Sự tác động của con người Việt Nam vào nền kinh tế tri thức
Trang 1Lời nói đầu
Lịch sử phát triển của loài ngời là lịch sử phát triển của nền văn minh, vănhoá gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển con ngời vấn đề con ngời trớchết là vấn đề thực tiễn, giữ vị trí trung tâm của mọi toạ độ, của sự tồn tại kháchquan trên hành tinh của chúng ta Vấn đề con ngời cũng là vấn đề lý luận cốt lõicủa các vấn đề lý luận xã hội nhân văn, kinh tế, quản lý Và trong một chừng mựcnhất định cả với kỹ thuật và công nghệ
Con ngời là giá trị sản sinh ra mọi giá trị Con ngời là thớc đo của mọi bậcthang giá trị Những biến đổi trong bậc thang giá trị đang làm cho con ngời nóichung tích cực hơn , trên cơ sở đó phát huy các tiềm năng của mình và từ đó sẽsáng tạo hơn đó là những tiền đề quan trọng để bồi dỡng và phát huy tốt nguồnlực con ngời Yêu cầu của thời đại công nghiệp hoá , hiện đại hoá trong đó cókinh tế tri thức đang đòi hỏi phải có thớc đo giá trị thích hợp với thời cuộc mới,phát huy hơn nữa các mặt tích cực của con ngời và hạn chế tối đa các ảnh hởngtiêu cực của cơ chế thị trờng không để sự phát triển đi vào xu hớng không lànhmạnh
Thời kỳ đổi mới đất nớc một lần nữa đặt ra bao nhiêu vấn đề mới trong việcnghiên cứu con ngời để động viên mạnh mẽ hơn hiệu quả hơn các tiềm năng conngời vào tiến trình đa Việt Nam trở thành một nớc phát triển cũng nh mở ra nhữngkhả năng mới để con ngời đợc hởng tự do , hạnh phúc trong một xã hội văn minh
Để góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc ngày càng giàu
đẹp chúng ta không ngừng nâng cao hiểu biết , tìm tòi và sáng tạo chính vì vậy
em đã chọn đề tài "Sự tác động của con ngời Việt Nam vào nền kinh tế tri thức"
làm đề tài nghiên cứu của minh Nội dung gồm có bốn phần:
Phần i: Con ngời Việt Nam và nguồn lực trí tuệ
Phần II: Tri thức và nền kinh tế tri thức
Phần III: Mối quan hệ giữa con ngời Việt Nam và nền kinh tế tri thức.Phần IV: Giải pháp thúc đẩy mối quan hệ giữa con ngời Việt Nam và nềnkinh tế tri thức
Phần I: Con ngời Việt Nam và nguồn lực trí tuệ
I)Con ngời Việt Nam và nguồn lực trí tuệ.
1 Con ngời Việt Nam.
a Sự khác biệt của con ngời Việt Nam và con ngời nói chung.
Trang 2Xuất phát từ luận điểm của Mác: "Bản chất con ngời không phải là một cáigì cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con ngời
là tổng hoà các mối quan hệ xã hội"
Qua quá trình dựng nớc, giữ nớc và phát triển, những mặt , những yếu tốcấu thành nên bản chất xã hội của con ngời trong xã hội mới dần đợc hình thành
và dần đợc hoàn thiện Con ngời Việt Nam mang những đặc trng cơ bản sau:
Con ngời Việt Nam có ý thức và trình độ, năng lực làm chủ, đồng thời có
đầy đủ điều kiện để thực hiện năng lực làm chủ của mình Điều này có đợc vì:Con ngời Việt Nam mang bản chất của con ngời xã hội chủ nghĩa- con ngời đã đ-
ợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và bất công, các quan hệ công bằng xã hộingày càng đợc bảo đảm Đồng thời chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ đợc thiết lậptrên cơ sở bảo đảm sự thống nhất hài hoà lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội
Con ngời Việt Nam là con ngời lao động mới, có tri thức sâu sắc về côngviệc của mình, có sức khoẻ và lao động giỏi, biết cống hiến cho xã hội bằng khảnăng cao nhất của mình và biết tự đánh giá chất lợng lao động của mình Do đó,biết hởng thụ thành quả lao động của mình tuỳ theo năng suất, chất lợng, hiệu quảlao động do mình tiến hành
Con ngời Việt Nam là con ngời sống có văn hoá và tình nghĩa Đời sống cánhân của họ phong phú, có điều kiện và khả năng phất triển tự do, toàn diện cả vềthể chất và tinh thần Có tri thức ngày càng đầy đủ về địa vị, cá nhân của mìnhtrong xã hội, về tự do, kỷ luật và trách nhiệm công dân
Con ngời Việt Nam giàu lòng yêu nớc, yêu sự nghiệp cách mạng do chínhmình tham gia, có tình thơng yêu giai cấp và đồng loại , có tình thần quốc tế chânchính
Khái quát những t tởng cơ bản nói trên, Đảng cộng sản Việt Nam cho rằngcon ngời xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là con ngời biết: gắn bó lý tởng, độc lậpdân tôc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cờng xây dựng
và bảo vệ tổ quốc; CNH-HDH đất nơc; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoátruyền thống của dân tộc, có năng lực tiếp thu các tinh hoa văn hoá của nhân loại;cách phát huy tiềm năng của dân tộc và con ngời Việt Nam, có ý thức cộng đồng
và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệhiện đại, có t duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp ,
có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ,là những ngời thừa kế xây dựng chủ nghĩaxã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" nh lời căn dặn của Bác Hồ"
b Vai trò của con ngời Việt Nam trong phát triển kinh tế
Từ xa đến nay, khi đề cập tới vị trí của con ngời trong lịch sử phát triểnkinh tế xã hội không một ai có thể phủ nhận đó là yếu tố quan trọng nhất, quyết
định nhất Thực tế đã chứng minh trong quá khứ cũng nh trong hiện tại nhiều
Trang 3quốc gia trên thế đã cất cánh từ một nớc nghèo nàn, chỉ sau một thời gian dài đãtrở thành một cờng quốc văn minh mặc dù họ bị hạn chế rất nhiều về nguồn tiềmnăng thiên nhiên, vốn, công nghệ hơn nữa lại nằm trong vị trí địa kinh tế lý bất lợi
và khí hậu khắc nghiệt của trái đất, có phải chăng do không còn cách nào khác!
