Với danh dự và trách nhiệm cá nhân, em xin đảm bảo việc hoàn thànhchuyên đề tốt nghiệp với đề tài: "Hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm tại thịtrường Hà Nội của công ty cổ phần thực p
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI SẢN PHẨM
TẠI THỊ TRƯỜNG HÀ NỘI CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT
H
a
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hương
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thế Anh
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh thương mại
Thời gian thực tập : 06/02/2012 đến 21/05/2012
Trang 2Hà Nội, tháng 05/2012
b
Trang 3Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN CAM ĐOAN
Họ và tên: Nguyễn Thế Anh
Sinh viên lớp: QTKD Thương mại K50B
Khoa: Thương Mại và Kinh Tế Quốc Tế
Trường: Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Với danh dự và trách nhiệm cá nhân, em xin đảm bảo việc hoàn thànhchuyên đề tốt nghiệp với đề tài: "Hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm tại thịtrường Hà Nội của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt" có sự tham khảo cáctài liệu khác nhưng được soạn thảo và hoàn thành một cách độc lập, sáng tạo,không sao chép từ bất cứ luận văn tốt nghiệp nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên
Ký tên
Nguyễn Thế Anh
c
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY 3
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT 3
1.1.1 Sự hình thành của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt 3
1.1.2 Sự phát triển của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt 4
1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy hiện tại của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt 6
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUÂT KINH DOANH 10
1.2.1 Các quan niệm về hệ thống phân phối và hoàn thiện hệ thống phân phối 10
1.2.2 Các yếu tố thuộc hệ thống phân phối 14
1.2.3 Các yếu tố ảnh hướng đến hiệu quả hoạt động của kênh phân phối 19
1.2.4 Phương hướng và nội dung các hoạt động hoàn thiện hệ thống phân phối 21
1.3 Vai trò của việc hoàn thiện hệ thống phân phối đối với hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt 22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT TẠI HÀ NỘI 25 2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT 25
2.1.1 Đặc điểm về vốn 25
2.1.2 Đặc điểm về doanh thu, chi phí 26
2.1.3 Đặc điểm về mặt hàng 31
2.1.4 Đặc điểm về nguồn nhân lực 33
d
Trang 52.1.5 Đặc điểm về thị trường 34
2.2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT TẠI HÀ NỘI 40
2.2.1 Hệ thống kênh phân phối công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đang sử dụng tại thị trường Hà Nội 40
2.2.2.Thực trạng kênh phân phối của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt tại Hà Nội 43
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT VÀ HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY 48
2.3.1 Ưu điểm: 48
2.3.2 Nhược điểm và nguyên nhân: 49
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT TẠI HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 51 3.1 DỰ BÁO THỊ TRƯỜNG THỰC PHẨM ĐẾN NĂM 2015 51
3.1.1 Dự báo nền kinh tế nói chung 51
3.1.2 Dự báo thị trường thực phẩm tươi sống 52
3.1.3 Dự báo thị trường xúc xích và đồ ăn nhanh 52
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI HÀ NỘI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT ĐẾN NĂM 2015 54
3.2.1 Định hướng hoàn thiện 54
3.2.2 Biện pháp hoàn thiện 55
3.3 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 60
3.3.1 Các điều kiện bên trong công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt 60
3.3.2 Các điều kiện bên ngoài 62
e
Trang 6Danh mục bảng
Bảng 2.1 Nguồn vốn của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt ……… 25Bảng 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2008-
2010 ……… ……….……… 27Bảng 2.3 Doanh thu và lợi nhuậncủa công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt giaiđoạn 2008-2010 ……… 28Bảng 2.4 Chi phí kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt …… 30Bảng 2.5 Doanh thu từ các mặt hàng chủ yếu năm 2008-2010 ……… 36Bảng 2.6 Doanh số từ các mặt hàng chủ yếu từ năm 2008 đến 2010 ……… 37Bảng 2.7 Doanh thu tiêu thụ tại các thị trường trong giai đoạn 2008-2010 … 38
Danh mục hình và biểu đồ
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt … 7Biểu 2.1 Sự thay đổi trong nguồn vốn của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việttrong 3 năm 2008, 2009, 2010 ……….… 26Biểu 2.2 Sự thay đổi trong doanh thu và lợi nhuận của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt giai đoạn 2008-2010 ……… 29Hình 2.1 Quy trình chế biến thực phẩm đóng gói ……….…… 32Biểu 2.3 Doanh thu và thị phần tiêu thụ tại các thị trường năm 2008-2010 … 39Hình 2.2 Mô hình phân phối sản phẩm tại Hà Nội ……… … 40Hình 2.3 Các cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại Hà Nội ……….…… ……… 41Hình 2.4 Các kho phân phối tại Hà Nội ……….……….……… 42
f
Trang 7g
Trang 8h
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tiêu thụ là một trong những hoạt động cơ bản và quan trọng của mỗidoanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh Để hoạt động tiêu thụ được tốtthì cần phải có sự phối kết hợp đồng đều và hợp lí của rất nhiểu yếu tố, trong đócó phân phối Trong nền kinh tế thị trường ngày nay các công ty sử dụng nhiềuloại kênh phân phối khác nhau một cách rất linh hoạt để hợp thành một hệ thốngphân phối có hiệu quả trong việc đưa sản phẩm của công ty đến tay người tiêudùng sau cùng Vì thế, để một công ty hoạt động có hiệu quả thì ban lãnh đạocông ty phải tìm mọi cách để quản lý tốt nhất hệ thống kênh phân phối củamình, làm sao đảm bảo hệ thống kênh phân phối hoạt động hiệu quả nhất, luônđưa được hàng hoá tới người tiêu dùng sau cùng một cách thuận tiện nhất, đồngthời thoả mãn lợi ích của các thành viên trong kênh phân phối tốt nhất
Quyết định về kênh phân phối trở thành một trong những quyết định quantrọng nhất mà ban lãnh đạo công ty phải thông qua Các kênh phân phối màcông ty lựa chọn sẽ ảnh hưởng tới các quyết định khác trong chính sáchmarketing hỗn hợp của công ty, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty Vì thế việc thường xuyên nghiên cứu, nắm rõ tình hình hoạtđộng của hệ thống kênh phân phối là hết sức cần thiết đối với bất cứ công tynào
Từ nhận thức trên, trong thời gian thực tập tại công ty cùng với sự địnhhướng của cô giáo Nguyễn Thị Xuân Hương và các cô chú tại công ty cổ phầnthực phẩm Đức Việt, cùng với những kiến thức đã được học, em quyết địnhchọn đề tài : “Hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm tại thị trường Hà Nội củacông ty cổ phần thực phẩm Đức Việt”
2 Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề được thực hiện với mong muốn phát hiện đặc điểm, đánh giáthực trạng tổ chức, chỉ ra những tồn tại, nguyên nhân cần khắc phục trong tổchức và quản lý kênh phân phối; đề xuất những quan điểm nguyên tắc và giảipháp đồng bộ có cơ sở khoa học và tính khả thi cho công tác tổ chức và quản lýkênh phân phối của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
3 Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề được thực hiện dựa trên cơ sở của tổ chức và hoạt động của hệthống phân phối của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt tại Hà Nội, qua đó tìm
ra các mặt mạnh mặt yếu của các thành tố tạo nên hệ thống phân phối
4 Kết cấu của chuyên đề gồm 3 phần chính như sau:
Trang 10Chương I: Tổng quan về hệ thống phân phối và sự cần thiết phải hoànthiện hệ thống phân phối tại Hà Nội của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt.
Chương II: Thực trạng hệ thông phân phối tại Hà Nội của công ty cổphần thực phẩm Đức Việt
Chương III: Giải pháp hoàn thiện hệ thống phân phối tại Hà Nội củacông ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đến năm 2015
Chuyên đề được hoàn thành còn có một vài thiếu sót do hạn chế về thờigian và kinh nghiệm Em rất mong được các thầy cô chỉ bảo giúp đỡ để em cóthể hoàn thiện tốt đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Xuân Hương, giảng viênKhoa TM&KTQT - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân và cán bộ nhân viênCông ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đã tận tình giúp đỡ em trong thời gianthực tập tốt nghiệp và hoàn thành đề tài này!
