1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập nhóm cộng đồng kinh tế khu vực đông nam á aec cơ hội và thách thức với nền kinh tế việt nam

32 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cộng đồng kinh tế khu vực Đông Nam Á (AEC): Cơ hội và thách thức với nền kinh tế Việt Nam
Người hướng dẫn Phạm Thị Hương, Chủ nhiệm bộ môn Kinh tế quốc tế
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 177,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ QUỐC TẾ NHÓM 4 Chủ đề Cộng đồng kinh tế khu vực Đông Nam Á (AEC), cơ hội và thách thức với nền kinh tế Việt Nam 1 Liên minh kinh tế và các vấn đề liên quan đến Liên minh kinh tế 1[.]

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM KINH TẾ QUỐC TẾ

NHÓM 4Chủ đề: Cộng đồng kinh tế khu vực Đông Nam Á (AEC), cơ hội và thách thức với

nền kinh tế Việt Nam

Trang 2

1 Liên minh kinh tế và các vấn đề liên quan đến Liên minh kinh tế

1.1 Các khái niệm cơ bản về Liên minh kinh tế

Liên minh kinh tế là một hình thức Liên kết kinh tế quốc tế

Cụ thể: Liên kết kinh tế quốc tế nằm trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc gianhằm xoá bỏ hoặc giảm tối thiểu hàng rào thương mại giữa các nước thành viên để cho hàng hóacủa các nước tự do thâm nhập vào thị trường của nhau Liên kết kinh tế quốc tế là sự thống nhấtmột hoặc nhiều chính sách về kinh tế quốc tế như: Thuế quan, Hạn ngạch, Trợ cấp, T

rợ giá, Đầu tư, Tài chính, Chuyển giao công nghệ, môi trường, an ninh … của nhiều quốc gianhằm giúp các quốc gia có thể đạt được lợi ích kinh tế tối ưu trong tổng thể lợi ích của liên kết. Các loại hình liên kết Kinh tế quốc tế:

 Các thoả thuận thương mại ưu đãi - Preferential Trade Agreement

 Vùng thương mại tự do - Free Trade Area

 Liên minh thuế quan - Custom Union

 Thị trường chung - Common Market

 Liên minh kinh tế - Economic Union

Trong năm hình thức nêu trên thì hai hình thức đầu tiên hình thành PTA và FTA được coi làcấp độ hội nhập “nông”, nghĩa là mới điều tiết những vấn đề thuế quan tại biên giới và tự do hóathương mại thuần túy, ba hình thức còn lại được phân loại vào nhóm thỏa thuận hội nhập “sâu”,bao hàm các nội dung về hài hòa hóa các vấn đề chính sách trong biên giới quốc gia thành viên,điều phối và xây dựng chính sách chung cho toàn nhóm thành viên và ở mức độ nào đó là hìnhthành những thể chế khu vực có tư cách pháp lý cao hơn thể chế quốc gia thành viên

a Các thoả thuận thương mại ưu đãi - Preferential Trade Agreement

Đây là cấp độ thấp nhất của liên kết kinh tế, theo đó, các quốc gia tham gia hiệp định dành các

ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan cho các loại hàng hóa khác nhau Trong các thỏa thuận này,thuế quan và hàng rào quốc gia phi thuế quan có thể vẫn còn nhưng thấp hơn so với khi không ápdụng thỏa thuận ưu đãi Thỏa thuận thương mại ưu đãi là hinh thức quá độ và mang tính chất thửnghiệm để xây dựng hình thức khu vực mậu dịch tự do

Một ví dụ về thỏa thuận thương mai ưu đãi là Hiệp định về thỏa thuận thương mại ưu đãiASEAN được ki kết tại Manila năm 1977 và được sửa đổi năm 1995; hay khu vực Thương mại ưuđãi Đông va Nam Phi tồn tại từ 1981 - 1994,…

b Vùng thương mại tự do - Free Trade Area

Giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế về số lượng, tiến tới hình thành

1 thị trường thống nhất về hàng háa và dịch vụ; các nước thành viên vẫn giữ được quyền độc lập tựchủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực (EFTA, NAFTA, AFTA…) Về bản chấtVùng thương mại tự do thể hiện sự có đi có lại trong đó các hàng rào thương mại giữa các quốc gia

Trang 3

thành viên được xóa bỏ song mỗi thành viên của khu vực có quyền duy trì các hàng rào thươngmại riêng đối với các nước không phải là thành viên của khu vực đó.

Ví dụ: NAFTA gồm 3 nước Mỹ, Canada va Mexico, hiệp định NAFTA được Quốc hội banước thông qua dần tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa ba nước trong vòng 15 năm, gạt bỏmọi trở ngại trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ và đầu tư, cho phép céc nước thành viên tự do đilại, mở ngân hàng, thị trường chứng khoán, công ty bảo hiểm Khác với EU, NAFTA chỉ mở rộngcửa buôn bán giữa các nước thành viên bằng cách từ từ bãi bỏ hàng rào thuế quan chứ không tiếntới xóa bỏ biên giới quốc gia và không tiến tới xây dựng một thị trường thống nhất về tiền tệ

c Liên minh thuế quan - Custom Union

Đây có thể hiểu là một khu vực thương mại tự do giữa các nước thành viên cộng với thuế quanthống nhất của các nước thành viên đối với hàng hóa từ ngoài khu vực Việc thành lập liên minhthuế quan cho phép tránh được những phức tạp liên quan đến quy tắc xuất xứ, nhưng lại làm nảysinh những khó khăn trong phối hợp chính sách giữa các nước thành viên Các nước tham gia bịmất quyền độc lập tự chủ trong buôn bán với các nước ngoài khối; lập ra biểu thuế quan chung ápdụng khi buôn bán với các nước ngoài khối Một liên minh thuế quan là một loại khu vực thươngmại tự do Hai hay nhiều nước đồng ý bãi bỏ các hạn chế về thương mại lẫn nhau, đồng thời thiếtlập một hệ thống chung về thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu áp dụng cho các quốc gia khôngphải là thành viên Nói theo thuật ngữ chuyên ngành, họ có một “biểu thuế đối ngoại chung”(common external tarrif – CET) Ví dụ, EU có mức thuế suất chung 10% áp dụng đối với xe ô tônhập khẩu vào khu vực này

d Thị trường chung - Common Market

Thị trường chung là khu vực gồm nhiều nước trong đó tất cả các nước đều có thể buôn bán trên

cơ sở bình đẳng Trong khu vực này yêu cầu cần phải có một liên minh thuế quan với hệ thốngthuế quan đối ngoại thống nhất, quyền tự do di chuyển của nhân tố sản xuất, hàng hóa và dich vụ,cũng như sự thống nhất đáng kể về chính sách thuế và các chính sách khác, lập ra chính sách ngoạithương thống nhất khi quan hệ với các nước ngoài khối