Và vì sự tồn tại của chính mình mà họ đã phải chiến đâú với ngoại xâm, với thiênnhiên mà vơn tới đỉnh cao để rồi có đủ sức mạnh chế ngự thiên nhiên bắt thiênnhiên phải phục vụ cho cuộc sống của chính con ngời Bài học đã thấy rõ, ai cũng
có thể nhận thấy là quốc gia nào quan tâm và đặt đúng vị trí con ngời, có mộtchiến lực quản lý nguồn nhân lực đúng đắn trong chiến lợc phát triển kinh tế xãhội thì nớc đó sẽ thành công Một trong những nớc đi tiên phong trong công việcnâng cao chất lợng nguồn nhân lực là Nhật Bản Ngời Nhật đã thấy đợc tầm quantrọng của con ngời và không ngừng phát huy nhân tố con ngời phục vụ cho sựnghiệp phát triển kinh tế xã hội
Với nớc ta, vai trò của con ngời còn quan trọng hơn rất nhiều Từ mộtnớc thuộc địa, nghèo nàn và lạc hậu bằng bàn tay trí óc của con ngời, con ngờiViệt Nam đã đa đất nớc mình ra khỏi nghèo đói, đa đất nớc vơn lên trở thành mộtcờng quốc độc lập về kinh tế, chính trị xã hội
Ngày nay trên con đờng tiến tới chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có nền kinh
tế vững mạnh với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại Đại hội VIII của
Đảng đã xác định:"Phải đẩy mạnh CNH-HDH đất nớc theo định hớng xã hội chủnghĩa trở thành một nớc công nghiệp vào năm 2020" Có thực hiện đợc mục tiêu
đó hay không là do con ngời Việc xây dựng thành công CNH-HDH làm tiền đềcho kinh tế tri thức ra đời và phát triển, là thớc đo cho quá trình tiến lên chủnghĩa xã hội mà nền kinh tế tri thức đòi hỏi chất xám, trí tuệ con ngời
Nh vậy, con ngời là giá trị sản sinh ra mọi giá trị, là thớc đo của mọi bậcthang giá trị Nếu không có con ngời xã hội sẽ không tồn tại Nếu con ngờikhông nâng cao học vấn, không ngừng phát huy tính sáng tạo thì đất nớc đó sẽtrì trệ, thụt lùi, nhanh chóng xa rời với sự phát triển của toàn nhân loại Nhận thấy
đợc tầm quan trọng của nguồn lực con ngời Đảng ta đã nhận định: Trong số cácnguồn lực ổn định và phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn cách mạng hiệnnay lấy việc "phát huy nguồn lực con ngời làm yếu tố cơ bản cho sự phát triểnnhanh và bền vững"
c Nhận thức, thái độ của con ngời Việt Nam trong đổi mới và mở cửa *Những mặt tích cực trong nhận thức, thái độ.
- Ngời Việt Nam có phản ứng tích cực, nhận thức nhanh nhạy đối với thời
kỳ mở cửa
Những năm 1986-1990 khi công cuộc đổi mới, mở cửa bắt đầu gây xáo
động tâm lý xã hội mạnh mẽ, sâu sắc Nhng tình hình đã nhanh chóng ổn định và
Trang 4ngày càng tiến triển theo chiều hớng tích cực Họ thấy rằng mở cửa là xu thế tấtyếu của thời đại; vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với dân tộc cũng nh đối vớimỗi cá nhân, có mở cửa , cọ xát với nền văn hoá thế giới tinh thần văn hoá ViệtNam mới đợc thử thách, tự khẳng định và phát triển Điều này cho thấy sự nhất trícao đối với chủ trơng, chính sách đổi mới mở cửa của Đảng và nhà nớc.
- Ngời Việt Nam có nhận thức tỉnh táo, đúng đắn về mặt trái của mở cửa và
có ý thức đề phòng cảnh giác
Họ nhận thấy rằng: mở cửa sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo gìữa cáckhu vực, giữa các nhóm xã hội, mở cửa sẽ dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, dễ mắcvào âm mu "diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch";mở cửa sẽ du nhập vănhoá, lối sống phơng Tây làm hại truyền thống dân tộc, dễ bị hoà mất độc lập, tựchủ.Đây là nhận thức nhạy bén, tỉnh táo và đúng mức
- Con ngời Việt Nam có ý chí vợt qua xáo động tâm lý, vợt qua những trởngại tích cực chủ động thích nghi với đổi mới, mở cửa để vơn lên trong cuộcsống
Đổi mới mở cửa cũng là cơ hội và cũng là đòi hỏi, thử thách mỗi cá nhânphải tự vơn lên, tự khẳng định mình để tồn tại để phát triển Quá trình đó giúpcon ngời có ý thức về cá nhân, nhân cách của mình rõ hơn Biểu hiện tự nhận thấyrằng mình phải đào tạolại để thích nghi với đổi mới mở cửa Nhận thấy phải thay
đổi về cách nghĩ, nếp sống của mình; phải tăng cờng củng cố ngoại ngữ; phải bảo
vệ tinh hoa truyền thống
- Con ngời Việt Nam có khả năng tiếp thu những nhân tố thuận lợi của đổimới mở cửa nói chung, trở thành nhân tố thuận lợi của đổi mới Mở cửa nói chungtrở thành chủ thể hoạt động cải thiện cuộc sống của chính mình và tạo nên nhữngchuyển biến cho đất nớc
Trong nhiều cuộc trao đổi, các ý kiến cho thấy trong khi đổi mới và pháttriển thị trờng hội nhập với thế giới càng phải khẳng định, giữ gìn phát huy nhữnggiá trị tinh hoa truyền thống yêu nớc, thơng ngời, cần cù, chịu học gắn liền với lợiích và trách nhiệm của cá nhân với gia đình, với làng, với nớc
* Những hạn chế:
Bên cạnh những mặt tích cực còn bộc lộ những hạn chế khá rõ nét:
- Nhanh thích nghi nhng còn ở trình độ thấp
Từ trình độ khoa học công nghệ dẫn đến quản trị kinh doanh, trình độ họcngoại ngữ, tin học, tay nghề kỹ thuật đều mới ở mức độ cố gắng thích nghi đốiphó với tình hình thực tế "cái gì cũng biêt" nhng cha sâu, cha thạo
- Làm ăn còn cha coi trọng chữ tín, cha lo làm ăn lâu bền để tiến tới làm ănlớn
Trang 5Có nhiều hiện tợng làm ăn từng vụ việc, "đánh quả", ăn xổi, quảng cáoliều chào hàng tốt bán hàng xấu, ít coi trọng lời hứa, có biểu hiện của tính thựcdụng.