Trang 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT
1.1.1 Sự hình thành của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
Ông Mai Huy Tân, hiện tại là chủ tịch HĐQT của công ty cổ phần thựcphẩm Đức Việt đã sáng lập nên Đức Việt theo một cách khá tình cờ Sau khi tốtnghiệp khoa toán, trường Đại học Tổng hợp, ông được điều động vào quân đội
và tham gia chiến đấu trên mặt trận Quảng Trị Chiến tranh kết thúc, năm 1983ông được cử sang Đức nghiên cứu khoa học để trở thành tiến sĩ toán kinh tế
Qua mối quan hệ với các đối tác tại Đức, ông đã làm quen với một ngườibạn là Michael Campioni, một người Đức có cái tên Ý sống ở thành phố Erfurt,tiểu bang Thueringen, một địa phương sản xuất xúc xích nổi tiếng ở Đức Vàcũng chính từ mối quan hệ này đã đánh dấu cho sự thay đổi cuộc đời Mai HuyTân trong những năm về sau
Vào khoảng cuối năm 1997, ông Campioni sang Việt Nam Ông đã nóivới ông Mai Huy Tân tất cả dự định của mình là thành lập một công ty chuyên
về sản xuất kinh doanh cánh cửa bằng vật liệu nhựa PVC Lúc này ở Việt Namchưa có thói quen dùng loại vật liệu nhựa trong các công trình xây dựng nên ôngTân khuyên bạn không nên Thế rồi trong một buổi trò chuyện vui vẻ, ông Tânnói với bạn mình rằng ở Việt Nam bây giờ chỉ sản xuất đồ ăn uống là dễ bánnhất bởi lúc này trong đầu ông Tân đang nghĩ đến người hàng xóm làm nghề giòchả Hay là làm xúc xích Đức? Và thế là hai bên đi đến thống nhất thành lập mộtliên doanh chuyên sản xuất xúc xích theo công nghệ Đức
Ngày 14 tháng 7 năm 2000, ông Mai Huy Tân thành lập Công ty TNHHĐức Việt theo quyết định số 0102000824 của UBND thành phố Hà Nội, giấyđăng ký kinh doanh của công ty số 0102000824 do sở kế hoạch và đầu tư thànhphố Hà Nội cấp ngày 14/07/2000 Thời điểm đó, công ty TNHH Đức Việt hoạtđộng theo các ngành nghề sau: chế biến nông sản thực phẩm; buôn bán tư liệusản xuất, tư liệu tiêu dùng (chủ yếu là máy móc, thiết bị phụ tùng tín hiệu antoàn giao thông, thiết bị xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, thiết bị chế biến,
xử lý ngũ cốc, hạt giống); đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá; tư vấn đầu tư;dịch vụ tiếp thị; dịch vụ ăn uống, giải khát; gia công (hàng thủ công mỹ nghệ,dụng cụ giảng dạy và học tập, phụ tùng phục vụ ngành giao thông vận tải) vớivốn điều lệ ban đầu là 500.000.000 đồng
Trang 12Xưởng sản xuất ban đầu của Công ty Đức Việt được xây dựng trên mộtkhu đất chật hẹp khoảng 200m2 được thuê lại của một doanh nghiệp nhà nướctại quận Thanh Xuân, Hà Nội và 1 cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại số 22 TriệuViệt Vương, Hà Nội Sau 8 tháng nâng cấp nhà xưởng, làm vệ sinh môi trường
và đào tạo nghề, cuối năm 2000, xưởng sản xuất này bắt đầu hoạt động và cho ra
lò những chiếc xúc xích mang hương vị Đức đầu tiên tại Việt Nam
Ban đầu cơ sở sản xuất của Đức Việt chỉ có 7 công nhân và sản xuất đượctừ 2-3 tấn xúc xích/tháng Làm ra được sản phẩm đã khó, nhưng để người ViệtNam chấp nhận lại càng khó hơn Ông Tân cho biết, trong suốt năm đầu tiên,ông không thể đưa hàng vào hệ thống siêu thị cũng như các cửa hàng thực phẩmbán lẻ ở Hà Nội Chẳng ai nhận vì thương hiệu xúc xích Đức Việt còn quá xa lạtrong khi việc bảo quản lạnh cho sản phẩm lại rất cầu kỳ Không nản lòng, ôngchấp nhận lỗ để phát triển trong tương lai
Hơn một năm sau đó, bằng nhiều phương thức khác nhau, ông Tân đã đạtđiểm hoà vốn Trên cơ sở đánh giá tiềm năng thị trường, năm 2002 ông lập dự
án đầu tư xây dựng nhà máy ở Hưng Yên với tổng số vốn đầu tư là 3 triệu USD
và ông bạn người Đức lúc này đã tin tưởng vào khả năng thành công nên đãđồng ý liên doanh và thành lập Công ty liên doanh Đức Việt
1.1.2 Sự phát triển của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
Kể từ năm 2000, sau khi sản xuất được những sản phẩm đầu tiên tại mộtxưởng nhỏ ở quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội thì công ty Đức Việt liên tụcthua lỗ do không thể đưa sản phẩm của mình vào hệ thống bán lẻ Sau đó, banquản trị công ty đã có nhiêu hoạt động tích cực để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.Trong đó phải kể đến việc sản phẩm của Đức Việt thành công trong việc trởthành sản phẩm chính trong các tiệc chiêu đãi của đại sứ quán Đức Tại đó, cácdoanh nhân Việt Nam dần dần biết đến Đức Việt nên đã đưa các sản phẩm củacông ty vào danh mục các mặt hàng kinh doanh của mình
Đến năm 2002, tình hình sản xuất kinh doanh đã được cải thiện và công tyĐức Việt đã có thể xây dựng nhà máy ở Hưng Yên và chuyển đổi thành công tyliên doanh Năm 2002, công ty đã liên doanh với đối tác của CHLB Đức đểthành lập công ty liên doanh Đức Việt TNHH theo giấy phép đầu tư số019/GP/HY do UBND tỉnh Hưng Yên cấp ngày 10/12/2002 Trong đó, công tyTNHH Đức Việt đóng góp 51% vốn còn lại 49% của đối tác CHLB Đức.Sau khixây dựng nhà máy, quy mô hoạt động của công ty liên doanh Đức Việt tăng rấtnhanh cả về chiều sâu và chiều rộng
Công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đã nắm bắt được xu thế công nghiệphóa, hiện đại hóa và nhận ra xu thế của cuộc sống công nghiệp gắn liền với đồ
ăn nhanh và tiềm năng to lớn của mặt hàng xúc xích, thịt xông khói Do đó, năm
Trang 132004, công ty đã mở rộng sản xuất kinh doanh lên 4 nhà máy và phân xưởngchuyên biệt để phục vụ sản xuất trên quy mô lớn Đó là:
- Nhà máy giết mổ lợn theo công nghệ CHLB Đức, công suất 250 conlợn/ngày
- Nhà máy pha lọc và chế biến thịt, công suất 20 tấn / ngày
- Nhà máy chế biến thực phẩm sạch, công suất 5 tấn/ ngày
- Xưởng chế biến gia vị mù tạt, công suất 10 tấn/ tháng
Bên cạnh đó, sản phẩm của công ty cung cấp cũng được đa dạng hóa, cóthể phân chia thành bốn nhóm chính
1 Các loại xúc xích Đức (xúc xích nướng, xúc xích hong khói, xúc xíchviên hong khói, xúc xích vườn bia ) và các thực phẩm chế biến khác từ thịtmang hương vị Châu Âu như salami bò đặc biệt, jambong giò, jambong thăngiò, jambong mát xa, pate gan,
2 Các loại giò truyền thống Việt Nam và các loại thịt nấu đông, thịt xôngkhói như: thịt thăn xông khói, thịt chân giò xông khói, thịt xay, thịt dọi qué xôngkhói
3 Các loại thịt tươi an toàn: thịt mảnh, thịt block, thịt cắt pha các loại, thịtthăn, thịt dọi…
4 Các loại gia vị như mù tạt cay, mù tạt mật ong
Năm 2008, công ty đã chính thức chuyển đổi thành công ty cổ phần thựcphẩm Đức Việt và cho đến nay:
- Tên công ty: Công ty Cổ phần thực phẩm Đức Việt.
- Giấy chứng nhận đầu tư số: 051 033 000 002 do UBND tỉnh Hưng Yên cấp
chứng nhận lần đầu ngày 30 tháng 6 năm 2008
- Tên giao dịch tiếng Anh : Duc Viet Food Joint Stock Company.
- Loại hình doanh nghiệp : Công ty cổ phần.
- Trang web chính thức: http://ducvietfoods.vn
- Sản phẩm:
+ Xúc xích: xúc xích Béc -lin, xúc xích hun khói,
+ Sản phẩm truyền thống: chân giò muối, giò tai, giò thủ,
+ Sản phẩm cắt lát: đùi hong khói, sườn hun khói, giăm-bông hấp, + Gia vị: mù tạt cay, mù tạt mật ong,
+ Thịt tươi an toàn
Trang 14- Trụ sở chính : Xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Nhà máy: Xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
- Điện thoại: 0321 970 229/230
- Fax: 0321 970 231/233
- Văn phòng đại diện tại Hà nội: Tòa nhà Seaprodex - 20 phố Láng Hạ - phường
Láng Hạ - quận Đống Đa - TP Hà Nội
để thích nghi với những điều kiện và đặc điểm khác nhau Hiện tại, cơ cấu tổchức bộ máy của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt được thể hiện qua môhình sau:
1.1.3.1 Chức năng và nhiệm vụ của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
Công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt là công ty hoạt động với các chứcnăng như sản xuất thực phẩm hàng tiêu dùng với dây chuyền công nghệ nhập từCộng hoà liên bang Đức với tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Đức vàkinh các hoạt động dịch vụ đồ ăn nhanh Công ty còn làm chức năng lưu thônghàng hoá, là đơn vị kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, hoạt động theo cơ chế thịtrường Là doanh nghiệp thức hiện theo chế độ hạch toán kinh tế độc lập, có tưcách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộhoạt động kinh doanh của công ty trong phạm vi vốn góp của các thành viên, cócon dấu riêng
Trang 15Hội đồng quản trị Tiến Sĩ Mai Huy Tân
Tổng giám đốc Thạc sĩ Hứa Xuân Sinh
Phó Tổng giám đốc
Bà Tạ Phương Mai
Tài chính kế toán KTT Bà Vũ Thị Thuận
Hành chính
- Nhân sự
Bà Nguyễn T.T Hải
KT thanh toán
KT tổng hợp
KT ngân hàng
KT mảng thịt sạch
Nhân sự
Hành chính
Thư kí Lái xe
Khối kinh doanh TGĐ Hứa Xuân Sinh
Nhà
máy
Marketing quốc tế Ông Andreas Campioni
Tổ máy phát điện
GĐ ĐH Đào Việt Hưng
Phòng kinh doanh thịt
BP BH Hà Nội
BP BH Nam
Hà Nội
BP BH miền Trung
BP BH Đông Tây
BP BH miền Nam
BP QT thương hiện
BP hỗ trợ KD
Tổ điện lạnh CTN
Tổ sửa chữa CĐ
Đội XN Vật tư Đội xe
Tổ đóng gói
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
Trang 16Công ty có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh của mìnhtheo đúng ngành nghề mặt hàng dã đăng ký kinh doanh, theo khuôn khổ phápluật, đó là:
+ Chế biến nông sản thực phẩm sạch an toàn chất lượng và các dịch vụ khác.+ Thực hiện các dịch vụ giao nhận vận chuyển, ký gửi hàng hoá, tư vấn và đại
lý khách hàng
+ Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế khác, tiến hành các hoạt độngkinh doanh ngành nghề theo đúng quy định về quản lý vốn, tài sản, các quỹ, kếtoán,chế độ kiểm toán và các chế độ khác mà nhà nước quy định, chịu tráchnhiệm về tính xác thực về các hoạt động tài chính của công ty
+ Chịu trách nhiệm nộp thúe và các nghĩa vụ tài chính (nếu có)trực tiếp cho nhànước tại địa phương theo quy định của pháp luật
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có nhừng nhiệm vụ cụthể như sau:
+ Ký kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết với các đối tác.+ Thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định của bộ luật laođộng, luật công đoàn bảo đảm cho người lao động tham gia hoạt động quản lýcông ty
+ Thực hiện các quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường, tài nguyên, vệsinh an toàn thức phẩm
+ Thực hiện chế độ báo cáo thống kê, kế toán, báo cáo định kỳ theo quy địnhcủa nhà nước, chịu trách nhiệm về tính xác thực của nó
+ Chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng, tuân thủ các quy định
về thanh tra của cơ quan tài chính và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theoquy định của pháp luật
+ Tổ chức bộ máy đào tạo cán bộ công nhân viên của công ty, đáp ứng đầy đủnhu cầu học tập, thăng tiến cuả công nhân viên
1.1.3.2 Chức năng và nhiệm vụ của bộ máy quản lý và các bộ phận
1.1.3.2.1 Hội đồng quản trị
Là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liênquan đến mục đích, quyền lợi của công ty (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyềncủa đại hội đồng cổ đông) Các nhiệm vụ cụ thể là: quyết định chiến lược pháttriển công ty, cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ, thành lập chi nhánh, văn
Trang 17phòng đại diện Ông Mai Huy Tân, người sáng lập công ty đảm nhiệm vị trí chủtịch Hội đồng quản trị.