Ví dụ: Thị trường chung Châu Âu EEC hay thường gọi là EC ( European Economic

Community) Bao gồm các nước thành viên của Liên minh Châu Âu, mục tiêu là lập liên minhthuế quan trong khuôn khổ cộng đồng; xoá bỏ những cản trở việc tự do di chuyển tư bản, lao động

và dịch vụ; xây dựng chính sách buôn bán thống nhất với các nước ngoài cộng đồng; thành lập liênminh kinh tế và tiền tệ; đề ra các nguyên tắc cho chính sách kinh tế thống nhất; thực hiện chínhsách chung trong lĩnh vực nông nghiệp, giao thông vận tải để đến năm 1992 sẽ tạo ra "thị trườngkhông biên giới, tự do lưu chuyển lao động, tư bản, dịch vụ và hàng hoá", mở rộng hợp tác trongcác lĩnh vực mới như công nghệ và bảo vệ môi trường

e Liên minh kinh tế - Economic Union

Trang 4

Xây dựng chính sách phát triển kinh tế chung cho các nước hội viên của khối, xóa bỏ kinh

tế riêng của mỗi nước Các bên tham gia hình thành thị trường chung đồng thời xây dựng chínhsách kinh tế chung toàn liên minh bằng cách hài hòa hóa các chính sách tài khóa và tiền tệ quốcgia

Liên kết kinh tế quốc tế nằm trong chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia nhằm xoá

bỏ hoặc giảm tối thiểu hàng rào thương mại giữa các nước thành viên để cho hàng hóa của cácnước tự do thâm nhập vào thị trường của nhau

Có thể tóm tắt lại theo bảng sau:

Các loại hình

Liên minh kinh tế

Quy định hàng rào mậu dịch (Giảm thuế quan)

Xóa bỏ hàng rào mậu dịch (Loại bỏ thuế quan)

Thống nhất thuế quan đối với các nước bên ngoài (Thuế quan chung ngoài nhóm)

Di chuyển

tự do lao động và

tư bản (Lao động và vốn)

Thống nhất kinh

tế, tiền tệ, chính trị (chính sách kinh

tế chung, đồng tiền chung)

Ví dụ

Các thoả thuận

thương mại ưu đãi x

TTTM ưu đãi ASEAN (PTA) Vùng thương mại

tự do (khu vực mậu

dịch tự do)

NAFTA, AFTA, SAFTA,…

Liên minh thuế

LMTQ Trung Phi (UDEAC), LMTQ ASEAN (AECU),…

Thị trường chung các nước vùng Caribe

Liên minh kinh

tế và tiền tệ châu Âu

Như vậy Liên minh kinh tế là hình thức liên kết cao nhất và đạt trình độ của tất cả các hinhthức còn lại, tiến tới lập một “quốc gia kinh tế chung” của nhiều nước Hình thức này tạo ra mộtthị trường chung giữa các nền kinh tế, thống nhất về kinh tế với một đơn vị tiền tệ chung đồng thờithống nhất cả về chính trị

Trang 5

1.2 Đặc trưng, ý nghĩa và vai trò của Liên minh kinh tế:

a Các thành viên trong Liên minh kinh tế cùng nhau thỏa thuận về các vấn đề sau:

+ Cùng nhau xây dựng một chính sách phát triển kinh tế chung cho toàn liên minh

+ Xây dựng một chính sách đối ngoại chung

+ Hình thành một đồng tiền chung

+ Quy định chính sách lưu thông tiền tệ cho toàn liên minh

+ Xây dựng một ngân hàng trung ương chung thay thế cho ngân hàng trung ương của cácnước thành viên

+ Xây dựng một chính sách quan hệ tài chính, đối ngoại chung của liên minh với các nướcngoài liên minh và với các tổ chức tài chinh - tiền tệ quốc tế

+ Tiến tới thực hiện liên minh về chính trị

b Ý nghĩa, vai trò của Liên minh kinh tế

Liên kết kinh tế quốc tế làm tăng cường quá trình phối hợp và điều chỉnh lợi ích và lợi thế củacác thành viên, giảm thiểu những chênh lệch về trình độ phát triển và thúc đẩy các quan hệ kinh tếquốc tế phát triển cả về khối lượng và cường độ, chiều rộng và chiều sâu

Mở rộng quy mô và phạm vi của các quan hệ kinh tế quốc tế, đồng thời tạo điều kiện xây dựngmột cơ cấu kinh tế mới có tính chất khu vực

Mở rộng thị trường ngoài nước gia tăng khả năng cạnh tranh, thu hút được nguồn lực bên ngoàiphục vụ cho sự phát triển , khai thác được các tác động của quá trình cạnh tranh và bổ sung cơ cấukinh tế cho nhau giữa các nền kinh tế của các nước thành viên ,giảm bớt các chi phí giao dịch, hạnviệc sử dụng lãng phí nguồn lực của xã hội cho các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; gia tăngphúc lợi cho toàn cộng đồng

Loại bỏ tính biệt lập của nền kinh tế và chủ nghĩa cục bộ của từng quốc gia trong nền kinh tế

Mở rộng giao lưu giữa các cộng đồng người và làm cho các quốc gia trở nên gần nhau hơn trongcác mối quan hệ, giảm bớt những cuộc xung đột cục bộ và góp phần giữ gìn hòa bình ổn địnhtrong khu vực và thế giới