Ngay những ngời có nghề nghiệp, chức vụ đàng hoàng cũng ít yên tâm gắn
bó với nghề, công việc chính yếu Họ thờng chạy theo hoặc bị lôi cuốn vàonhững hoạt động tản mạn trớc mắt và do đó nhìn về lâu dài không có lợi cho sựphát triển của cá nhân và xã hội
-Thiếu ý thức và thói quen chấp hành nội quy kỷ luật, pháp luật
ý thức và hành vi chấp hành quy định, thể chế pháp luật của từng cá nhâncòn thấp Từng ngời ít khi có tính tự giác, tự động chấp hành các quy định và th-ờng "đua theo nhóm" làm theo số đông Do đó vi phạm một số hành vi trái phápluật: chặt cây, xây nhà trái phép, lấy của công, lấn chiếm đất công, đổ rác bừa bãi,họp chợ trên đờng Thậm chí chỉ do"đói ăn vụng,túng làm liều" mà có những ngời
có chức có quyền, giàu có cũng rất"liều"
- Sùng ngoại, dễ bắt chớc nớc ngoài, pha trộn lai tạp
Hạn chế này dễ đi đến xa rời tinh hoa bản sắc dân tộc Về khoa học côngnghệ, sản xuất kinh doanh ta phải học theo cách làm ăn tiên tiến là đúng nhngnhững giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống ta có nhiều cái tốt phải giữ gìn và nângcao
- Nhiều ngời sùng bái lối sống tiêu dùng xa hoa lãng phí
Nớc ta còn rất nghèo, dân ta còn nhiều ngời túng thiếu, gần 50% trẻ em suydinh dỡng nhng bộ phận đua đòi , tiêu xài quá lãng phí coi đó là sự biểu hiện giátrị nhân cách Điều đặc biệt là có những ngời nghèo túng nhng có dịp là cố chạy
đua nhau tổ chức cới xin, ma chay, giỗ tết linh đình tốn kém Mức sống thấp, lốisống không phù hợp làm sao phát triển nhanh đợc!
-Dễ mắc vào các tệ nạn xã hội do sống thiếu bản lĩnh cá nhân
Hạn chế này dễ đua đòi theo nhóm, lại sống trong môi trờng khêu gợi dụcvọng, kích thích nhu cầu đồng tiền có sức mạnh ghê gớm Mấy năm đổi mới, mởcửa, nạn buôn lậu, hối lộ mại dâm, ma tuý AIDS, mê tín có chiều hớng gia tăng
2) Nguồn lực trí tuệ
a) Vai trò của nguồn lực trí tuệ
Nguồn lực trí tuệ đợc hiểu là nguồn tài nguyên quý giá của con ngời, đợcphát triển dựa trên trí tuệ, chất xám của con ngời trong quá trình hoạt động tạo racông nghệ mới và cao
Xã hội loài ngời tồn tại và phát triển dựa vào hai nguồn: tài nguyên thiênnhiên và con ngời Cái quý nhất trong tài nguyên con ngời là trí tuệ Theo quanniệm cổ điển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai
Trang 6thác đến cạn kiệt Song sự hiểu biết của con ngời đã và đang, sẽ không bao giờchịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn Tính vô tậncủa nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con ngời nhận thức tính vô tận của thếgiới vật chất, tiếp tục nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên còn vô tận nhngcha đợc khai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới của những dạngtài nguyên mới đang sử dụng hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn
có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hội trong điều kiệnmới
Ngày nay thuật ngữ"trí tuệ" đã thâm nhập mạnh mẽ vào cuộc sống củachúng ta, đặc biệt là giới nghiên cứu Con ngời đã làm nên lịch sử của mình bằngtrí tuệ và lao động đợc định hớng bởi trí tuệ đó Cơ sở vật chất của trí tuệ là bộ óccon ngời - một dạng vât chất phát triển cao nhất, đó là dạng "vật chất đợc tổ chứctheo một cách thức đặc biệt Trí tuệ chính là bộ óc biết t duy và đang t duy cuảcon ngời" (V.I Lênin) ý thức và t duy là sản phẩm riêng của bộ óc con ngời íthức và những giai đoạn phát triển cao của nó là t duy, đó là sự phản ánh thế giớikhách quan không chỉ bằng tri thức - khách quan của quá trình tác động của thếgiới bên ngoài lên bộ óc con ngời, mà còn bằng xúc cảm- sự phản ứng của thếgiới nội tâm của con ngời trớc sự tác động ấy Tuy tri thức là phơng thức tồn tạicủa ý thức nhng nếu không có xúc cảm thì con ngời không thể tiếp cận với chân
lý và do vậy không thể nhận thức và cấu tạo thế giới Mặt khác có tri thức, có xúccảm nghĩa là có con ngời hoàn thiện nhng không có môi trờng xã hội thích hợpthì con ngời cũng không thể phát huy đợc sức mạnh trí tuệ của mình
Trí tuệ con ngời có sức mạnh áp đảo so với "trí tuệ nhân tạo" Chính vì trítuệ đó đợc đặt trong cơ thể con ngời - một tổ chức vật chất sinh học cao nhất, hơnnữa lại đợc tồn tại và phát triển trong môi trờng xã hội loài ngời T duy máy móc,
"trí tuệ nhân tạo" dù rộng lớn đến đâu, dù dới hình thức hoàn hảo nhất cũng chỉ
là một mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tâm của con ngời,chỉ là kết quả của quá trình phát triển khoa học kỹ thuật, của hoạt động trí tuệcủa con ngời, khả năng trí tuệ của con ngời bao giờ cũng là nguồn "trí tuệ " chomáy móc; mọi máy móc dù hoàn thiện dù thông minh đến đâu cũng chỉ làm kẻtrung gian cho hoạt động của con ngời Con ngời đang cố gắng sáng tạo ra nhữngmáy móc "bắt chớc" hoặc "phỏng" theo những đặc tính trí tuệ của mình để tiếpcận với nền kinh tế