1.1.3.2.2 Tổng giám đốc
Tổng giám đốc là người quyết định đường lối kinh doanh, chỉ đạo cáchoạt động của doanh nghiệp để thực hiện đường lối này Tổng giám đốc chịutrách nhiệm về các hoạt động của doanh nghiệp, có quyền quyết định quy môsản xuất, cách thức hoạt động của nhà máy, quyết định cách hoạt động của mạnglưới phân phối cũng như các chính sách quảng bá, truyền thông và chịu tráchnhiệm trước hội đồng quản trị về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
1.1.3.2.3 Phó tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm chính và điểu hành chính vềhoạt động của hai phòng ban: tài chính kế toán và hành chính nhân sự Bên cạnhđó, hỗ trợ tổng giám đốc quản lý các công việc đối nội và đối ngoại, lên kếhoạch viếng thăm, tiếp khách, quản lý nhân sự
1.1.3.2.4 Phòng tài chính – kế toán.
Phụ trách phòng tài chính kế toán là kế toán trưởng (giữ vị trí tươngđương trưởng phòng) Phòng kế toán có nhiệm vụ hạch toán toàn bộ quá trìnhkinh doanh của công ty bằng cách thu thập hóa đơn chứng từ, thu nhận chứngtừ, ghi chép các nghiệp vụ phát sinh, tính toán, tổng hợp phân tích để đưa ra cácthông tin dưới dạng các báo cáo kinh tế Phòng tài chính kế toán phải thực hiệnnhiều loại báo cáo tài chính, tùy vào mục đích sử dụng của ban quản trị hoặc cơquan quản lí nhà nước Cơ cấu tổ chức trong phòng kế toán bao gồm: kế toántrưởng, kế toán thanh toán, kế toán tổng hợp, kế toán thuế
1.1.3.2.5 Phòng hành chính nhân sự
Phòng hành chính chịu trách nhiệm và tham mưu cho ban quản trị về cáccông tác xây dựng và quản lý các mảng liên quan đến người lao động như:
- Mô hình tổ chức kế hoạch,
- Tiền lương, thưởng,
- Tổ chức, quy hoạch cán bộ, bố trí sắp xếp cơ cấu nhân viên,
- Soạn thảo các quy chế, quy định trong công ty,
- Tổng hợp hoạt động, lập công tác cho giám đốc quản trị hành chính, văn thưlưu trữ, đối ngoại pháp lý,
- Đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động kinh doanh của công ty
1.1.3.2.6 Phòng kinh doanh
Trang 18Trưởng phòng kinh doanh phải chịu trách nhiệm chính về hoạt động kinhdoanh, tiêu thụ sản phẩm của công ty và chịu trách nhiệm về các hoạt động củaphòng trước ban giám đốc.
- Xây dựng các chiến lược phát triển thị trường, kế hoạch về kinh doanh,
- Tìm kiếm nguồn tiêu thụ sản phẩm, tổ chức nhận hàng,
- Giao dịch với khách hàng,
- Bán buôn, bán lẻ, mở rộng thị trường tiêu thụ,
- Quản lý hệ thống kênh phân phối, các cửa hàng đại lý
Đây là bộ phận quan trọng bậc nhất của công ty Hoạt động của bộ phận kinhdoanh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của công ty Do đó,
bộ phận kinh doanh nắm vai trò là nơi tạo ra nguồn thu cho công ty
1.1.3.2.7 Phòng marketing quốc tế
Là bộ phận có nhiệm vụ quan hệ với các đối tác nước ngoài nhằm xâydựng và phát triển hình ảnh của công ty trên trường quốc tế Đồng thời, tìmkiếm đối tác cung cấp nguyên vật liệu, phụ liệu từ các nước châu Âu làmnguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất, mua sắm các máy móc, thiết bị côngnghệ tiên tiến
1.1.3.2.8 Khối nhà máy, phân xưởng
Đây chính là bộ phận sản xuất sản phẩm chính của công ty, được cơ cấugiống như một tổ chức độc lập dưới sự kiểm soát của tổng giám đốc và hoạtđộng trong mối quan hệ tương tác với các phòng ban khác trong công ty Baogồm 6 bộ phận trực thuộc: phòng hành chính, phòng quản lý chất lượng, phòngcông nghệ, bộ phận kế hoạch sản xuất, bộ phận kỹ thuật, bộ phận chế biến Các
bộ phận này được quản lý trực tiếp bởi các phó giám đốc nhà máy
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUÂT KINH DOANH
1.2.1 Các quan niệm về hệ thống phân phối và hoàn thiện hệ thống phân phối
1.2.1.1 Các quan niệm về hệ thống phân phối
- Phân phối (hàng hóa): là quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất tớingười tiêu dùng Nói một cách tổng quát hơn, phân phối hàng hóa là quá trìnhlưu chuyển, điều tiết hàng hóa từ nguồn cung cấp đến nơi có nhu cầu về hànghóa đó
Như vậy, phân phối ở đây được hiểu là đưa hàng hóa từ nơi có hàng hóatới nơi cần hàng hóa và sẵn sàng tiếp nhận hàng hóa Do đó, nguồn cung cấp ởđây có thể là nhà máy, có thể là các kho phân phối cũng như các đại lý ủy
Trang 19quyền, các siêu thị cửa hàng bán buôn bán lẻ Và nơi có nhu cầu ở đây cũng cóthể là các kho phân phối đến các nhà thương mại trung gian và người tiêu dùng.Như vậy, hoạt động phân phối tốt là vừa phải cung cấp hàng hóa một cách cânđối, đầy đủ và hợp lý đến các đối tượng cần sản phầm và vừa phải làm tốt côngtác quản lý, bảo quản sản phẩm tại các nơi dự trữ hàng hóa.
- Kênh phân phối: Kênh phân phối trong doanh nghiệp được hiểu là tậphợp các phần tử tham gia vào quá trình dịch chuyển hàng hóa từ người sản xuấtđến người tiêu dùng Các phần tử trong kênh phân phối là các doanh nghiệphoặc các cá nhân vừa độc lập, vừa phụ thuộc với nhau Tùy vào qui mô thịtrường, định hướng kinh doanh và tiềm lực hiện có mà doanh nghiệp có thể cómột hay nhiều dạng kênh
- Hệ thống phân phối (mạng lưới phân phối): Tập hợp các kênh dưới sự
quản lý có chiến lược tạo nên hệ thống kênh phân phối của doanh nghiệp, haychính là hệ thống phân phối
1.2.1.2 Vai trò và chức năng của hệ thống phân phối
- Vai trò của hệ thống phân phối:
Hệ thống phân phối là công cụ chính của doanh nghiệp trong lĩnh vực phânphối, trao đổi hàng hoá làm thoả mãn những nhu cầu cụ thể của nhóm kháchhàng mục tiêu, khắc phục những ngăn cách về thời gian, không gian và quyền sởhữu hàng hoá và dịch vụ với những người muốn sử dụng chúng
Hệ thống phân phối thực hiện quá trình chuyên môn hoá và phân công laođộng để nâng cao hiệu quả quá trình sử dụng các yếu tố trong sản xuất kinhdoanh, đáp ứng được sự phát triển của thị trường cũng như sự phong phú đadạng của nhu cầu
- Chức năng của hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối là con đường màhàng hoá được lưu thông từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng Nhờ cómạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khác biệt về thời gian, địađiểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với những người sử dụng các hànghoá và dịch vụ Tất cả các thành viên của kênh phải thực hiện những chức năngchủ yếu sau:
Nghiên cứu thị trường: Nhằm thu thập thông tin cần thiết để lập chiến lượcphân phối
Xúc tiến khuyếch trương (cho những sản phẩm họ bán): Soạn thảo vàtruyền bá những thông tin về hàng hoá
Thương lượng: Để thoả thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trongkênh Thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác
Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản và dự trữ hàng hoá
Trang 20Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với nhữngngười mua tiềm năng.