1.3 Liên hệ với tiến trình tự do hóa thương mại của ASEAN (PTA AFTA AEC)

-Ở thập kỷ 70, chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu (giảm bớt các hàng rào bảo hộcông nghiệp) mang lại những kết quả khả quan bước đầu, tăng tỷ lệ buôn bán nội bộ ngành giữacác nước thành viên ASEAN góp phần tăng trưởng kinh tế đã thu hút sự quan tâm của các quốc giađối với việc thúc đẩy trao đổi buôn bán ở khu vực Nhận thức được lợi ích của tự do hóa thươngmại trong hợp tác kinh tế, các nước ASEAN đã cùng nhau tiến hành các hoạt động tự do hóathương mại đa phương trong khuôn khổ Chương trình ưu đãi thuế quan (PTA) PTA được thànhlập năm 1977 theo Hiệp định về các thỏa thuận ưu đãi thương mại đã đặt nền tảng pháp lý quantrọng cho những chính sách thương mại tự do thông thoáng và hợp lý sau này, khởi động tiến trình

Trang 6

tự do hóa thương mại hàng hóa của ASEAN thông qua các cam kết cắt giảm thuế quan đối với một

số mặt hàng cơ bản

Bước vào những năm 90, đứng trước tác động của xu thế thành lập khu vực thương mại tự dotrên thế giới cùng những ảnh hưởng nội tại khu vực ASEAN như hạn chế về năng lực cạnh tranh,quá trình công nghiệp hóa khiến quy mô sản xuất và sản phẩm hàng hóa tăng nhanh… là động lực

để các quốc gia nâng cấp tiến trình tự do hóa thương mại nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi hànghóa giữa các nước thành viên Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) ra đời năm 1992 trên

cơ sở Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) được coi như một động thái tích cựccủa khu vực trước tình hình trên khi việc thực hiện PTA tỏ ra chậm chạp, kém hiệu quả (ngay cảkhi có những sửa đổi bổ sung vào cuối thập kỷ 80) Một trong các mục tiêu hàng đầu khi khởixướng ý tưởng thành lập AFTA chính là thúc đẩy hơn nữa tự do hóa thương mại, tăng cường traođổi buôn bán nội khối thông qua các quy định về loại bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quantheo một lộ trình đã cam kết AFTA có thể coi là chương trình hợp tác kinh tế có ý nghĩa nhất, khảthi sớm nhất và toàn diện nhất ở ASEAN trong giai đoạn này để đáp ứng những yêu cầu phát triểncủa khu vực và thế giới

Nét mới nổi bật trong hợp tác kinh tế nói chung, tự do hóa thương mại nói riêng trong khuônkhổ ASEAN ở những năm tiếp theo được đánh dấu bằng sự ra đời của khái niệm Cộng đồng kinh

tế khu vực Đông Nam Á (AEC) trong Tuyên bố Bali II năm 2003 AEC chính thức thành lập năm

2015, được xây dựng dựa trên những tiền đề lý luận, thực tiễn cũng như pháp lý vững chắc là cơ sở

để các quốc gia ASEAN đẩy mạnh hợp tác kinh tế cả về chiều rộng lẫn bề sâu, trong đó bao gồm

cả quyết tâm của các quốc gia hướng tới việc nhất thể hóa thị trường và cơ sở sản xuất của các nềnkinh tế thành viên thông qua tự do hóa các yếu tố sản xuất (như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư…) AEC

là cấp độ liên kết khu vực cao nhất , là sự phát triển khách quan của hợp tác kinh tế cũng như tự dohóa thương mại hàng hóa trong khu vực ASEAN

2 Khủng hoảng tài chính và các mô hình khủng hoảng tài chính

2.1 Một số vấn đề cơ bản về khủng hoảng tài chính

a Khái niệm

Khủng hoảng Tài chính là tình trạng tài chính mất cân đối nghiêm trọng dẫn đến sụp đổ.Khủng hoảng Tài chính là cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán,trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác Sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thịtrường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụtgiảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sự đông cứng và bất lực của thịtrường tài chính sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế

b Các dấu hiệu của khủng hoảng tài chính

Trang 7

Theo một nghiên cứu của IMF dựa trên các cuộc khủng hoảng đã xảy ra trong lịch sử vềdấu hiệu, diễn biến và nguyên nhân, trước khi xảy ra khủng hoảng, các dấu hiệu sau (hoặc cùngnhau hoặc một hay một số trong đó) thường xuất hiện:

Thứ nhất, tín dụng mở rộng quá mức và/hoặc giá tài sản tăng quá cao, dấu hiệu này

thường đi kèm với chính sách tiền tệ mở rộng, dòng vốn giá rẻ ồ ạt cung vào thị trường qua hệthống tài chính Khi dòng vốn dễ dãi và rẻ được cung ứng ồ ạt, tăng trưởng tín dụng tăng nhanhbất thường Tăng trưởng tín dụng tăng thường đi kèm với tăng trưởng kinh tế cũng bùng nổ theo.Nhưng hệ lụy là dòng tiền không thể hấp thụ hết vào khu vực sản xuất sẽ chảy vào những khuvực có tỷ suất sinh lời cao và rủi ro cũng cao như các thị trường tài sản (bất động sản, thị trườngchứng khoán), nhiều trong số đó mang tính đầu cơ ngắn hạn, tạo bong bóng tài sản Khủnghoảng sẽ xẩy ra khi dòng vốn giá rẻ đột ngột đảo chiều, thị trường tài sản đổ vỡ (giảm giá mạnh,mất thanh khoản)

Thực tế cho thấy, dấu hiệu đầu tiên này cũng là dấu hiệu phổ biến và cơ bản nhất, xuấthiện tại mọi cuộc khủng hoảng tài chính lớn Ví dụ, tại cuộc khủng hoảng nợ của các nước MỹLa-tinh năm 1982, do dễ dàng vay nợ giá rẻ từ nước ngoài trong nhiều năm, các ngân hàngthương mại (NHTM) tăng trưởng tín dụng nhanh với quy mô lớn, nhờ đó kinh tế tăng trưởng caotrong những năm này Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái từ cuộc khủng hoảng dầu

mỏ thập kỷ 70, dòng vốn đảo chiều, lãi suất tăng vọt, chính phủ các nước Mỹ la tinh mất khảnăng trả nợ