Sự phát triển và hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con ngời đã đợc thểhiện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế
hệ này sang thế hệ khác và đã đợc ghi nhận một cách rất cụ thể, trớc hết ở sự biến
đổi của công cụ sản xuất Hay nói cách khác sức mạnh trí tuệ của con ngờikhông ngừng đợc vật thể hoá trong công cụa sản xuất, trong lực lợng sản xuất nói
Trang 7chung Tính vô tận của trí tuệ con ngời đợc biểu hiện ở sự biến đổi không ngừng
ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong qúa trình pháttriển của xã hội
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ những sản phẩm đã đợc vật thể hoá của trí tuệ con ngời, thành lực lợng sản xuấttrực tiếp đã chuyển đối tợng khai thác vào chính bản thân con ngời Tiềm năngsức lao động - con ngời với trí tuệ và lao động đợc định hớng bởi trí tuệ đó và trởthành nguồn lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển xã hội Nếu nh xa kia nguồn tàinguyên thiên nhiên quyết định các chính sách phát triển của đất nớc thì ngợc lạingày nay, các chính sách (thể hiện tập trung trí tuệ của con ngời ) lại sản sinh racác nguồn tài nguyên theo các nghĩa: nếu biết khai thác và quan trọng hơn cả lànguồn tiềm năng trí tuệ thì đất nớc dù nghèo tài nguyên thiên nhiên cũng hoàntoàn có thể trở nên giàu mạnh
-Nớc ta có nguồn tài nguyên sức lao động rất dồi dào trong đó nguồn tàinguyên"chất xám" không thua kém gì nhiều so với nhiều nớc đang phát triển Tuynhiên nớc ta cha biết tận dụng nguồn tài nguyên quý giá đó
Vấn đề đặt ra hơn lúc nào hết những ngời lao động có tri thức là tài sảnquý hiếm của mỗi quốc gia Ngày nay trong cuộc cạnh tranh, thách đố, thi tài đọsức giữa các dân tộc, quốc gia ngày càng gay gắt thì việc khai thác và sử dụng
đúng đắn,kịp thời, có hiệu quả đội ngũ lao động trí tuệ là điều kiện tiên quyết bảo
đảm sự chiến thắng Bởi vì kinh tế tri thức ngày càng không chỉ là sức mạnh, làquyền lực hay sự thay đổi nh những thập kỷ trớc đây mà tri thức còn là sự giàu
có, thịnh vợng của mỗi quốc gia, dân tộc
b) Đặc điểm cơ bản của nguồn lực trí tuệ
Nguồn lực trí tuệ Việt Nam đợc hình thành và phát triển trớc hết dựa trêncơ sở các điều kiện địa lý môi trờng sinh thái, chính trị, xã hội, lịch sử của dân tộcViệt Nam nên nó mang đậm những sắc thái riêng biệt bao gồm cả những yếu tốtích cực lẫn những mặt hạn chế lịch sử Do sự vận động và phát triển trong bốicảnh hợp tác kinh tế không ngừng mở rộng, cộng với những tác động mạnh mẽcủa cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thế giới, nguồn lực trí tuệ nớc ta đã
đợc bổ sung thêm nhiều giá trị trí tuệ mới và đợc nâng lên một bớc cả về số lợng
và chất lợng Song, so với yêu cầu của công cuộc đổi mới, so với mặt bằng trí tuệchung của thế giới thì nguồn lực trí tuệ nớc ta còn nhiều điểm hạn chế
Xét về mặt sinh học, trí tuệ nớc ta là một quá trình hoạt động sinh lý thần kinh diễn ra trong bộ não con ngời Bộ não càng phát triển, hoàn thiện thìcàng tạo ra những điều kiện sinh học thuận lợi cho sự phát triển của trí tuệ khitiến hành sự phát triển của cơ thể con ngời, các nhà khoa học rút ra kết luận: ngờiViệt Nam có chiều cao và trọng lợng cơ thể thuộc loại trung bình thấp trên thế
Trang 8-giới ở tuổi trởng thành trọng lợng cơ thể của con ngời Việt Nam chỉ bằng 70%trọng lợng cơ thể ngời châu Âu Nhng nếu tính trọng lợng tơng đối của não thìnão ngời Việt Nam chiếm 2.5 đến 2.6 trọng lợng toàn thân, còn não ngời châu Âuchỉ chiếm 2.0 đến 2.1% Nh vậy, xét về mặt sinh học sự phát triển của bộ não ng-
ời Việt Nam không có những khác biệt lớn so với não của ngời châu Âu Do vậy,
nh các dân tộc khác trên thế giới, ngời Việt Nam tuy cơ thể nhỏ bé nhng cũng cócác tố chất thông minh, sáng tạo, có khả năng trí tuệ phong phú đa dạng, đủ sứcvơn tới đỉnh cao của khoa học, của trí tuệ nhân loại Trí tuệ của con ngời ViệtNam biểu hiện qua lịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc, qua những thành tích
mà học sinh Việt Nam đạt đợc trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế là nhữngminh chứng cho nhận định này, đồng thời là căn cứ khoa học để bác bỏ mọi quan
điểm phân biệt chủng tộc, màu da, coi thờng dân tộc Việt Nam của những kẻ xâmlợc cũng nh những biểu hiện tự ti dân tộc
- Nguồn lực trí tuệ Việt Nam sớm đợc hình thành và phát triển phong phú,
đa dạng
