1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bai tap doc hieu lop 9 mon ngu van

27 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghị luận về tính tự lập của giới trẻ
Trường học Đại Học Vnedoc
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 518,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập đọc hiểu lớp 9 môn Ngữ văn VnDoc com Thư viện Đề thi Trắc nghiệm Tài liệu học tập miễn phí Trang chủ https //vndoc com/ | Email hỗ trợ hotro@vndoc com | Hotline 024 2242 6188 Nghị luận về tính[.]

Trang 1

Nghị luận về tính tự lập của giới trẻ - Văn mẫu lớp 9

Khi còn bé, chúng ta được chăm sóc bởi bàn tay của mẹ, sự dìu dắt của cha Lớn thêmchút nữa, ta được mở mang tầm hiểu biết nhờ sự chỉ dạy tận tình của thầy cô, bạn bè.Nhưng rồi ai cũng sẽ phải trưởng thành, đứng trên đôi chân của chính mình và sống mộtcuộc sống tự lập

Có một câu danh ngôn như thế này: “Bạn có não trong đầu Bạn có chân trong giày Bạn

có thể tự chỉ mình về bất cứ hướng nào bạn chọn Bạn độc lập, và bạn biết điều mình biết

Và bạn là người quyết định mình sẽ đi đâu.”

Tự lập là gì? Đó là một cách sống của con người, là tự bản thân sẽ có những lập trường,quan điểm riêng từ đó tự quyết định tương lai, số phận của mình Tự lập là khi chúng tasống không phụ thuộc, dựa dẫm vào sự trợ giúp của người khác để sống

Thực chất, chúng ta không phải chờ đến lúc lớn lên rồi mới bắt đầu tự lập Tự lập ở đâyđược biểu hiện qua nhiều hành động khác nhau Ví dụ như ngay khi bạn đang là một họcsinh chẳng hạn Tính tự lập được thể hiện qua ngay việc bản thân bạn có tự giác làm bàihay không, có ý thức tham gia vào các công việc gia đình hay không … Ở trường, khiđược giao bài tập khó, thay vì chép bài bạn, thì bạn sẽ tự suy nghĩ cho đến khi cảm thấy

nó nằm ngoài tầm giải quyết của bản thân thì mới nhờ đến thầy cô, bạn bè Hay như khi ởnhà, thay vì để mẹ lo hết mọi công việc trong gia đình, bạn có thể tự mình dọn dẹp phòngngủ của bản thân, thậm chí giúp mẹ khi không được nhờ vả

Sống tự lập là một điều cần thiết với mọi người Sự tự lập đem lại cho chúng ta sự vữngvàng, có những chính kiến riêng và tự tin trong mỗi quyết định Nó sẽ giúp bản thân vượtqua mọi khó khăn trong cuộc sống Ông cha ta khi xưa vẫn thường nói:

Nước lã mà vã nên hồ Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

Tuy nhiên với những gia đình khá giả hay có điều kiện, cha mẹ lại thường không muốncon cái mình phải chịu khổ Họ sợ con vất vả nên thường nuông chiều con Nhưng họkhông biết rằng điều này lại khiến cho nhiều bạn trẻ có lối sống ý lại, ăn bám vào giađình Lối sống này khiến cho họ trở nên buông thả với chính mình, không biết quý trọng

Trang 2

đồng tiền và công sức của người làm ra nó Từ đó, họ sống không có định hướng, mụcđích.

Cuộc sống là một cuộc hành trình Có một hành trang vững vàng, bạn hoàn toàn có thể tựtin bước đi trên đôi chân của chính mình!

Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là đẹp nhất của tự nhiên Nó gieo vào lòng người nhữngrung động nhẹ nhàng khiến ta cũng như giao hoà, đồng điệu Biết bao nhà thơ, nhà văn đãcảm nhận và ghi lại một cách rất tinh tế sự chuyển biến nhẹ nhàng mà rõ rệt đó Khichúng ta chưa hết ngờ ngàng bởi một Xuân Diệu bâng khuâng, tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi

gì thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế, sâu sắc đến vô cùng Bài Sang thu của thi sĩ HữuThỉnh là sự cảm nhận như thế

Bài thơ là sự chuyển động rất tinh tế của sự sống khi hạ dần qua và thu đang đến Khôngnhư những nhà thơ khác cảm nhận mùa thu qua sắc vàng của hoa cúc, của lá ngô đồnghay qua tiếng lá khô xào xạc, Hữu Thỉnh đón nhận mùa thu bằng một hương vị đặc biệt -