Gần đây hơn, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 và khủng hoảng tài chính toàncầu 2008-2009 cũng chứng kiến hiện tượng tương tự, dòng vốn giá rẻ – qua hệ thống tài chính –cung quá mức vào thị trường, dẫn đến bong bóng tài sản tại các nước Châu Á năm 1997, haybong bóng giá nhà ở và nợ dưới chuẩn của Mỹ năm 2008-2009

Thứ hai, hệ thống tài chính khó khăn hoặc mất khả năng cung cấp nguồn lực tài chính cho các khu vực khác của nền kinh tế Tình trạng này xảy ra khi hệ thống tài chính mất

khả năng thanh khoản, khả năng thanh toán hoặc mất mát niềm tin khiến tín dụng không thểcung ra thị trường Dấu hiệu này thường rõ nét ngay trước khủng hoảng bùng nổ, cũng như trong

và sau khủng hoảng

Thứ ba, hỗ trợ của chính phủ ở quy mô lớn (như hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn) Đặc

trưng của các hệ thống tài chính là rủi ro lây nhiễm cao, niềm tin dễ dàng bị xói mòn khi thôngtin bất cân xứng, có thể tạo nên tình trạng “hoảng loạn tập thể” gây đổ vỡ hệ thống Bởi vậy,Chính phủ thường hỗ trợ thanh khoản, tái cấp vốn cho các định chế tài chính lớn đang gặp khókhăn hoặc rủi ro nếu sự đổ vỡ của các định chế đó ảnh hưởng xấu tới hệ thống Tuy nhiên, trongnhiều trường hợp, mặc dù Chính phủ có hỗ trợ lớn nhưng đổ vỡ hệ thống vẫn diễn ra, tình trạnghỗn loạn vẫn trầm trọng do rủi ro lây nhiễm đã lan quá rộng, ngoài năng lực hỗ trợ của chínhphủ Chúng ta có thể thấy thực trạng này tại cuộc khủng hoảng gần đây nhất năm 2007-2008,

Trang 8

Chính phủ Mỹ và Chính phủ của một số nền kinh tế đều thực hiện cứu trợ quy mô lớn nhưng vẫnkhông thể ngăn chặn đà tiến của cuộc khủng hoảng đó.

Thứ tư, các bất cân đối lớn trên bảng cân đối tài khoản, cụ thể là bất cân đối giữa NỢ

và TÀI SẢN (của Chính phủ, doanh nghiệp, hộ gia đình, ngân hàng thương mại (NHTM)…) Ví

dụ, các khoản nợ quá lớn trên bảng cân đối tài sản của NHTM, nằm ngoài khả năng kiểm soát antoàn của họ; hoặc các NHTM cho vay tập trung tín dụng vào những ngành đang có khó khăn, rủi

ro tín dụng lớn như BĐS, cho vay đầu tư chứng khoán….; hoặc vay nợ quá lớn trên bảng cân đốicủa các doanh nghiệp so với năng lực trả nợ và tiềm năng kinh doanh của họ; hay các khoản nợcông ngày một lớn từ các Chính phủ trong khi nguồn thu để chi trả nợ công không tương xứnghoặc thiếu bền vững

Ngoài ra, còn có các dấu hiệu bất cân đối khác như sự phá giá tiền tệ mạnh và đột ngột,suy giảm mạnh dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương (NHTW) trong thời gian ngắn, thâmhụt cán cân thanh toán, cán cân thương mại nghiêm trọng và kéo dài …

c Các loại khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng ngân hàng

Đây là tình trạng diễn ra khi các khách hàng đồng loạt rút tiền ồ ạt khỏi ngân hàng (có thểgọi là sự tháo chạy ngân hàng) Vì ngân hàng cho vay phần lớn số tiền gửi vào nên khi kháchhàng đồng loạt rút tiền, sẽ rất khó để các ngân hàng có khả năng hoàn trả các khoản nợ Sự rúttiền ồ ạt có thể dẫn tới sự phá sản của ngân hàng, khiến nhiều khách hàng mất đi khoản tiền gửicủa mình, trừ phi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽgây ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống Cũng có thể hiện tượng trên không lan rộng,nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên (để huy động vốn) do lo ngại về sự thiếu hụt trong ngânsách Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thành nhân tố gây ra khủng hoảng tài chính

Khủng hoảng trên thị trường tài chính

Khủng hoảng trên thị trường tài chính thường xảy ra do hai nguyên nhân chính: do cácchính sách của Nhà nước và do sự tồn tại của các “bong bóng” đầu cơ

Yếu tố đầu tiên phải nói đến, đó chính là các chính sách của Nhà nước Khi nhà nướcphát hành tiền nhằm trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới

tỷ giá cố định Người dân sẽ mất lòng tin vào nội tệ và chuyển sang tích trữ bằng các loại ngoại

tệ Khi đó dự trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ bỏ tỷ giá cố định và

tỷ giá sẽ tăng

Thêm vào đó, trên thị trường lại luôn tồn tại những "bong bóng" đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ

đổ vỡ Khi hầu hết những người tham gia thị trường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đótrên thị trường tài chính (chẳng hạn như cổ phiếu, bất động sản), nhưng không nhằm mục đíchđầu tư lâu dài, mà chỉ mua với mục đích đầu cơ, với hi vọng sẽ bán ra với giá cao hơn và thu lợinhuận trong tương lai, điều này đẩy giá trị của các hàng hóa này lên cao, vượt quá giá trị thực

Trang 9

của nó Tình trạng này xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ đổ vỡ trên thị trường tài chính, do cácnhà đầu tư ngắn hạn kiểu trên luôn mua và bán theo xu hướng chung trên thị trường: họ mua vàokhi thấy nhiều người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thị trường và bán ra khi có nhiềungười cùng bán, gây tình trạng giảm giá, họ không cần hiểu biết nguyên do khi nào cần mua vào,khi nào cần bán ra nên gọi là "tâm lý bầy đàn".