nằm trong khu vực Đông Nam á, là khu vực phát sinh của loài ngời, đồngthời là nơi sản sinh và tồn tại một trong những nền văn hoá cổ nhất của nhân loạinên nền van hoá Việt Nam đợc hình thành và phát triển rất sớm so với nhiều nềnvăn hoá trên thế giới Ngay từ thời Hùng Vơng, tổ tiên chúng ta đã phát triển rực
rỡ độc đáo và đã có những cống hiến quý báu vào nền văn hoá của nhân loại
Cùng với sự phát triển của văn hoá, ngời Việt Nam sớm nhận thức đợc tầmquan trọng của việc khai mở dân trí để phát triển đất nớc, do đó nền giáo dục ViệtNam cũng sớm đợc hình thành và phát triển
Sự hình thành và phát triển của văn hóa và giáo dục là cơ sở để khẳng địnhnguồn lực trí tuệ Việt Nam sớm hình thành và phát triển trong tiến trình pháttriển của văn minh nhân loại
Nguồn lực trí tuệ Việt Nam đợc hình thành trớc hết từ chính cuộc sốngcủa ngời Việt Nam cổ đại và phát triển theo tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam(kể từ khi hình thành nhà nớc đầu tiên đến nay đã 4000 năm) Lịch sử lâu dài đócùng với vị trí địa lý, điều kiện môi trờng sinh thái phong phú, cơ cấu dân tộc đadạng và cơ sở kinh tế , kết cấu xã hội đã tạo nên bản sắc văn hoá Việt Nam Bảnthân Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với những đặc trng kinh tế , văn hoákhác nhau Sự giao lu kinh tế - văn hoá giữa các dân tộc diễn ra từ rất sớm và tạonên một sự đa dạng, phong phú trong t duy của ngời Việt
Xét về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hiện nay Việt Nam là nớc đangphát triển Nguồn lực trí tuệ hội đủ các yếu tố trí tuệ của cả văn minh nôngnghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh trí tuệ Tuy nhiên, mức độ và liều lợnggiữa chúng không đồng đều và phân bố ở các lĩnh vực có khác nhau Tính hỗn
Trang 9hợp và đan xen của các yếu tố trí tuệ của nền văn minh khác nhau vừa tạo nên sự
đa dậng, phong phú của nguồn lực trí tuệ Việt Nam, vừa đặt ra những thách thứcmới trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc cũng nh trong việc định hớng cho
sự phát triển lành mạnh về trí tuệ của mỗi cá nhân cũng nh nguồn lực trí tuệ củacả dân tộc
- Nguồn lực trí tuệ Việt Nam mang đậm triết lý nhân sinh và dân tộc pháthuy đầy đủ nhất trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Xét về cấu trúc, nguồn lực trí tuệ Việt Nam bao gồm tập hợp các giá trịbiểu hiện những khả năng, những năng lực sáng tạo về tinh thần của con ngờinhằm thoả mãn những nhu cầu phản ánh cuộc sống đa dạng, phong phú của mình
Đó là những giá trị mới sáng tạo gắn liền với t tởng t duy , t tởng, lý luận; trong
đó, lý luận là sự kết tinh cao nhất, tinh tuý nhất của mọi sự sáng tạo về trí tuệ củacon ngời
Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống coi trọng đạo lý, lấy nhân nghĩatrung hiếu làm chuẩn mực cho các hành vi ứng xử của mình Điều đó đợc thể hiệntrong những câu chuyện cổ, ca dao, tục ngữ đợc lu truyền từ đời này qua đời khác
Đó là triết lý về cội nguồn, về tình làng nghĩa xóm, là tinh thần nhân ái, cố hết,chung lng đấu cật để bảo vệ và xây dựng cộng đồng, là triết lý đối nhân xử thế,sống hoà bình và hữu nghị với các nớc láng giềng Hạt nhân của triết lý ấy là conngời yêu nớc- sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của lịch sử và trở thànhthuyết lý về những vấn đề nhân sinh và xã hội của con ngời Việt Nam
Triết lý nhân sinh với hạt nhân là con ngời yêu nớc kết hợp với trí tuệ sángtạo của con ngời Việt đã đợc nêu cao và phát huy mạnh mẽ trong suốt chiều dàilịch sử của dân tộc Song, nó đợc phát huy cao độ và đầy đủ nhất ở t duy quân sựtài giỏi trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Cuộc đấu tranh chênhlệch rất lớn về lực lợng quân đội và trang bị vũ khí cũng nh tiềm lực kinh tế tởngchừng không thể nào thắng nổi Trong hoàn cảnh đó muốn chiến thắng đợc kẻ thùthì ngoài lòng yêu nớc nồng nàn, tinh thần chiến đấu gan dạ, anh dũng không sợ
hy sinh, gian khổ còn rất cần có trí thông minh sáng suốt Và lịch sử đấu tranhhào hùng của dân tộc đã chứng minh rằng: thắng lợi vĩ đại của cách mạng ViệtNam chính là thắng lợi của trí tuệ và tinh thần Việt Nam
Là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, tuy cha để lại chonhân loại những phát minh lớn song dân tộc Việt Nam đã có nhiều cống hiến choloài ngời những giá trị trí tuệ cao: trong lĩnh vực quân sự là lý luận và kinhnghiệm thực tiễn về chiến lợc chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích ;tronglĩnh vực văn hoá, đó là những giá trị văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc và ngàynay, đó là di sản t tởng văn hoá sáng tạo của Hồ Chí Minh-ngời anh hùng dân tộc,
Trang 10nhà văn hoá lớn của thế giới, là những kinh nghiệm và lý luận về con đờng đổimới của cách mạng Việt Nam.
