình Việt Nam chuyển từ hệ SECAM 3b sang phát bằng hệ PAL D/K Sự thay đổi này là đúng đắn và kịp thời, định hướng thống nhất cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành trong những năm sau đó và thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới

Điều đáng chú ý là từ khi bắt đầu mới thành lập, những thông tin quốc tế được phát sóng là những thông tin quốc tế đối nội, tức là cung cấp những thông tin thời sự của các nước và khu vực trên thế giới nhằm phục vụ nhu cầu của khán giả trong nước Tuy nhiên từ ngày 01/01/1995, nhận thấy nhu cầu xem truyền hình của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất lớn, Đài bắt đầu phát chương trình VTV4 – Kênh truyền hình đối ngoại quốc gia dành cho dành cho kiều bào Việt Nam học tập, làm việc

và sinh sống tại nước ngoài, từ 1-2 giờ/ngày, đến năm 1998 tăng lên 4 giờ/ngày Đồng thời để phục vụ nhu cầu thông tin quốc tế đối ngoại, Đài Truyền hình Việt Nam đã cho

ra đời thêm nhiều bản tin tiếng nước ngoài ( Bản tin tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Nga, tiếng Pháp…) là những bản tin về tình hình trong nước đáng chú ý được chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài

Do nhận được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, cùng sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, Đài Truyền

Ngày đăng: 20/03/2023, 23:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w