Khủng hoảng tiền tệ

Khi một quốc gia đang duy trì cơ chế tỷ giá cố định thì đột ngột phải phá giá tiền tệ do bị

tấn công đầu cơ Hiện tượng này gọi là khủng hoảng tiền tệ hay khủng hoảng cán cân thanh toán Khi một chính phủ thất bại trong việc hoàn trả các khoản nợ quốc gia được gọi là sự vỡ nợ quốc gia.

Khủng hoảng tài chính trong các tập đoàn Kinh tế

Các tập đoàn thường vướng vào khủng hoảng tài chính do 2 lý do chủ yếu: do các kếhoạch đầu tư không đúng đắn, không thu hồi được vốn đầu tư, dẫn tới việc không thanh toánđược các khoản vay để đầu tư dẫn tới phá sản Do bị hiệu ứng dây chuyền từ khủng hoảngchung, khi đó các doanh nghiệp không vay được vốn để đầu tư hoặc các dự án đầu tư không thuhồi được vốn do tình trạng khủng hoảng

d Nguyên nhân các loại khủng hoảng tài chính

Sự dự đoán về sự phát sinh trên thị trường tài chính, động cơ bắt chước chiến lược của người khác

Người ta quan sát và thấy rằng để đầu tư thành công đòi hỏi mỗi nhà đầu tư trên thịtrường tài chính phải đoán được hành động của các nhà đầu tư khác Ví dụ nếu có người nghĩrằng các nhà đầu tư khác mua nhiều VND bởi vì họ dự đoán VND sẽ tăng giá, và như vậy ngườinày cũng có động cơ mua VNĐ, nếu người gửi tiền cho rằng ngân hàng sẽ phá sản thì điều này

sẽ làm cho ngân hàng phá sản

Đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy tài chính có nghĩa là vay mượn để tài trợ cho đầu tư Đòn bẩy tài chính thườngcũng bị chỉ trích như là nhân tố đóng góp cho khủng hoảng tài chính Khi một nhà đầu tư dùngtiền của mình để đầu tư thì nếu thua lỗ, trong tình huống xấu nhất người này chỉ mất tiền củamình mà thôi Nhưng khi vay nợ để đầu tư thì kết quả có thể làm cho thu nhập tiềm năng tănglên nhưng cũng có thể thua lỗ nhiều hơn những gì nhà đầu tư có Do đó, đòn bẩy tài chính có thểkhuếch đại thu nhập nhưng cũng có thể tạo ra rủi ro phá sản Nếu sự phá sản xảy ra thì có nghĩa

là công ty đã thất bại trong việc đáp ứng các lời hứa trả nợ cho các công ty khác, tức có nghĩa là

từ rắc rối tài chính của công ty này có thể lan sang thành của công ty khác

Sự không tương thích giữa nợ và tài sản

Một yếu tố khác được cho là có đóng góp đến khủng hoảng tài chính là sự không tươngthích giữa nợ và tài sản Chẳng hạn, các ngân hàng thương mại chào mời các tài khoản tiền gửi

Trang 10

có thể rút tiền ở bất cứ thời điểm nào nhưng lại cho các doanh nghiệp hay gia đình vay dài hạn.

Sự không tương thích giữa nợ ngắn hạn và tài sản dài hạn của ngân hàng được xem là một trongnhững lý do có sự tháo chạy ngân hàng xảy ra (khi người gửi tiền hoảng loạn và quyết định rúttiền của mình nhanh hơn là ngân hàng có thể thu hồi nợ vay) Nó không thể tái cấu trúc cáckhoản nợ ngắn hạn mà nó đã dùng để đầu tư dài hạn vào các chứng khoán cầm cố

Đứng ở phương diện quốc gia, một vài chính phủ ở các nền kinh tế mới nổi, vì một lý donào đó, không thể bán trái phiếu có mệnh giá nội tệ, thay vào đó họ bán trái phiếu có mệnh giángoại tệ Điều này có thể tạo ra sự không tương thích giữa mệnh giá ngoại tệ của nợ với tài sảnhay thu nhập có thể kiếm được (doanh thu thuế bằng nội tệ) Do đó, các chính phủ này sẽ gặprủi ro vỡ nợ quốc gia nếu tỷ giá có sự dao động mạnh hoặc khi nguồn dự trữ ngoại tệ yếu

Sự không chắc chắn và tâm lý bầy đàn.

Nhiều phân tích về khủng hoảng tài chính nhấn mạnh đến vai trò của các sai lầm trongđầu tư gây ra bởi sự thiếu hiểu biết và sự không hoàn hảo trong lý lẽ của con người

Sự lừa đối

Sự lừa dối đóng một vai trò quan trọng trong việc làm sụp đổ một số tổ chức tài chính.Chẳng hạn nhiều công ty thu hút đầu tư với lời hứa hảo huyền về các cơ hội đầu tư, hoặc cheđậy kết quả thu nhập thực sự của mình

2.2 Các mô hình khủng hoảng tài chính

Dựa trên đặc điểm và tính chất của các cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã nổ ra, cáchọc giả đã xây dựng nên 3 mô hình khủng hoảng cơ bản

a Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ nhất được P Krugman (1979) xây dựng và chủ yếu đặctrưng cho các cuộc khủng hoảng cán cân vãng lai trong điều kiện tỷ giá cố định bị các hoạt độngđầu cơ tấn công Mô hình này xảy ra ở một số nước có nền tảng kinh tế vĩ mô quá yếu kém, ngânsách thâm hụt trầm trọng, cung tiền tăng quá mức (có thể do Chính phủ in tiền để bù đắp thâmhụt ngân sách) khiến lạm phát gia tăng; những điều này dẫn đến cán cân vãng lai thâm hụt trầmtrọng Trước nguy cơ đồng nội tệ bị giảm giá, Chính phủ buộc phải liên tục can thiệp bằng cáchbán ngoại tệ ra thị trường để duy trì tỷ giá cố định Khi lượng dự trữ ngoại hối giảm xuống mộtmức thấp nhất định nào đó, các cuộc tấn công mang tính đầu cơ bắt đầu xảy ra, cùng với các điềukiện nền tảng kinh tế vĩ mô quá yếu kém và thậm chí là sự gia tăng căng thẳng về chính trị và xãhội, đến một thời điểm nào đó, Chính phủ buộc phải chấm dứt chế độ tỷ giá cố định và chuyểnsang thả nổi tỷ giá làm cho đồng nội tệ bị mất giá liên tục và khủng hoảng tiền tệ xảy ra Mô hìnhnày được thể hiện rõ nhất trong các cuộc khủng hoảng ở một số nước châu Mĩ La Tinh vào cuốinhững năm 1970, đầu những năm 1980 và trong những năm 1990

b Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai

Trang 11

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai được Obstfeld (1994 và 1995) xây dựng Khủnghoảng dạng này còn được gọi là khủng hoảng tự phát sinh (self-fulfilling crisis), có thể xảy ra ởnhững nước có mức độ yếu kém về tài chính và vĩ mô vừa phải, song cam kết duy trì chế độ tỷgiá cố định của Chính phủ bị suy yếu do các biện pháp bảo vệ tỷ giá quá tốn kém (chẳng hạn dothắt chặt tiền tệ, lãi suất bị đẩy lên cao, gây tác động xấu tới tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm).Trước tín hiệu đó, các nhà đầu cơ có thể bán tháo đồng nội tệ để mua ngoại tệ Những sức ép nàybuộc Chính phủ không có cách nào khác là phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định để thực thi chínhsách tiền tệ mở rộng trước những cuộc tấn công quy mô của giới đầu cơ tiền tệ, và hậu quả làkhủng hoảng bùng phát Biến thể khác của mô hình khủng hoảng thế hệ thứ hai xuất phát từ tìnhtrạng thông tin không hoàn hảo và mất đối xứng Trong điều kiện một hoặc một số ngân hàng có

“vấn đề”, tình trạng này dẫn đến hành vi “bầy đàn”, gây hoảng loạn tài chính và rốt cuộc dẫn đếnkhủng hoảng tài chính - tiền tệ Mô hình này có thể thấy trong cuộc khủng hoảng của Hệ thốngtiền tệ châu Âu (European Monetary System) năm 1992-1993

c Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba

Mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba được Yoshitomi và Ohno (1999) xây dựng, đặc trưngcho các cuộc khủng hoảng tài khoản vốn trong cán cân thanh toán quốc tế (Balance of Payment).Khủng hoảng tài khoản vốn thường dẫn đến khủng hoảng “kép”: khủng hoảng tiền tệ và khủnghoảng ngân hàng Việc tự do hoá tài khoản vốn thiếu một trình tự thích hợp đã dẫn đến hai hệquả là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kép: (i) Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá mức thâm hụt cáncân vãng lai; và (ii) Vốn ngắn hạn chiếm tỷ trọng quá lớn

(i) Luồng vốn đổ vào ồ ạt vượt quá mức thâm hụt cán cân vãng lai (CA Deficit) đã khiếncán cân thanh toán (BOP) thặng dư và dự trữ ngoại hối tăng Điều này dẫn tới sự bành trướng tíndụng, đầu tư và tiêu dùng trong nước Điểm mấu chốt ở đây là việc đầu tư quá mức (dư thừanăng lực sản xuất), đầu tư kém hiệu quả (vào các lĩnh vực như bất động sản…), đã dẫn tới hậuquả là thâm hụt cán cân vãng lai tăng, xuất hiện nền “kinh tế bong bóng” và mức cung dư thừa.Khi các nhà đầu tư nhận thức được những yếu kém kể trên và những dấu hiệu bất ổn khác như sựsụt giảm giá bất động sản và cổ phiếu cũng như các hoạt động tấn công đầu cơ tiền tệ, họ đồngloạt rút vốn ra khỏi nền kinh tế Hậu quả là cán cân thanh toán trở nên thâm hụt trầm trọng và dựtrữ ngoại hối dần cạn kiệt, báo hiệu về một cuộc khủng hoảng tiền tệ xảy ra

(ii) Trong điều kiện tự do hoá cán cân vốn, một lượng vốn ngắn hạn với tỷ trọng quá lớn(lớn hơn nhiều dự trữ ngoại hối) đã đổ vào nền kinh tế Trong điều kiện giám sát các khoản vay

nợ kém hiệu quả, một lượng lớn vốn vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đã được cho vay bằng nội tệ đểđầu tư dài hạn vào những dự án kém hiệu quả đã dẫn đến vấn đề “sai lệch kép” trầm trọng Bảngcân đối tài sản của các công ty cũng như của hệ thống ngân hàng - tài chính xấu đi một cách trầmtrọng khi đồng nội tệ mất giá và một lượng vốn lớn của các nhà đầu tư nước ngoài bị rút ra độtngột; đến lượt nó, tài sản ròng của các ngân hàng bị sụt giảm, dẫn đến tín dụng càng bị thắt chặt

Trang 12

và bảng cân đối tài sản của các ngân hàng càng tồi tệ hơn Quá trình tác động vòng xoáy và cộnghưởng này gây nên khủng hoảng bùng phát trong một thời gian rất ngắn và đẩy các nền kinh tếngập sâu vào vòng suy thoái Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á 1997-1998 được coi là

ví dụ điển hình của mô hình khủng hoảng thế hệ thứ ba

2.3 Ví dụ khủng hoảng tài chính – Khủng hoảng tài chính Đông Á 1997

a Nguyên nhân

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng thời kỳ này là sự tranh cải của nhiều người Tuynhiên, những nguyên nhân được nhắc đến nhiều nhất như:

• Nền tảng Kinh tế vĩ mô yêu kém

• Các dòng vốn nước ngoài kéo vào

• Những thay đổi bất lợi của Kinh tế thế giới

• Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt

Các nguyên nhân dần dần được bộc lộ trong quá trình khủng hoảng Tuy nhiên, nguyênnhân trực tiếp gây ra cuộc khủng hoảng này chính là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốnđồng loạt khỏi các nước châu Á Mặt khác, một điều tồi tệ là thời kỳ này các nước Đông Á hầunhư không thể kiểm soát được nợ nước ngoài Cấu trúc tổ chức thị trường nợ khu vực Đông Á,tương tác với tình trạng phá giá tiền tệ đẩy nền kinh tế khu vực tới cuộc khủng hoảng toàn diện