- Nguồn lực trí tuệ Việt Nam đợc hình thành và phát triển trên cơ sở mộtphơng thức sản xuất nông nghiệp còn lạc hâụ, lại bị chiến tranh liên miên nên cònthiếu hụt nhiều giá trị cao nhất của trí tuệ loài ngời
Xét về phơng diện lịch sử, Việt Nam cha có truyền thống khoa học, nhất là
t duy khoa học và t duy lý luận Nền kinh tế tiểu nông có đặc trng làlàm cho conngời phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Để có thể sống hoà hợp với thiên nhiêncon ngời đã phải đúc rút kinh nghiệm Chính lối sống đó đã tạo ra con ngời ViệtNam cách t duy tổng hợp, biện chứng Do vậy, nó cho phép con ngời rút ra đợcnhiều kinh nghiệm quý báu trong đời sống và phát triển lao động sản xuất Songhạn chế của nó là thiếu sự phân tích, mổ xẻ một cách khoa học các bộ phận cấuthành các sự vật hiện tợng Vì vậy, thiếu những điều kiện cần thiết cho việc hìnhthành những ngành khoa học chuyên sâu, đặc biệt là khoa học kỹ thuật Mặt khác,thói quen giải quyết công việc bằng kinh nghiệm chủ quan lâu ngày trở thành
"chủ nghĩa kinh nghiệm"đè nặng lên t duy con ngời Việt Nam Đó là lực cản lớncho tính năng động sáng tạo của trí tuệ; nó không kích thích đợc tính độc lập,sáng tạo của cá nhân dẫn đến tam lý ngại khó, ngại khổ trong học tập, trongnghiên cứu khoa học, trong quá trình trau dồi trí tuệ gây ảnh hởng lớn đến việchình thành và phát triển trí tuệ khoa học của từng cá nhân và của cả cộng đồng
Hơn nữa trong 27 thế kỷ tồn tại và phát triển của mình, dân tộc Việt Nam
đã phải mất 12 thế kỷ đấu tranh chống giặc ngoại xâm Hoàn cảnh đất nớc cóchiến tranh đã làm gián đoạn và gây cản trở lớn đến việc tiếp cận với những thànhtựu khoa học mới của nhân loại Đồng thời nó không cho phép tập trung sức ngời,sức của vào việc bồi dỡng chăm lo phát triển nhân tài và phát triển nguồn lực trítuệ của đất nớc nhất là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ
Tất cả những điều đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự lạc hậu về trí tuệcủa nhiều cá nhân và là nguy cơ dẫn đến sự thấp kém về trình độ trí tuệ của dântộc so với mặt bằng và đỉnh cao trí tuệ của nhân loại Vì vậy, trong nhiều trờnghợp chúng ta không đủ năng lực trí tuệ để xử lý các tình huống phù hợp với quyluật khách quan dẫn đến những sai lầm, trì trệ, kém phát triển
Hiện nay, nớc ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá nhng nền kinh tế vẫn còn phổ biến là sản xuất nhỏ, thủ công lạc hậu.Dới sự lãnh đạo của Đảng ta gần 15 năm qua đã bổ sung thêm nhiều giá trị trí tuệmới của nhân loại vào nguồn lực trí tuệ Việt Nam, khoa học công nghệ cũng cónhững bớc phát triển quan trọng Song, đổi mới là một quá trình cải biến xã hộisâu sắc và triệt để Do đó, nó đòi hỏi một mặt phải tiếp tục phát huy truyền thốngtốt đẹp của dân tộc, phát huy cao độ nguồn lực trí tuệ của toàn dân; mặt khác
Trang 11phải bổ sung những giá trị trí tuệ của nhân loại làm phong phú thêm nguồn lực trítuệ Việt Nam, không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ của thời đại Đó là mộttrong những động lực để đất nớc tránh đợc nguy cơ tụt hậu, lạc hậu ngày càng xa