Hoàn thiện hàng hoá: Làm cho hàng hoá đáp ứng được những yêu cầu củangười mua, nghĩa là thực hiện một phần công việc của người sản xuất
Tài trợ: Cơ chế tài chính giúp cho các thành viên kênh trong thanh toán.San sẻ rủi ro liên quan đến quá trình phân phối như sản phẩm hết hạn sửdụng, sản phẩm bảo quản tại không đúng cách (do các cửa hàng bán xúc xíchlưu động không đủ thiết bị bảo quản)
Vấn đề đặt ra là phải phân chia hợp lý các chức năng này giữa các thànhviên của kênh Nguyên tắc để phân chia các chức năng này là chuyên môn hoá
và phân công lao động
1.2.1.3 Các loại kênh phân phối
+ Kênh trực tiếp: Đây là loại kênh phân phối mà qua đó người sản xuất bán
hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không thông qua bất kỳ một trung gian nào.Khi sử dụng loại kênh này lợi nhuận của doanh nghiệp không bị chia sẻ cho cáctrung gian khác, mặt khác doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với kháchhàng do vậy có thể nắm bắt chính xác nhu cầu của người tiêu dùng cũng như sựthay đổi nhu cầu Tuy nhiên loại kênh này chỉ thích hợp với những đoạn thịtrường nhỏ khách hàng tập trung về mặt địa lý Còn khi thị trường của doanhnghiệp trải dài trên một địa bàn rộng lớn thì việc sử dụng loại kênh này gặpnhiều khó khăn do công ty phải duy trì một lượng lớn nhân viên bán hàng
Kênh trực tiếp
+ Kênh gián tiếp: Đây là loại kênh mà giữa người sản xuất và người tiêu
dùng xuất hiện nhiều trung gian khác nhau làm nhiệm vụ đưa hàng hoá từ người sản xuất đến tay người tiêu dùng Trong loại kênh này hàng hoá của doanh nghiệp có thể được tiêu thụ với tốc độ nhanh hơn, khối lượng lớn hơn, và sản phẩm được tiêu thụ trên một địa bàn rộng lớn hơn Việc sử dụng loại kênh này có thể làm giảm một phần lợi nhuận của doanh nghiệp do phải chia sẻ với các trung gian khác Đối với các trung gian doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trongviệc kiểm soát hành vi của họ trong việc tiêu thụ sản phẩm do họ là những tổ chức độc lập với doanh nghiệp Các thông tin về thị trường và thông tin phản hồicủa khách hàng về sản phẩm có thể không chính xác khi về đến doanh nghiệp dophải qua nhiều cấp trung gian Hoạt động của doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng nếu giữa người tiêu dùng và các trung gian hoặc giữa trung gian và người sản xuất sảy ra trục trặc Khi sử dụng các trung gian trong kênh phân phối, doanh
Trang 21nghiệp có thể giảm mức độ mạo hiểm khi thâm nhập một thị trường mới do các trung gian là những người am hiểu về khu vực thị trường mà họ phụ trách và họ
đã xây dựng được một mạng lưới phân phối
Kênh gián tiếp
Trong kênh gián tiếp người ta có thể chia ra làm các loại kênh có mức độdài ngắn khác nhau dựa vào số lượng các trung gian có trong kênh, trong đó cókênh một cấp, kênh hai cấp, kênh ba cấp và có thể dài hơn
+ Kênh hỗn hợp: Thực chất đây là loại kênh được tạo nên khi doanh
nghiệp sử dụng nhiều loại kênh cùng một lúc để phân phối một hoặc nhiều sảnphẩm trên một khu vực thị trường hoặc nhiều khu vực thị trường khác nhau.Hiện nay, với xu hướng kinh doanh đa ngành, đa nghề, với nhiều loại sản phẩm
và trên nhiều phân đoạn thị trường khác nhau thì việc sử dụng kênh hỗn hợptrong phân phối sản phẩm là rất phổ biến
- Sự khác nhau giữa kênh tiêu thụ hàng công nghiệp và kênh tiêu thụ hàng hoá tiêu dùng cá nhân
Trong vấn đề tổ chức kênh phân phối khi căn cứ vào sản phẩm và đối tượngtiêu dùng có thể phân thành kênh phân phối dùng cho tiêu dùng cá nhân và kênhphân phối dùng cho tiêu dùg công nghiệp
Kênh tiêu dùng cá nhân là loại kênh mà sản phẩm chủ yếu phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng cá nhân Kênh này có đặc điểm là số lượng người mua lớn tuynhiên khối lượng trong mỗi lần mua nhỏ và thị trường trải dài trên một khu vựcđịa lý rộng lớn Do vậy người sản xuất khó có điều kiện tổ chức mạng lưới bánhàng trực tiếp của mình do giới hạn về nguồn lực tài chính và con người Do vậy
họ phải sử dụng nhiều trung gian trong việc tiêu thụ sản phẩm Vì vậy đối vớiloại hàng hoá này kênh phân phối chủ yếu là những kênh dài và sử dụng nhiềutrung gian trong quá trình phân phối sản phẩm Điều này làm cho sản phẩm củangười sản xuất có thể tiếp cận nhiều loại khách hàng và tạo ra sự cạnh tranh giữacác trung gian trong việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm Việc cạnh tranh này vừa làsức ép về giá đối với các trung gian thương mại, giúp doanh nghiệp nâng cao
trung gian Người tiêu dùng
Trang 22được doanh thu, tuy nhiên nó cũng có thể khiến các trung gian thương mại chánnản và từ bỏ sản phẩm của doanh nghiệp
Đối với kênh tiêu dùng công nghiệp: Sản phẩm lưu thông trong kênh này
chủ yếu dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất khác hoặc phục vụ cho nhữnghoạt động tiêu dùng mang tính công nghiệp Khách hàng trong kênh này thườngmua với khối lượng lớn trong mỗi lần mua và họ thường đã được xác định vềmặt địa lý Do vậy kênh phân phối cho loại sản phẩm này thường là kênh ngắn.Mặt khác đây là những sản phẩm có giá trị đơn vị cao do vậy nếu sử dụng kênhdài sẽ làm tăng chi phí và có thể gặp phải rủi ro trong vận chuyển và bảo quản.Với thị trường tiêu dùng công nghiệp, do số lượng khách hàng ít nhg khối lượnghàng hóa giao dịch lại rất lớn, vì vậy cần phải chăm sóc thật tốt đến từng kháchhàng để không làm mất khách hàng
1.2.1.4 Quan điểm về hoàn thiện hệ thống phân phối
Hoàn thiện là một quá trình bao gồm những hoạt động tác động vào các yếu
tố, thành phần của một thứ gì đó như một thiết bị, một quá trình nhằm làm chonó trở nên tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn Việc nó có trở nên tốt hơn hay khôngsau quá trình hoàn thiện cần phải dựa vào những nghiên cứu, phân tích, đánh giá
về nó Quá trình hoàn thiện diễn ra liên tục, song song với quá trình kiểm tra,kiểm soát
Như vậy, hoàn thiện hệ thống phân phối sản phẩm nghĩa là việc tiến hànhthực hiện các hoạt động cần thiết để tác động vào các yếu tố của hệ thống phânphối nhằm giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phân phối Quá trìnhhoàn thiện hệ thống phân phối bao gồm rất nhiều hoạt động, từ kiểm tra, đánhgiá hệ thống phân phối hiện tại, nghiên cứu, phân tích môi trường cũng như cácnhân tố khác rồi lên kế hoạch, triển khai thực hiện và tiếp tục kiểm tra kiểm soátkết quả thực hiện
Người thực hiện quá trình hoàn thiện hệ thống phân phối phải tác động vàotất cả những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống phân phốinếu có thể Những người thực hiện quá trình hoàn thiện hệ thống phân phối phảilàm tất cả mọi thứ trong quyền hạn và khả năng của mình để giúp hệ thống phânphối vận hành hiệu quả hơn
1.2.2 Các yếu tố thuộc hệ thống phân phối
1.2.2.1 Các thành viên của hệ thống phân phối
+ Người sản xuất
Người sản xuất là điểm xuất phát đầu tiên của một hệ thống phân phối,thường được coi là người bán thứ nhất, họ bán cái mà họ sản xuất ra Đây cũng
chính là người giữ vai trò điều khiển kênh, trong nhiều trường hợp họ là người
đưa ra các quyết định về tổ chức kênh
Trang 23Người sản xuất thường phải giải quyết các vấn đề:
- Kết hợp hai giai đoạn sản xuất và phân phối trong chiến lược kinh doanhnhư thế nào để đạt hiệu quả cao nhất
- Khi hệ thống phân phối phát triển đòi hỏi người sản xuất sẽ phải áp dụngcác biện pháp để tối ưu hoá các hoạt động Khi doanh nghiệp muốn xâm nhậpmột thị trường mới thì họ sẽ phải đưa ra các quyết định về tổ chức kênh sao chocó hiệu quả
+ Người bán buôn
Đây là những người thực hiện hoạt động thương mại thuần tuý, mua để bán
Đặc trưng cơ bản của loại trung gian này là mua bán với một khối lượng lớn một
loại hàng hoá nào đó Những người bán buôn có thể là cầu nối giữa người sảnxuất với người tiêu dùng cuối cùng trong lĩnh vực tiêu dùng công nghiệp, có thể
là cầu nối giữa người sản xuất và các trung gian khác trong kênh tiêu dùng cánhân
Những người bán buôn thường có thế lực kinh tế lớn, trong nhiều trườnghợp họ có khả năng khống chế thị trường chi phối cả người sản xuất và ngườibán lẻ Hiện nay, nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ người bán buôn cóthể mở rộng phạm vi kinh doanh của mình mà không nhất thiết phải phát triểnmột mạng lưới các đại lý hoặc các chi nhánh đại diện ở những khu vực cụ thể.+ Người bán lẻ
Là tập hợp cá nhân hay tổ chức mua hàng hoá từ người bán buôn hay ngườisản xuất để bán lại cho người tiêu dùng sau cùng
Người bán lẻ thường có quy mô kinh tế nhỏ hơn so với người bán buôn, sứcmạnh thị trường của loại trung gian này yếu họ không có khả năng chi phốingười sản xuất cũng như người bán buôn