Có quá nhiều doanh nghiệp ở những quốc gia này có các khoản nợ phát hành bằng ngoại tệ nhưđồng USD hay Yen Nhật, sự mất giá đồng tiền trong nước làm cho tình trạng vay nợ, xét trêngóc độ đồng nội tệ, thêm trầm trọng, ngay cả khi trên thực tế giá trị tài sản của họ không hề thayđổi

Thời kỳ này, các nước trong khu vực đã cố gắng thực hiện một kế hoạch gồm ba chínhsách mà các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời ( Giả thuyết này cho rằngkhông thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền

tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong bachính sách này mà thôi) Chình vì sự gắng gượng thực hiện ba chính sách trên, khi kinh tế tăngtrưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ Khi đó, ngânhàng trung ương muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng.Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc lạm phát Muốnlạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối ứng Song như thế thìvốn nước ngoài càng chảy vào nhiều Và như thế, các nước trong khu vực đã gián tiếp đẩy mìnhvào cuộc khủng hoảng này Mặt khác, sau cuộc suy thoái 1987, Mỹ đã bước vào một thời kỳphục hồi nên kinh tế bằng một trong các biện pháp là năng lãi suất để ngăn chặn lạm phát Việcnày làm cho Mỹ trở thành thị trường hấp dẫn hơn các nước Đông Á đối với nhà đầu tư Từ đólàm tăng giá đồng Đô La Mỹ, và đo đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào Đô La

Trang 13

Mỹ nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh, từ đó xuất khẩu giảm xuống mộtcách nhanh chòng làm cho suy yếu tài khoản vãng lai của các nước Đông Á.

Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu kém.Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thảnổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoạihối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài Một số nhà kinh tế lại chỉ tríchchính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làmcho khủng hoảng thêm trầm trọng

b Diễn biến

Thái Lan: Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh.

Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi Sau khi đạt tốc độtăng trưởng thuộc loại cao nhất thế giới từ 1985 đến 1995, với tốc độ tăng trưởng trung bình 9%mỗi năm, sức ép lên việc duy trì đồng baht tại Thái Lan tăng lên đồng baht chạm tới mức thấpnhất với 56 baht đổi 1 đô la vào tháng 1 năm 1998, các hợp đồng kinh tế được ký kết bằng10,2% năm trước

Philippines: Tăng trưởng kinh tế giảm từ 5% năm 1997 xuống 0.6% năm 1998 Ngân

Hàng Trung Ương Philipines thời kỳ này đã cố gằng kiềm chế sự mất giá của đồng Peso bằngcách tăng mức lãi suất Tuy nhiên, đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollarxuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng Tiếp sau đó, do cuộc khủng hoảngchính trị xảy ra, đồng Peso tiếp tục mất giá Chính phủ đã hứa hẹn sẽ tiếp tục cải cách kinh tế đểđạt mức tăng trưởng tương đương với các nước công nghiệp mới ở Đông Á Những nỗ lực nhằmcải thiện kinh tế đã bị ngăn cản bởi một khoản nợ công cộng lên tới 77% GDP Ngân sách chocác khoản nợ còn cao hơn ngân sách cho giáo dục và quốc phòng cộng lại Nguồn thu khôngđồng đều cũng là một vấn đề nghiêm trọng

Hongkong: Một sự trừng hợp đến ngạc nhiên là cuộc khung hoảng xay ra 24h ngay sau

khi Anh trao trả Hongkong cho Trung Quốc Đơn vị tiền tệ của Hồng Kông là Dollar HồngKông Kể từ năm 1983, đồng tiền này đã được neo chặt vào Dollar Mỹ Đồng tiền này được phéptrao đổi với một dải tỷ giá từ 7,75 và 7,85 dollar Hồng Kông ăn một dollar Mỹ Tuy nhiên, tỷ lệlạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhưng CơQuan Tiền Tệ Hongkong đã "mạnh tay" trong việc chi một khoãn tiền khổng lồ là 1 tỉ USD đểgiữ vững đồng tiền của mình Thị trường Chứng khoán nước này tiếp tục sụt giảm mạnh, chỉ sốgiao dịch HangSeng-Index giảm 23% Nền kinh tế nước này đã sụt giảm 5,3%

Hàn Quốc: Khi khủng hoảng tài chính Đông Á xảy ra, Hàn Quốc đang chịu một khoản

nợ khổng lồ Chính điều này đã làm cho vị trí trong nền Kinh tế - Tín dụng của Hàn Quốc bị hạthấp, dẫn tới TTCK bị sụt giãm nghiệm trọng Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống cònkhoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD Để tháo gỡ khó khăn, chính phủ Hàn Quốc

Trang 14

đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) 57 tỷ USD với những điều kiệnngặt nghèo, tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựng nền kinh tế thị trường dân chủ, phá bỏ quyềnlực của các tài phiệt, coi trọng các công ty vừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chốngcâu kết chính trị - kinh doanh, mặt khác, đã áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", huy độngquốc dân quyên góp tiền vàng ủng hộ chính phủ Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việckhắc phục khủng hoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ của IMF.