so với nhiều nớc trên thế giới
ii.Nền kinh tế tri thức
1 Khái niệm nền kinh tế tri thức.
Thật kỳ diệu biết bao cho chúng ta- những ngời đợc sống những ngày mở
đầu thiên niên kỷ mới, thế kỷ mới Nửa sau thế kỷ XX là thời kỳ phát triển rực rỡnhất trong lịch sử loài ngời với thành tựu nổi bật nhất là cách mạng thông tin đã
mở ra một thời đại mới- thời đại thông tin, bắt đầu từ máy từ máy tính điện tử(cuối những năm 40 của thế kỷ này), rồi vi điện tử (những năm 70 của thế kỷ này)
và cuối cùng là kỹ thuật số và mạng (thậpkỷ cuối cùng của thế kỷ XX).Đến
đâyloài ngời tạo một sản phẩm quan trọng là nền kinh t ế tri thức, có khi còn gọi
là nền kinh tế mạng.Theo nhiều nhà khoa học dự báo, đó là cơ sở hạ tầng mới củaxã hội thông tin, xã hội học tập Và nh vậy vấn đề con ngời và nguồn lực ngời sẽ
có nhiều điều mới mẻ, cần nghiên cứu và xử lý
Kinh tế tri thức đợc xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối, sử dụng trithức và thông tin Tóm lại, đó là kinh tế dựa vào tri thức và bây giờ đã quen gọi
là kinh tế tri thức Nói đến tri thức là nói đến học, nên có ngời gọi là "Kinh tếtri thức ", có ngời còn gọi"Kinh tế thông tin", "Kinh tế số hoá",v v Cho dù ýkiến còn khác nhau nhng chắc chắn đây là một nền kinh tế mới xuất hiện từ 5-10năm nay, trớc đây cha hề có, đó là nền kinh tế dựa vào công nghệ cao: "Cácngành sản xuất và dịch vụ khoa học mới do công nghệ cao tạo ra nh các dịch vụkhoa học - công nghệ, các dịch tin học, các ngành công nghiệp công nghệ cao
đợc gọi là ngành kinh tế tri thức Các ngành trruyền thống nh công nghiệp, nôngnghiệp, nếu đợc cải tạo bằng công nghệ cao mà giá trị do tri thức mới, công nghệ
đem lại chiếm trên 2/3 tổng giá trị thì những ngành ấy cũng là ngành kinh tế trithức Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức gọi nền kinh tế trithức" Một số ngời đề nghị cứ gọi là "nền kinh tế mới" cho chắc chắn Nền kinh tếnày dựa trên bốn trụ: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệumới và công nghệ năng lợng, trong đó công nghệ thông tin giữ vai trò đi đầu vànền tảng
Nh vậy, bên cạnh các nền kinh tế mà lâu nay chúng ta thờng gọi, nh kinh tếhoang sơ (tự nhiên), kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp, đã xuất hiện nềnkinh tế mới mà trớc đây dự báo gọi là kinh tế hậu công nghiệp thì nay đã có têngọi chính thức ngày càng đợc nhiều ngời hởng ứng là kinh tế tri thức Ngời ta đãbắt đầu tiến hành nghiên cứu so sánh kinh tế sức ngời (kinh tế nông nghiệp), kinh
Trang 12tế tài nguyên (kinh tế công nghiệp) và kinh tế tri thức ở đây chúng ta có thểtham khảo ý kiến của một nhà kinh tế học Trung Quốc qua Bảng 4 để hiểu hơnnội hàm của khái niệm mới của nền kinh tế mới, nhất là kinh tế tri thức gắn liềnvới thời kỳ phát triển cao cuả kinh tế công nghiệp, kinh tế thị trờng và một đặc
điểm của thời đại ngày nay là nền kinh tế toàn cầu (toàn cầu hoá, hội nhập và mởcửa) Vì vậy có ngời còn gọi kinh tế tri thức là kinh tế mạng thông tin toàn câu
2 Đặc điểm của nền kinh tế tri thức
Thứ nhất đặc điểm lớn nhất làm khác biệt kinh tế tri thức với kinh tế côngnghiệp, kinh tế nông nghiệp chính là tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất củasản xuất, hơn cả lao động và tài nguyên Vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức
là tri thức Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo sự tăng trởng kinh tế Không phải
nh các nguồn lực khác bị mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin có thể đợc chia
sẻ và trên thực tế lại tăng lên khi sử dụng Do vậy, nền kinh tế tri thức là một nềnkinh tế d dật chứ không phải khan hiếm
Quyền sở hữu đối với tri thức trở thành quan trọng nhất, hơn cả vốn, tàinguyên, đất đai Ai chiếm hữu đợc nhieuè tài sản trí tuệ hơn, ngời ấy thắng trongcạnh tranh Pháp luật về sở hữu trí tuệ trở thành nộidung chủ yếu trong quan hệdân sự cũng nh trong thơng mại quốc tế
Sự sáng tạo, đổi mới thờng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đầy sự pháttriển Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn: quá trình từ lúc
ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản xuất, hay một công nghệ chỉmấy năm, thậm chí mấy tháng Các doanh nghiệp muốn trụ đợc và phát triển phảiluôn đổi mới công nghệ và sản phẩm Sáng tạo là linh hồn của sự đổi mới Trớc
đây ngời ta hay chọn những công nghệ đã chín muồi, còn bây giờ thì phải tìmchọn các công nghệ mới nảy sinh; cái chín muồi là cái sắp sửa tiêu vong
Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái cha biết; cái
đã biết không còn giá trị nữa, tìm ra cái cha biết tức là tạo ra giá trị mới Khi pháthiện ra cái cha biết thì cũng tức là loại trừ cái đã biết Cái cũ mất đi thay thế cáimới, nền kinh tế, xã hội luôn đổi mới Đó là đặc trng của sự phát triển, sự tiến hoácủa xã hội sắp tới; phát triển từ cái mới, chứ không phải từ số lợng lớn dần lên
Thứ hai, sự chuyển đổi cơ cấu Các công nghệ mới, các ý tởng mới là chìakhoá cho việc tạo ra việc làm mới và nâng cao chất lợng cuộc sống Do đó, nềnkinh tế có tốc độ tăng trởng cao, dịch chuyển nhanh cơ cấu Nhng, đây cũng lànền kinh tế mang tính rủi ro, vì nó luôn biến động, luôn có nhiều thách thức mới
Trong khi nền kinh tế công nghiệp dựa vào sự tổ chức sản xuất hàng loạt,quy chuẩn hoá, thì nền kinh tế tri thức đợc tổ chức trên cơ sở sự sản xuất linhhoạt hàng hoá và dịch vụ dựa vào công nghệ cao Đây cũng là kinh tế văn phòng,