Người bán lẻ thường bị lệ thuộc chặt chẽ vào những người bán buôn nhưnglại có xu hướng thiết lập mối quan hệ trực tiếp với người sản xuất để hình thànhnên những kênh ngắn ở những thị trường tập trung Mặt khác đây là nhữngngười tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng sau cùng cho nên họ có lợi thế lớntrong việc tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng, nhất là nhữngnhu cầu đơn lẻ, phân tán, có khả năng thích ứng nhanh với sự biến động của thịtrường
+ Người đại lý
Đây là một loại hình kinh doanh làm chức năng trung gian trong quá trìnhvận động của hàng hoá Đại lý không có quyền sở hữu hàng hoá mà chỉ thựchiện việc phân phối, tiêu thụ hàng hoá cho doanh nghiệp và nhận được lợi íchthông qua tỷ lệ hoa hồng do hai bên thoả thuận.Trong công tác tổ chức tiêu thụ
Trang 24sản phẩm doanh nghiệp cần phải quan tâm đến các đại lý làm nhiệm vụ tiêu thụhàng cho doanh nghiệp chứ không phải là đại lý cho các nhà bán buôn Vì vậy
để đảm bảo hiệu quả trong quá trình phân phối đòi hỏi phải lựa chọn đúng đắncác đại lý
+ Chi nhánh đại diện
Thực hiện việc tập hợp các đơn hàng và tổ chức thực hiện các đơn hàngnày Đồng thời thiết lập mối quan hệ tiếp xúc thăm dò thị trường, thực hiện côngviệc bán hàng như những người bán buôn chuyên nghiệp Chi nhánh đại diệncũng cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng đồng thời là cầu nối giữa ngườisản xuất và khách hàng trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh
+ Người phân phối công nghiệp
Đây là những trung gian chỉ xuất hiện trung kênh tiêu dùng công nghiệp,những trung gian này ở một số khía cạnh nào đó họ gần giống như người bánbuôn trong kênh tiêu dùng cá nhân Họ là những người mua sản phẩm của công
ty với khối lượng lớn để cung cấp cho các khách hàng công nghiệp
+ Người tiêu dùng
Đây là người sử dụng sản phẩm mua được vào việc thoả mãn nhu cầu của
họ Người tiêu dùng là mục tiêu và cũng là đích mà người sản xuất phải hướngtới Việc nắm bắt chính xác nhu cầu của người tiêu dùng cũng như dự báo chínhxác nhu cầu trong tương lai là điều kiện quan trọng quyết định sự tồn tại củadoanh nghiệp
1.2.2.2 Quyền sở hữu sản phẩm trong hệ thống phân phối:
Thể hiện việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm từ thành viên này sang thànhviên khác trong kênh phân phối Sự chuyển quyền sở hữu trong kênh phân phốichỉ gắn với các thành viên chính thức trong kênh mà không gắn với các thànhviên bổ trợ như các công ty vận tải, hay các trung gian khác như đại lý, chinhánh đại diện và môi giới
Trong hệ thống phân phối của một công ty sản xuất, tùy vào hình thức củatừng kênh trong hệ thống phân phối mà quyền sở hữu hàng hóa thường khácnhau Dòng chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong một hệ thống phân phối thôngthường qua những chủ thể sau:
Người sản xuất → Bán buôn → Bán lẻ → Người tiêu dùng cuối cùng.Trong hệ thống phân phối của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt, do đặcđiểm về sản phẩm thực phẩm có thời hạn sử dụng ngắn nên quyền sở hữu sảnphẩm cần phải được chuyển giao cùng với quá trình giao nhận hàng hóa, tức làmua đứt bán đoạn Cả công ty và các đại lý luôn muốn hạn chế tối đa rủi ro khivẫn phải chịu trách nhiệm về hàng hóa trong khi không được tự mình bảo quản
và kiểm soát
Trang 251.2.2.3 Dòng vận chuyển sản phẩm
Diễn tả việc vận chuyển hàng hoá vật phẩm thực sự trong không gian vàthời gian từ địa điểm sản xuất tới địa điểm tiêu dùng qua hệ thống kho tàng vàphương tiện vận tải
Dòng sản phẩm cho biết sự phát sinh chi phí và thời gian cần thiết để thựchiện các công việc phân phối vật chất trong một kênh phân phối nhất định Dòngsản phẩm không liên quan trực tiếp tới dòng chuyển quyền sở hữu nhưng nó lạicó vai trò quan trọng đối với việc tiết kiệm chi phí, giảm bớt thời gian khi phânphối sản phẩm
Dòng sản phẩm được mô tả như sau:
Người sản xuất → (Vận tải) → Bán buôn → (Vận tải) → Bán lẻ → NTD
1.2.2.4 Dòng tiền thanh toán
Là dòng vận động ngược chiều của tiền tệ và chứng từ thanh toán từ ngườimua cuối cùng qua các trung gian trở lại người sản xuất
Dòng thanh toán được mô tả như sau:
Người sản xuất <= Bán buôn <= Bán lẻ <= Người tiêu dùng sau cùng
1.2.2.5 Thông tin trong hệ thống phân phối
Thông tin trong hệ thống phân phối là tất cả những thông tin phát sinhtrong quá trình phân phối hàng hóa, trong đó đối tượng phát và nhận thông tin lànhững phần tử trong hệ thống phân phối Các thông tin trong hệ thống phân phốicó thể là các quyết định về chính sách phân phối của công ty, các thông báo vềhàng hóa, thời gian, địa điểm phân phối của công ty, hoặc có thể là những kiếnnghị, góp ý của khách hàng và nhà phân phối, … Thông tin tác động đến hành vicủa các phần tử trong kênh phân phối, qua đó tác động đến hiệu quả của kênhphân phối Khi các thành viên trao đổi thông tin với nhau, đó có thể là trao đổi
kế cận hoặc không kế cận
Người sản xuất Bán buôn Bán lẻ Người tiêu dùng sau cùng
Qua sơ đồ trên, ta có thể thấy các phần tử của kênh phân phối có thể traođổi thông tin cho bất kì phần tử khác trong kênh mà họ muốn nhằm đạt đượcmục đích của mình
1.2.2.6 Dự trữ trong hệ thống phân phối
Dự trữ hàng hóa là trạng thái hàng hóa sản phẩm chưa được sử dụng (tiêudùng theo công dụng, mục đích của nó Dự trữ hàng hóa gồm có dự trỡ thànhphầm tiêu thụ tại các doanh nghiệp sản xuất, dự trữ tại các doanh nghiệp thươngmại, dữ trữ trên các phương tiện vận tải (trên đường) và dự trữ tiêu dùng Ở đây,
Trang 26chúng ta không đề cập nhiều đến dự trữ tiêu dùng vì lúc đó, quyền sở hữu sảnphẩm đã thuộc về người tiêu dùng, tức là hệ thống phân phối đã hoàn thànhnhiệm vụ đưa sản phẩm đến khách hàng.
Dự trữ tiêu thụ là dự trữ những thành phẩm đã hoàn thành việc chế tạo, đãnhập kho của đơn vị sản xuất và đang chờ xuất bán Các sản phẩm sau khi đượcsản xuất không được đi ngay vào tiêu dùng mà phải qua dự trữ tiêu thụ là do sựcần thiết của việc phân loại, đóng gói, chọn lọc, đánh giá để hình thành các lôhàng phù hợp Dự trữ tiêu thụ phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp sảnxuất, phương thức tiêu thụ, điều kiện của việc vận chuyển hàng hóa sản phẩm
Dự trữ ở các doanh nghiệp thương mại được hình thành từ khi doanhnghiệp thương mại mua hàng hóa về (nhập hàng) và kết thúc khi doanh nghiệpthương mại bán hàng hóa cho khách hàng (xuất hàng) Dự trữ hàng hóa tại cácdoanh nghiệp thương mại là tất yếu do yêu cầu của việc bán hàng liên tục, đápứng nhu cầu lưu thông không ngừng, giúp tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng uytín trên thị trường và tìm kiếm lợi nhuận
Dự trữ hàng hóa trên đường được hình thành từ khi bốc xếp hàng hóa lênphương tiện vận tải cho đến khi hàng hóa được giao cho khách hàng tại địa điểmđến tại kho, trạm, đại lý, cửa hàng Dự trữ hàng hóa trên phương tiện vận tải làtất yếu bởi khoảng cách địa lý giữa các phần tử trong hệ thống phân phối Dự trữhàng hóa trên phương tiện vận tải phụ thuộc vào sự phân bố của nền sản xuất xãhội và sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi phân bố nền sản xuất xã hội hợp
lí và lực lượng sản xuất phát triển thì hàng hóa sẽ được vận chuyển nhanh vàkhối lượng lớn Dự trữ hàng hóa trên đường còn phụ thuộc vào sự phát triển của
cơ sở hạ tầng và cơ chế quản lí của ngành giao thông vận tải
1.2.2.7 Phân chia lợi ích trong hệ thống phân phối
Lợi ích là vấn đề mà các thành viên quan tâm đầu tiên khi tham gia một hệthống phân phối Các thành viên sẽ cân nhắc qua việc phân tích, tham khảo,đánh giá lợi ích của mình sẽ nhận được trước khi tham gia một hệ thống phânphối Và trong quá trình tham gia hệ thống phân phối, các thành viên liên tụcđánh giá xem lợi ích mình nhận được có đúng như những gì mình kì vọng haykhông, có đúng như thỏa thuận với các bên liên quan hay không, từ đó sẽ ảnhhưởng tới quyết định tiếp tục tham gia hay rút lui hệ thống phân phối
+ Người sản xuất: là người có toàn quyền quyết định các chính sách về lợiích của các thành viên khác trong hệ thống phân phối của mình Lợi ích củangười sản xuất phụ thuộc vào sự hiệu quả trong hoạt động của hệ thống phânphối
+ Người bán buôn: là những đơn vị phân phối hàng rất lớn của người sảnxuất Lợi ích vật của người bán buôn đến từ việc được mua hàng với giá rất thấp
Trang 27từ chính người sản xuất và bán ra thị trường cho các đại lý hoặc người tiêu dùngvới giá do mình quyết định Với giá mua vào, người bán buôn có thể thươnglượng với nhà sản xuất Có thể mức chênh lệch cho một sản phẩm là không nhiềunhưng với số lượng hàng hóa luân chuyển rất lớn, lợi ích vật chất của người bánbuôn vẫn được đảm bảo.