Malaysia: Tương tự như các quốc gia khác bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng này, tình

trạng bán ra trước hạn (short-shelling) đồng tiền tệ Malaysia, đồng ringgit diễn ra Đầu tư trựctiếp nước ngoài rơi xuống mức báo động, khi dòng vốn chảy ra khỏi đất nước, giá trị đồngringgit giảm từ MYR 2.50 trên USD xuống còn, ở một thời điểm, MYR 4.80 trên USD Chỉ sốtổng hợp Thị trường Chứng khoán Kuala Lumpur mất gần 1300 điểm xuống gần mức 400 sauvài tuần Sau sự sa thải gây tranh cãi bộ trưởng tài chính Anwar Ibrahim, một Hội đồng Hànhđộng Kinh tế Quốc gia được thành lập để giải quyết cuộc khủng hoảng tiền tệ Ngân hàngNegara đặt ra các biện pháp kiểm soát vốn và chốt giữ tỷ giá đồng ringgit Malaysia ở mức 3.80trên US dollar Tuy nhiên, Malaysia đã từ chối các gói hỗ trợ kinh tế từ Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF) và Ngân hàng Thế giới, gây ngạc nhiên cho nhiều nhà phân tích Lượng vốn chảy ra đạttới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997

3 Cộng đồng kinh tế Asean (ASEAN Economic Community- Viết tắt AEC)

3.1 Khái niệm về cộng đồng kinh tế AEC

Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - viết tắt: AEC) là một khối kinh

tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng

12 năm 2015, cùng với Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN, Cộngđồng kinh tế ASEAN là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiệncác mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020

a Lịch sử hình thành

Năm 1992: khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ratrong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore.Hiệp định này nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vựcthương mại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng,thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông Cũngtrong năm này, Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung(CEPT) được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại Hànghoá ASEAN 2010

Năm 1995: Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN được ký kết

Trang 15

Năm 1998: Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN được ký kết, sau đó đượcthay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012.

Năm 2003: Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lầnđầu tiên tuyên bố mục tiêu hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).Mục tiêu này cũng phù hợp với Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua vào năm

1997 với mục tiêu phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN

Năm 2006: Tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạchtổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu và lộtrình cụ thể cho việc thực hiện AEC

Năm 2007: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạoASEAN đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì 2020như kế hoạch ban đầu

Ngày 22/11/2015: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnhđạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC

Ngày 31/12/2015 AEC được chính thức thành lập, các thành viên AEC hiện nay:

b Mục tiêu hoạt động của AEC và các thành tựu đạt được

Thứ nhất, mục tiêu hoạt động của AEC là một thị trường đơn nhất và cơ sở

sản xuất chung, thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hóa, tự do lưu chuyển dịch

vụ, tự do lưu chuyển đầu tư, tự do lưu chuyển vốn, tự do lưu chuyển lao động

có tay nghề, lĩnh vực hội nhập ưu tiên, Thực phẩm/nông nghiệp và lâm nghiệp.Mục tiêu trên được thực hiên thông qua quá trình dỡ bỏ hàng rào thuế quan và cáchàng rào phi thuế quan; thuận lợi hóa thương mại, hài hòa hóa các tiêu chuẩn sản phẩm (hợpchuẩn) và quy chế, giải quyết nhanh chóng hơn các thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hoàn

Trang 16

chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tạo thuận lợi cho dịch vụ, đầu tư, tăng cường phát triển thị trườngvốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển lao động có tay nghề(di chuyển thể nhân) v.v., song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩymạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, côngnghệ thông tin và viễn thông, cũng như phát triển các kỹ năng thích hợp.

Các biện pháp thực hiện đã và đang được các nước thành viên ASEAN triển khai cụ thể thôngqua các thỏa thuận và hiệp định quan trọng như Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN(AFTA) và Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định khung ASEAN vềDịch vụ (AFAS), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) và Hiệp định Đầu tư Toàndiện ASEAN (ACIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO), Lộ trình Hộinhập Tài chính và Tiền tệ ASEAN, v.v …

Theo cam kết trong AFTA năm 1992, và sau đó trong ATIGA năm 2010, các quốc gia thànhviên đã loại bỏ thuế nhập khẩu với nhau vào năm 2010 cho các nước ASEAN - 6 (BruneiDarussalam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan), và năm 2015 linh hoạt đếnnăm 2018 - cho 04 nước thành viên mới (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) Đến nay, cácnước ASEAN-6 đã hầu như loại bỏ thuế quan trong khu vực của họ, với 99,2% số dòng thuế là0%, đối với 04 nước thành viên mới, con số này là 90,86% và con số trung bình của ASEAN là95,99% Đến nay AEC đã hình thành nên một thị trường mở không còn các rào cản thuế quanđối với hàng hóa Ngoài ra để hỗ trợ tự do hoá thương mại, ASEAN đang nỗ lực đưa vào hoạtđộng Cơ chế hải quan 1 cửa ASEAN (ASEAN Single Window-ASW) và các quy định về áp dụngchứng nhận xuất xứ cho hàng hoá có nguồn gốc từ ASEAN để đủ điều kiện hưởng các ưu đãi vềthuế quan, trong đó ASEAN đang nghiên cứu tiến tới việc cho phép các doanh nghiệp tự chứngnhận xuất xứ, cùng với việc hài hoà hoá các quy định về hợp chuẩn hàng hoá v.v…

Về tự do hoá dịch vụ, ASEAN đã hoàn tất Gói 9 cam kết dịch vụ theo Hiệp định KhungASEAN về Dịch vụ (AFAS) trong năm 2013, tạo thuận lợi cho việc luân chuyển dịch vụ trong khuvực Tới nay, các cam kết về tự do hoá dịch vụ trong ASEAN đã bao trùm nhiều lĩnh vực như dịch

vụ kinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, vận tải biển,viễn thông và du lịch Có 4 gói cam kết về dịch vụ tài chính và 6 gói cam kết về vận tải hàngkhông đã được ký kết Các thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) giữa các nước thành viênASEAN về tiêu chuẩn, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp v.v là một công cụ quan trọng giúp tự dohoá lưu chuyển các dịch vụ chuyên nghiệp trong ASEAN Tới nay, các nước ASEAN đã ký cácthoả thuận công nhận lẫn nhau đối với các tiêu chuẩn, kỹ năng các ngành dịch vụ cơ khí, y tá, kiếntrúc, kế toán và du lịch

Về tự do hoá đầu tư, trong khuôn khổ Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), ASEANhướng tới hình thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn ở khu vực, với cơ chế đầu tư thông thoáng và

mở, bao gồm tự do hoá đầu tư trên các lĩnh vực chính như sản xuất-chế tạo, nông nghiệp, ngư

Ngày đăng: 20/03/2023, 18:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w