Trang 13tức là ngời trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong các nhà máy ít đi, ngời làm việc ởvăn phòng nhiều lên Nói nh thế không có nghĩa là sự chế tạo hàng loạt là khôngquan trọng, cũng không phải là sản phẩn hàng hoá ít đi, mà đó là do nhịp độ tăngnăng suất trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp rất cao Hiện nay, ở các nớcphát triển nhất có 70-80% lực lợng lao động không phải trực tiếp làm ra các vâtphẩm, mà họ chuyển sang làm các công việc liên quan đến di chuyển vật phẩm,
xử lý thông tin, cung cấp các dịch vụ cho khách hàng Việc làm trong sản xuấthàng hoá giảm đi rất nhiều và đợc thay thế bằng việc làm trong văn phòng
Các doanh nghiệp không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm.Công nghệ mới trở thành nhân tố hàng đầu trong việc tạo ra năng suất, sự tăng tr-ởng và việc làm Cho nên, sản xuất công nghệ trở thành loại hình sản xuất quantrọng nhất, tiêu biểu cho nền sản xuất tơng lai Phát triển nhanh các doanh nghiệpsản xuất công nghệ (cũng có thể gọi là doanh nghiệp tri thức ), trong đó khoa học
và sản xuất đợc nhất thể hoá, không phân biệt phòng thí nghiệm với công xởng,những ngời làm việc trong đó là công nhân tri thức (công nhân khoa học), họ vừanghiên cứu vừa sản xuất
Trong nền kinh tế tri thức, các công ty mới mọc lên nhanh nh nấm, sự ra
đời của một công ty gắn với sự ra đời của một công nghệ mới, một sáng chế mới.Các công ty đang hoạt động muốn trụ đợc phải thờng xuyên đổi mới, kịp thờichuyển hớng theo sự phát triển của công nghệ Để tăng sức mạnh, các công typhải hợp tác với nhau, phải "mua" nhau để thành công ty lớn Gần đây ta thấy rấtnhiều các công ty khổng lồ hàng chục, hàng trăm tỷ USD "mua" nhau, trở thànhnhững tập đoàn lớn chi phối cả thế giới Ngời ta lo ngại sự tập trung này dẫn tới
độc quyền và thủ tiêu cạnh tranh Nhng, mặt khác, các công ty khổng lồ chia racác công ty con rải trên khắp thế giới, các công ty còn đợc quyền chủ động nhiềuhơn, linh hoạt hơn, dễ thích nghi với sự đổi mới Cho nền, hợp nhất thành, nhữngcông ty khổng lồ, nhng thực tế lại là sự chia nhỏ/
Các khu vực công nghệ (technology park) hình thành và phát triển rấtnhanh Đó là những nơi sản xuất công nghệ, thờng đợc gọi là vờn ơm công nghê,
là cái nôi của các ngành công nghiệp tri thức ở đây hội đủ các điều kiện thuậnlợi để nhất thể hoá quá trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, triển khai côngnghệ và sản xuất, nhờ đó các ý tởng khoa học nhanh chóng trở thành công nghệ
và tạo ra sản phẩm Khu vực công nghệ tiêu biểu nhất là Thung lũng Silicon Nó
là cái nôi của công nghệ cao của thế giới (khoảng 40% công nghệ cao đang sửdụng trên thế giới bắt nguồn từ đây) là cái nôi của Internet, ngày nay Nó bắt đầuhình thành từ những năm 50, nay đã có hàng nghìn công ty với doanh số hơn 400
tỷ đô la
Trang 14Vì nền sản xuất dựa vào công nghệ cao, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lợng,thải ra ít phế thải, cho nên trong nền kinh tế tri thức có thể thực hiện đợc sản xuấtsạch, không gây ô nhiễm môi trờng Kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bềnvững.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong mọi lĩnh vực và thiếtlập mạng thông tin đa phơng tiện phủ khắp nớc, nối với hầu hết các tổ chức, cácgia đình Thông tin trở thành tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế Mọi ng -
ời đều có nhu cầu thông tin và dễ dàng truy nhập vào các kho thông tin cần thiếtcho mình Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác động của công nghệthông tin để nâng cao năng suất, chất lợng, hiệu quả Cũng chính vì vậy, nhiềungời gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế số, nền kinh tế mạng, nền kinh tếinternet, nền kinh tế điện tử
Thơng mại điện tử, tri thức ảo, tổ chức ảo, xí nghiệp ảo, làm việc từ xa
đợc sử dụng rộng rãi, làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trở nên rấtnhanh nhạy, linh hoạt; khoảng cách bị xoá dần, ý nghĩa của vị trí địa lý giảm đi.Xã hội thông tin phát triển
Thứ t, nền kinh tế tri thức thúc đầy sự dân chủ hoá Thông tin đến với mọingời Mọi ngời đều dễ dàng truy cập đến các thông tin cần thiết Dân chủ hoá cáchoạt động và tổ chức điều hành trong xã hội đợc mở rộng Ngời dân nào cũng cóthể đợc thông tin kịp thời về các quyết định của cơ quan nhà nớc hoặc tổ chức cóliên quan đến họ và họ có thể có ý kiến, nguyện vọng của nhân dân cũng rất dễdàng thuận tiện Nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra", có điều kiện thuậnlợi để thực hiện
Cách tổ chức quản lý cũng sẽ thay đổi Trong thời đại thông tin, mô hìnhchỉ huy tập trung, có đẳng cấp tỏ ra không còn phù hợp Ngời ta sử dụng nhiềuhơn mô hình phi đẳng cấp, phi tập trung, mô hình mạng, trong đó tận dụng cácquan hệ ngang thông tin đến đợc tất cả mọi ngời, mọi nơi một cách thuận lợi,nhanh chóng, không canà đi qua các nút xử lý trung gian Đó là mô hình tổ chứcdân chủ, rất linh hoạt trong điều hành, dễ thích nghi với đổi mới, khơi dậy sựnặng động sáng tạo của mọi ngời
Thứ năm, hình thành xã hội học tập Giáo dục rất phát triển Mọi ngời đềuhọc tập, học thờng xuyên,học ở trờng và học trên mạng để không ngừng trau dồi
kỹ năng, phát triển trí sáng tạo Mọi ngời thờng xuyên đợc bổ túc, cập nhật kiếnthức, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đầy sự đổi mới kiến thức,mô hình giáo dục truyền thống; đào tạo xong rồi ra làm việc là không còn phùhợp, mà phải theo mô hình học tập suốt đời; đào tạo vừa làm việc Các hình thứcgiáo dục thờng xuyên, nhất là giáo dục thông qua mạng rất phát triển Con ngờihọc tập suốt đời, vừa học vừa làm việc Hệ thống giáo dục phải đảm bảo cho mọi