+ Người bán lẻ: đối với các công ty kinh doanh mặt hàng tiêu dùng nhưcông ty cổ phần thực phẩm Đức Việt thì những người bán lẻ là thành phần quantrọng bậc nhất của hệ thống phân phối, giúp đưa sản phẩm phổ biến ra thịtrường Vì vậy, quyền lợi của những thành viên này của hệ thống cần phải đượcđảm bảo Lợi ích của những người bán lẻ là khoản chênh lệch giữa giá mua vàoở công ty và giá bán ra thị trường Ngoài ra có thể họ còn được hưởng hoa hồngthưởng theo doanh số bán hàng
Đối với tất cả những người bán lẻ các sản phẩm của công ty cổ phần thựcphẩm Đức Việt, họ phải mua sản phẩm với giá do công ty niêm yết dành chongười bán lẻ, họ không được thỏa thuận giá này với công ty như người bánbuôn Giá bán ra thị trường của người bán lẻ do chính họ quyết định
+ Người đại lí: Giữa đại lý và doanh nghiệp phải cùng nhau ký kết hợpđồng đại lý Trong hợp đồng qui định rõ quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bêntrong quá trình tiêu thụ sản phẩm Thu nhập của người đại lí phụ thuộc vào tỷ lệhoa hồng dựa trên doanh số bán ra và hiệu quả hoạt động của đại lí, ngoài ra cóthể có thêm các khoản thưởng khác nếu vượt doanh số mục tiêu hoặc lễ tết.+ Chi nhánh đại diện: là cơ quan được ủy quyền đại diện cho công ty Dođây là một bộ phận của công ty nên lợi ích và sự tồn tại của chi nhánh đại diệnhoàn toàn do công ty quyết định
+ Người tiêu dùng: người tiêu dùng sử dụng sản phẩm và nhận được lợi íchthông qua giá trị sử dụng mà sản phẩm mang lại Người tiêu dùng luôn luôn sosánh lợi ích đạt được khi sử dụng sản phẩm và chi phí để được sử dụng nhữnggiá trị của sản phẩm, từ đó, đưa ra các quyết định tái sử dụng sản phẩm
1.2.3 Các yếu tố ảnh hướng đến hiệu quả hoạt động của kênh phân phối
1.2.3.1 Môi trường ngoài
- Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô (địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, cơ
sở hạ tầng, luật pháp):
Những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới người tiêu dùng cuối cùng vàcác trung gian thương mại trong kênh phân phối, từ đó ảnh hưởng đến quá trìnhphân phối và tiêu thụ sản phẩm Đây là những yếu tố vô cùng quan trọng vàdoanh nghiệp cần phải cân nhắc đầu tiên Tuy nhiên, hiếm có doanh nghiệp nào
Trang 28có thể thay đổi những yếu này và các doanh nghiệp phải thích nghi với chúngnếu muốn kinh doanh trên thị trường.
Cụ thể, những yếu tố này sẽ ảnh hưởng đến địa lý thị trường, quy mô thịtrường, mật độ thị trường, hành vi mua hàng, … Từ đó, doanh nghiệp sẽ phảicân nhắc trong việc định giá, lựa chọn kênh phân phối, hình thức triển khai côngtác phân phối để phù hợp với đặc điểm thị trường
Đối với ngành sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt là sản xuất kinh doanhthực phẩm thì thị trường đầu ra và đầu vào luôn rất nhạy cảm với sự thay đổicủa môi trường Thị trường thực phẩm phản ứng với mọi sự thay đổi dù rất củamọi khía cạnh của môi trường Do đó, các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnhvực này đều rất thận trọng khi đưa ra các quyết định sản xuất và tiêu thụ
- Các yếu tố thuộc môi trường ngành: sự cạnh tranh của đối thủ
Sự cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành nghề cần được doanh nghiệpnghiên cứu trên hai góc độ là cạnh tranh về các phần tử trong kênh phân phối vàcạnh tranh về các nguồn lực để thực hiện công tác phân phối
Cụ thể, cạnh tranh về các phần tử trong kênh phân phối là việc cạnh tranh
về các đại lý, các cửa hàng, siêu thị Để có thể nâng cao lợi thế cạnh tranh ở khíacạnh này, doanh nghiệp cần phải tạo được ưu thế nhờ các điều khoảng hợp tác
và thực hiện hợp đồng với các trung gian thương mại
Về các nguồn lực để thực hiện công tác phân phối, đó là những ưu thế vềtài chính, con người, phương tiện vận tải, địa điểm của các phần tử trong kênh,mối quan hệ với chính quyền, …
Sự cạnh tranh về nguồn lực sản xuất như nguyên liệu, vật liệu, nhân công,bằng sáng chế mặc dù không tác động trực tiếp đến hiệu quả của hệ thống phânphối nhưng những yếu tố này ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, do đó cũng cónhững ảnh hưởng gián tiếp đến sự sẵn sàng của hàng hóa trên thị trường Đặcbiệt là với ngành công nghiệp thực phẩm, khi mà thời gian sử dụng của sảnphẩm khá ngắn thì việc đảm bảo các nguồn lực sản xuất là rất quan trọng đểđảm bảo hệ thống phân phối có thể thực hiện đúng chức năng của mình
1.2.3.2 Môi trường bên trong
- Đặc điểm của doanh nghiệp
Đặc điểm đầu tiên thuộc yếu tố doanh nghiệp chính là người đứng đầudoanh nghiệp Triết lý kinh doanh, triết lí sống, năng lực, tầm nhìn … thậm chí
là cả sở thích của người đứng đầu doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến mô hìnhcủa hệ thống phân phối và sự vận hành của nó
Những yếu tố tiếp theo là quy mô của doanh nghiệp như sản lượng, khảnăng tài chính, khả năng về nguồn lao động, chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị
Trang 29trường … Doanh nghiệp có thể có một hệ thống phân phối mạnh và hiệu quảhay không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố này.
- Đặc điểm của sản phẩm:
Những đặc điểm của sản phẩm là kích thước, hình dáng, trọng lượng, thể(rắn, lỏng, khí), khả năng hao hụt, … Những yếu tố này cần phải được cân nhắctrước tiên trong việc đóng gói, lựa chọn phương tiện vận tải, con người, thựchiện vận chuyển và công tác kiểm tra kiểm soát
- Mục tiêu của kênh phân phối:
Mục tiêu của kênh phân phối sẽ xác định rõ kênh phân phối sẽ vươn tới thịtrường nào, với mục tiêu nào? Những mục tiêu khác nhau đòi hỏi kênh phânphói khác nhau cả về cấu trúc lẫn cách quản lý Mục tiêu có thể là mức dịch vụkhách hàng, yêu cầu mức độ hoạt động của các trung gian, phạm vị bao phủ thịtrường Các mục tiêu được xác định phụ thuộc mục tiêu kinh doanh nói chung
và mục tiêu của các bộ phận nói riêng, từ đó bản quản trị sẽ đề ra mục tiêu cho
hệ thống phân phối và có phương án hợp lý cho cho từng kênh phân phối để đạtđược mục tiêu chung
1.2.4 Phương hướng và nội dung các hoạt động hoàn thiện hệ thống phân phối
- Hoàn thiện mô hình hệ thống phân phối
Nhiệm vụ của kênh phân phối là phải đảm bảo sự có mặt của hàng hoá trênthị trường bất kỳ lúc nào khách hàng muốn Tuy nhiên nhà quản lý cần phải làmsao cho lượng tồn kho của các thành viên kênh là nhỏ nhất mà vẫn đảm bảođược tính sẵn có của hàng hoá Đây là yêu cầu của việc hoàn thiện mô hình kênhphân phối
Sau khi thực hiện các khảo sát, thu thập thông tin, phân tích đánh giá về hệthống phân phối hiện tại
Việc hoàn thiện mô hình hệ thống phân phối cần phải được thực hiện khéoléo, dựa trên những phân tích kĩ lưỡng và chắc chắn, nhằm hạn chế tối đa sự xáotrộn không đáng có, dẫn đến những tác động tiêu cực đến hiệu quả của hệ thống
- Khuyến khích các thành viên trong kênh:
+Trợ giúp về dòng sản phẩm: nhà sản xuất đảm bảo cung cấp cho cácthành viên kênh dòng sản phẩm tốt nhất, có khả năng bán được với doanh sốcao, đạt được lợi nhuận cao
+ Trợ giúp về lợi ích: lợi ích là yếu tố rất quan trọng khi một người hoặc
tổ chức quyết định tham gia vào hệ thống phân phối Những lợi ích của cácthành viên của hệ thống phân phối chịu ảnh hưởng của các chính sách thưởng,phạt, chiết khấu,
Trang 30+ Trợ giúp về quảng cáo và xúc tiến bán hàng: một chiến dịch quảng cáo
là cách lôi cuốn tốt nhất đối với người tiêu dùng vì khi đó họ sẽ biết đến sảnphẩm, biết đến công ty và khi đó cơ hội bán hàng sẽ tăng lên Bên cạnh đó,những chính sách hỗ trợ về xúc tiến bán hàng cho các phần tử trong hệ thốngphân phối cũng rất quan trọng Việc hỗ trợ về vận chuyển, kho hàng, các công
cụ xúc tiến giúp cho các phần tử của kênh phân phối tập trung thực hiện tốt hơnnhiệm vụ của mình
+ Trợ giúp về quản lý: công ty nên đào tạo một lực lượng nhân viên bánhàng để họ có khả năng trong việc phân tích và xúc tiến thị trường
Ngoài các biện pháp trên, nhà sản xuất còn phải giúp đỡ họ khi họ gặpkhó khăn về sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh, về sự thay đổi củamôi trường kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
- Giải quyết mâu thuẫn giữa các thành viên trong kênh:
Các mâu thuẫn nảy sinh trong kênh phân phối có thể là mâu thuẫn nảy sinhtrong quá trình phân phối có thể theo chiều dọc (nảy sinh giữa các cấp trongcùng một kênh), có thể là mâu thuẫn ngang (nảy sinh giữa các trung gian trongcùng một cấp), hoặc giữa các kênh với nhau
Các xung đột xảy ra trong kênh chính là các mâu thuẫn nảy sinh giữa cácthành viên trong kênh Các xung đột đó bao gồm các xung đột liên quan đến lợiích của các thành viên do không thống nhất về tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ hoa hồng,các hình thức bổ trợ; các xung đột liên quan đến phương thức bán hàng, điềukiện mua bán… Nguyên nhân gây ra các xung đột có thể là do sự khác nhau vềmục tiêu theo đuổi của các thành viên khi tham gia vào kênh, có thể là do sựkhông thích hợp về vai trò và quyền hạn của các thành viên trong kênh, do sựkhác biệt về nhận thức của các thành viên trong kênh…
Các biện pháp có thể được áp dụng để giải quyết xung đột là:
- Chấp nhận những mục đích tối thượng hy sinh những mục tiêu khôngquan trọng Khi trong kênh xuất hiện các xung đột các nhà quản trị kênh phảicăn cứ vào mục tiêu khi thết kế kênh để đề ra biện pháp giải quyết
- Trao đổi giữa các cấp trung gian với nhau làm cho họ hiểu và chấp nhậncông việc của mình Hình thức này thường được áp dụng khi giữa các trung gianbất đồng về các chức năng kênh mà mình phải đảm nhận
- Sử dụng pháp luật (trong trường hợp phát sinh tranh chấp mà không thểgiải quyết bằng con đường đàm phán)
Trang 311.3 Vai trò của việc hoàn thiện hệ thống phân phối đối với hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
Đối với bất kì một doanh nghiệp sản xuất nào thì vấn đề phân phối luôn làvấn đề quan trọng được đặt lên hàng đầu, bởi phân phối luôn gắn liền với sảnxuất và tiêu thụ sản phẩm Đối với các doanh nghiệp sản xuất, việc sản xuất sảnphẩm ra mà không thể phân phối ra thị trường mục tiêu của doanh nghiệp,không thể đưa sản phẩm tới tay những khách hàng có nhu cầu thì đó là thất bạimang tính toàn diện của doanh nghiệp
Một hệ thống phân phối của doanh nghiệp sản xuất sẽ là một hệ thốngkhiếm khuyết nếu như không hoàn thành nhiệm vụ của nó trong mục tiêu hoạtđộng chung của cả công ty Nếu hệ thống phân phối hoạt động kém linh hoạt,khập khiễng, khiến cho hàng hóa không đến được những thị trường mục tiêu củadoanh nghiệp, trong khi hàng tồn kho ở nhà máy và các kho lại rất nhiều, ảnhhưởng lớn đến mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp Hoặc nếu hệ thốngphân phối không phối hợp đầy đủ với quá trình sản xuất, mở rộng mạng lướiphân phối quá nhanh, quá khả năng cung cấp của sản xuất, gây ra những tổn thất
về chi phí cố định tại những thị trường có thể là tiềm năng không phải là mụctiêu của doanh nghiệp…
Ta có thể thấy sự khập khiễng của hệ thống phân phối chắc chắn khiến chocác doanh nghiệp gặp phải những vấn đề không hề nhỏ Và một hệ thống phânphối hoạt động không hiệu quả có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có cảkhách quan và chủ quan Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống phân phối tại cácdoanh nghiệp sản xuất là vô cùng cần thiết và liên tục Để có một hệ thống phânphối hoạt động linh hoạt và hiệu quả thì không chỉ ban lãnh đạo công ty mà còn
cả các thành viên của hệ thống phân phối cần phải liên tục nhìn nhận khiếmkhuyết và có ý thức tự hoàn thiện
Việc hoàn thiện hệ thống phân phối là vô cùng cần thiết đối với bất kì mộtdoanh nghiệp sản xuất nào, đặc biệt là đối với một doanh nghiệp sản sản xuấtkinh doanh mặt hàng thực phẩm như công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt Thứ nhất, công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt kinh doanh mặt hàng tiêudùng Do đó, sản phẩm cần được phân phối trên phạm vi địa lý rộng và với khốilượng rất linh hoạt cho từng khu vực khác nhau Hệ thống phân phối của công tycần phải được ngày càng hoàn thiện để phục vụ mục tiêu phát triển của công ty.Đó là cung cấp đầy đủ hàng hóa cho thị trường hiện tại, phối hợp chặt chẽ vớiviệc sản xuất để phân phối hàng hóa hợp lý, đều đặn, mở rộng hệ thống phânphối theo đúng mục tiêu phát triển thị trường của công ty
Thứ hai, công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt kinh doanh sản phẩm là đồ
ăn nhanh như xúc xích, thịt xông khói Những sản phẩm này có thời hạn sử dụngngắn, chỉ được tối đa là 15 ngày kể từ ngày sản xuất trong điều kiện bảo quản
Trang 32lạnh tiêu chuẩn Do đó, hoàn thiện hệ thống phân phối sẽ giúp cho công ty tránhđược những rủi ro về việc hàng tồn kho quá lâu, dẫn đến sản phẩm bị hư hỏng,gây ra những thiệt hại về chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí quản lí và chi phítiêu hủy sản phẩm hư hỏng.
Thứ ba, do sản phẩm của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt xuất hiện ởhầu hết các siêu thị lớn nhỏ, các cửa hàng thực phẩm trên cả nước nên đây lànhững bộ phận vô cùng quan trọng của hệ thống phân phối sản phẩm của công
ty Lực lượng này luôn cân nhắc về chi phí và lợi ích để có những quyết địnhtham gia hay từ bỏ kênh phân phối của công ty Do đó, hoàn thiện hệ thống phânphối cũng là hoàn thiện cách ứng xử với các trung gian thương mại sao cho kíchthích được điểm mạnh và tiềm năng của các trung gian, tạo sự gắn bó lâu dài vớicông ty, tạo ra sự ổn định trong tiêu thụ hàng hóa
Thứ tư, nguồn nhân lực trong hệ thống phân phối của công ty là nhữngngười trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, với các trung gian thương mại và là mắtxích quan trọng trong hệ thống phân phối Do đó, hoàn thiện hệ thống phân phốiphải làm sao để nguồn nhân lực trong hệ thống yên tâm công tác, có động lựclàm việc, phát huy hết khả năng của mình
Tóm lại, để tồn tại và phát triển, công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt cầnphải có những bước đi cụ thể để hoàn thiện hệ thống phân phối trên mọi phươngdiện, bên cạnh đó phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận khác để hỗ trợ đắc lựccho công ty có thể đạt được những mục tiêu mà mình đã đặt ra
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT TẠI HÀ NỘI
2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT
2.1.1 Đặc điểm về vốn
Nguồn vốn của một doanh nghiệp được tạo nên từ hai thành phần là Nợphải trả và Vốn chủ sở hữu Nguồn vốn của công ty cổ phần thực phẩm ĐứcViệt trong 3 năm gần đây (từ 2008 đến 2010) đã có những thay đổi đáng chú ý
Bảng 2.1 Nguồn vốn của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
(đơn vị: triệu đồng)
2009 / 2008 2010/2009 Mức
Trang 34đẩy lãi suất lên rất cao khiến cho việc vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn
Sang năm 2010, nợ phải trả của công ty tăng gần gấp đôi, trong đó nợngắn hạn tăng 85%, nợ dài hạn tăng gần 280% Vì năm 2010 là năm mà kinh tếViệt Nam và thế giới sự phục hồi sau khủng hoảng đã giúp cho hệ thống ngânhàng được nới lỏng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn mở rộng sảnxuất kinh doanh Do đó, nguồn vốn của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đãgia tăng đáng kể Ngoài những khoản vay tín dụng từ ngân hàng và các đối tác,công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt vẫn đều đặn phát hành cổ phiếu
Biểu 2.1 Sự thay đổi trong nguồn vốn của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt trong 3 năm 2008, 2009, 2010 (đơn vị: triệu đồng)
Vốn chủ sở hữu tăng đều đặn trong 3 năm gần đây với lượng tiền khoảng
18 tỷ đồng mỗi năm, tăng khoảng 3 lần từ năm 2008 đến năm 2010 Điều nàycho thấy cho thấy điểm mạnh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt về việchuy động vốn và khả năng tự chủ tài chính
Chung quy lại, mặc dù giai đoạn 2008 - 2010 là một giai đoạn khá khókhăn cho cả nền kinh tế nhưng công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt vẫn đảmbảo được sản xuất kinh doanh, thể hiện qua việc khả năng tài chính ổn định vàđáng kỳ vọng
2.1.2 Đặc điểm về doanh thu, chi phí
Nhìn vào báo cáo kết quả kinh doanh tổng quát của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt, ta có thể thấy công ty liên tục hoạt động kinh doanh có lãi, tuy
Trang 35nhiên mức lợi nhuận cũng có nhiều biến động sau 4 năm 2008, 2009, 2010,
2011 (xem bảng 2.2)
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
giai đoạn 2008-2011 (đơn vị: triệu đồng)
(nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh - phòng Kế toán)
Cụ thể, năm 2008, lợi nhuận ở mức 623,912 triệu đồng và cùng tăng vọtlên mức khoảng 11,7 tỷ đồng trong cả 2 năm 2009 và 2010 Nguyên nhân là dokhủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 khiến các doanh nghiệp hoạt động cầmchừng, các chi phí tăng cao Năm 2010, mức lợi nhuận là 11,748 tỷ đồng, chỉ
Trang 36hơn năm 2009 là 30,64 triệu đồng trong khi doanh thu cao hơn gần gấp đôi.Nguyên nhân là do công ty mở rộng sản xuất kinh doanh quá nhanh kiến các chiphí bán hàng và quản lí cũng tăng nhanh Năm 2011, cả doanh thu và lợi nhuậncủa công ty tăng vọt, do những đầu tư ban đầu đã phát huy được hiệu quả trongdài hạn.
2.1.2.1 Doanh thu
Doanh thu của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt trong 3 năm gần đâytăng khá nhanh, đặc biệt là giai đoạn 2009 - 2010, tuy nhiên lợi nhuận của công
ty lại có những thay đổi thất thường
Bảng 2.3 Doanh thu và lợi nhuận của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt giai đoạn 2008-2011 Năm
Chỉ tiêu
2008 (triệu đồng)
Lượng tiền (triệu đồng)
Tăng so với 2008 (%)
Lượng tiền (triệu đồng)
Tăng
so với 2009 (%)
Lượng tiền (triệu đồng)
Tăng
so với 2010 (%) Tổng DT 81.581,829 114.609,387 40,4 207.358,403 80,9 427.965,830 106,4
Trang 37Tổng doanh thu và doanh thu thuần có tốc độ tăng trưởng rất đều nhau.Doanh thu thuần luôn chiếm tỷ lệ khoảng 99% trong tổng doanh thu Điều nàycho thấy các chính sách chiết khấu của công ty được thực hiện rất ổn định.Trong giai đoạn này, chính sách chiết khấu đã được nới lỏng, không chỉ đối vớinhững khách hàng quen thuộc mà đã mở rộng phạm vi cho toàn bộ khách hàng.Mặc dù áp dụng chính sách mới nhưng sự thay đổi này không tạo nên sự xáotrộn trong khâu tiêu thụ mà còn kích thích được các đại lí, cửa hàng đẩy mạnhbán hàng.
Biểu 2.2 Sự thay đổi trong doanh thu và lợi nhuận của công ty
cổ phần thực phẩm Đức Việt giai đoạn 2008-2011 (đơn vị: triệu đồng)
Điều này cho thấy ngay sau khi nền kinh tế được cải thiện sau khủnghoảng, ngay lập tức công ty đã có những cải thiện rất đáng kể trong việc triểnkhai các biện pháp tiêu thụ sản phẩm và những biện pháp đó ngày càng phát huyhiệu quả rõ rệt cùng với chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ
Tuy nhiên, sự thay đổi của lợi nhuận lại không được khả quan như doanhthu Lượng tăng của lợi nhuận gộp khá đều đặn, tuy nhiên tốc độ tăng lại khôngtương xứng với doanh thu Cụ thể là lợi nhuận gộp năm 2010 so với năm 2009chỉ tăng 41%, chỉ bằng một nửa so với tốc độ tăng của doanh thu, thậm chí lợinhuận từ hoạt động kinh doanh năm 2010 còn không bằng năm 2009 với mứcgiảm khoảng 2,5% Do đó, lợi nhuận chỉ chiếm một tỷ lệ rất ít so với tổng doanhthu và cũng không giữ được sự ổn định Năm 2008 tỷ lệ lợi nhuận so với doanhthu là khoảng 1,5%, năm 2009 là 13,4%, năm 2010 khoảng 7,2% Điều này chothấy công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt đang gặp nhiều khó khăn trong việckiểm soát các loại chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh Đếnnăm 2011, lợi nhuận của công ty tăng vọt lên mức khoảng 55,5 tỉ đồng, tăng gần
Trang 38gấp 3 lần so với lợi nhuận năm 2010, do công ty đã kiểm soát tốt các loai chi phí
và các nguồn đầu tư cố định đã phát huy hiệu quả
2.1.2.2 Chi phí
Do chi phí kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt cũng cónhững biến động thất thường nên lợi nhuận của công ty cũng không khả quan.Cùng với sự tăng lên của doanh thu, các chi phí kinh doanh cũng tăng lên vớitốc độ cao, thậm chí còn cao hơn cả tốc độ tăng của doanh thu
Bảng 2.4 Chi phí kinh doanh của công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt
Lượng tiền (triệu đồng)
Tỷ lệ so với tổng doanh thu (% )
Lượng tiền (triệu đồng)
Tỷ lệ so với tổng doanh thu (% )
Lượng tiền (triệu đồng)
Tỷ lệ so với tổng doanh thu (% ) Tổng doanh thu 81.581,829 100,0 114.609,387 100,0 207.358,403 100,0
Năm 2009 đánh dấu sự thành công của công ty cổ phần thực phẩm ĐứcViệt trong việc phát hành cổ phiếu Do đó, công ty đã ko còn bị phụ thuộc quánhiều vào nguồn vốn vay ngân hàng Chi phí tài chính trong năm 2009 chỉ còn
Trang 39chiếm 1,5% tổng doanh thu, trong khi năm 2008 chiếm tới 4,1% Tỷ lệ giá vốnhàng bán trong tổng doanh thu của công ty cũng được hạ xuống còn 72% chothấy những cải thiện đáng ghi nhận của công ty sau khủng hoảng kinh tế thếgiới.
Năm 2010, tỷ lệ giá vốn hàng bán so với doanh thu tăng so với năm 2009.Nguyên nhân là do năm 2010, công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt mở rộngchủng loại sản phẩm, sản xuất thêm 5 mặt hàng mới như mù tạt, các loại gia vị,thịt tươi nên quy trình chế biến vẫn còn có lãng phí Thêm vào đó, giá của cácnguyên liệu đầu vào cũng tăng khá cao Việc đẩy mạnh sản xuất trong năm 2010khiến doanh thu tăng khoảng 80%, tuy nhiên các chi phí khác lại tăng xấp xỉ gấpđôi, khiến cho tổng chi phí chiếm hơn 90% tổng doanh thu Chỉ có chi phí quản
lí là tăng nhẹ hơn và tỷ lệ so với tổng doanh thu cũng giảm so với 2 năm trước,
do năm 2008 doanh nghiệp mới thực hiện cổ phần hóa nên Những sự thay đổithất thường này của chi phí là do hệ quả trong ngắn hạn của việc mở rộng sảnxuất kinh doanh, cụ thể là việc mở rộng thị trường ra các vùng ngoại ô, ven đô,hay các chương trình hỗ trợ biển quảng cáo và bếp nướng cho các đại lý, Tuynhiên, trong ba đến năm năm tới các chi phí sẽ dần ổn định
2.1.3 Đặc điểm về mặt hàng
2.1.3.1 Quy trình công nghệ áp dụng trong chế biến sản phẩm
Công ty Cổ phần thực phẩm Đức Việt là công ty đầu ngành về chế biếnnông sản, thịt gia súc, thực phẩm sạch và các sản phẩm khác của ngành chănnuôi để phục vụ tiêu dùng Do đó công ty đã đầu tư một dây chuyền đồng bộ từ
lò mổ đến pha lọc thịt và chế biện thực phẩm từ thịt đạt tiêu chuẩn và công nghệĐức Đặc điểm dây chuyền chế biến sản phẩm tại nhà máy của công ty cổ phầnthực phẩm Đức Việt có thể được khái quát qua những điểm chính sau:
+ Lợn hơi: Được cung cấp theo hợp đồng từ các trang trại chăn nuôi ở cáctỉnh như Vĩnh Yên, Bắc Giang Khi vận chuyển đến lò mổ của Đức Việt đềuđược kiểm định thú y và an toàn dịch bệnh
+ Lò mổ: Quy trình mổ treo và đánh lông bằng máy được thực hiện theoquy trình của Đức Lò mổ áp dụng hệ thống quản lý VSATTP HACCP (Hệthống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn), được tổ chức BMTRADA của Vương quốc Anh kiểm định và cấp giấy chứng nhận
Trong lò mổ có bác sĩ thú y của Nhà nước kiểm tra an toàn từng con một
và đóng dấu xác nhận Như vậy lợn sống được lựa chọn từ các nhà cung cấpđảm bảo, được cấp giấy chứng nhận an toàn thú y, quy trình giết mổ được kiểmsoát, ghi chép xuất xứ từng con lợn Đây cũng chính là một trong những thếmạnh của Đức Việt trong việc đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩmcho sản phẩm
Trang 40+ Phân xưởng pha lọc: Phân xưởng này chỉ được sử dụng thịt lợn mảnh
được chính lò mổ của công ty cung cấp và đã được kiểm soát kỹ Toàn bộ phân
xưởng pha lọc làm việc cách ly trong điều kiện nhiệt độ +7oC đến +10oC Hệ
thống lạnh được vận hành 24/24h, có hệ thống điện dự phòng khi bị mất điện
lưới
Toàn bộ dây chuyền pha lọc thịt được nhập khẩu từ CHLB Đức, nhà máy
được thiết kế theo tiêu chuẩn Đức và EU, bao gồm cả hệ thống lạnh, thông gió,
thoát nước, khử trùng, xử lý nước thải
Thịt sau khi pha lọc sẽ được phân loại theo 2 nhóm:
- Nhóm 1: Thịt lơn tươi an toàn được cung cấp ra thị trường bằng hệ
thống xe lạnh chuyên dụng của chính công ty, giao tận nơi cho khách hàng
- Nhóm 2: Thịt để chế biến xúc xích và thực phẩm khác
+ Phân xưởng chế biến:
Thịt lợn tươi dùng để chế biến xúc xích và thực phẩm đóng gói khác sau
khi qua quá trình pha lọc sẽ được chế biến xử lý và chế biến tại những khu vực
riêng biệt với hệ thống máy móc hiện đại và đặc biệt là đạt những tiêu chuẩn
khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm Quy trình chế biến các sản phẩm đóng
gói có thể được khái quát như sau:
Hình 2.1 Quy trình chế biến thực phẩm đóng gói (nguồn: phòng Kế toán)
Trong các công đoạn sản xuất, khâu xét nghiệm cũng rất quan trọng, giúp
cho các nhà sản xuất kiểm tra, đánh giá chất lượng sản phẩm Ngay cả khi
nguyên liệu được chở về, các kỹ sư hóa thực phẩm phải lấy mẫu để xét nghiệm,
xem thịt có đảm bảo hay không, có chứa ký sinh trùng, các vi sinh vật, có thuốc
thú y, thuốc kháng sinh hay nguyên liệu đầu vào có đủ chất lượng để sản xuất
Sau khi sản xuất, chế biến và trước khi xuất xưởng lưu thông phân phối trên thị