đó chính là hương ổi:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se

Giữa những âm thanh, màu sắc và hương vị đặc trưng của mùa thu đang lan toả, chỉ cóhương ổi làm nhà thơ bất chợt xao lòng Đó là một thứ hương vị không dễ dàng nhận ra.Bởi lẽ hương ổi không phải một hương thơm ngào ngạt, nồng nàn, mà nó thoảng đưa êmdịu trong gió đầu thu nhưng cũng đủ đánh thức xúc cảm trong lòng Hữu Thỉnh gợi thậtđúng, thật hay Hương ổi không chỉ lan toả mà còn vận động rất mạnh trong không gian

Có lẽ đó là sức sống dạt dào mà mùa hạ muốn tặng cho mùa thu chăng?

Màn sương thu hình như cũng muốn tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc đó mà chùng chìnhchưa muốn tan đi:

Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về

Không gian có sự hoà hợp giữa hương ổi dịu dàng, gió thu nhẹ nhẹ và sương thu mơmàng tạo nên một ấn tượng đặc biệt mà ta khó lòng quên được Chùng chinh là sự rungrinh, lay động của làn sương hay cũng chính là sự rung động trong tâm hồn nhà thơ HữuThỉnh? Có lẽ là cả hai Vạn vật trong thời khắc chuyển mùa vì thế càng trở nên duyêndáng, nhịp nhàng Cảm quan tinh tế của nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp rất riêng, rất

Trang 3

duyên đó để rồi xao xuyến: Hình như thu đã về Lời reo vui cũng thì thầm nhỏ nhẹ, bângkhuâng vang lên trong lòng Hữu Thỉnh như bước đi của mùa thu.

Để dòng cảm xúc trôi theo thời gian, cảm nhận rõ hơn bước đi của sự sống, nhà thơ lạitiếp tục quan sát:

Sông được lúc dềnh dàng Chim bat đầu vội vã

Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Nếu như khổ thơ thứ nhất, thu mới chỉ là sự đoán định (Hình như thu đã về) thì ở khổ thơnày nó đã trờ thành sự khẳng định Đó là hình ảnh đám mây mùa hạ vắt nửa mình sangthu Mùa thu đã đến thật rồi! Thu không còn là sự mong đợi, đoán định Thu hiển hiệntrong cuộc sống, trên cỏ cây hoa lá và trong lòng người Cũng như sương thu, dòng sôngdường như cũng thong thả, chậm chạp hơn Như hút vào lòng mình tất cả niềm sungsướng, thoả thuê của cuộc sống để dềnh lên những con nước mát lành Mọi chuyển động

có vẻ rất đều đều, rất nhẹ, riêng có cánh chim là vội vã cuống quýt Sự vội vàng đó phảichăng cũng là sự vội vàng trong tâm hồn Hữu Thỉnh, muốn được mở rộng lòng mình đónnhận mọi rung động dù là nhỏ nhất? Điểm nhìn của nhà thơ như được nâng dần từ dòngsông, cánh chim đến bầu trời cao rộng:

Có đám mây mùa hạ Vắt nửa mình sang thu

Lại một sự biến chuyển khác trong khoảnh khắc giao mùa khiến lòng ta rung động Đókhông phải là lớp lớp mây cao đùn núi bạc hay máy biếc về đâu bay gấp gấp mà lại làđám mây mùa hạ - vắt nửa mình sang thu Có thể là một đám, hai đám hay nhiều hơn nữanhưng có lẽ trong Sang thu mây không thể nào lớp lớp mây cao dược Vì mùa thu mớibắt đầu chưa thể nhuốm đượm lên lớp lớp sự vật Hình ảnh đám mây là một phát hiện rấtmới lạ và độc đáo của Hữu Thỉnh Bức tranh chuyển mùa vì thế càng trở nên sinh động,giàu sắc gợi cảm

Mỗi khổ thơ là một sự chuyển biến rất rõ của không gian Bài thơ có tựa đề là Sang thu

mà sao vẫn thấy phảng phất dấu hiệu mùa hè:

Vẫn còn bao nhiêu nắng Trên hàng cây đứng tuổi.

Trang 4

Dấu hiệu đó là nắng, mưa, sấm, nhưng đã là nắng, mưa, sấm cuối mùa Ánh nắng chóichang ngày nào nay đã vơi dần cơn mưa trở nên mát mẻ, dễ chịu hơn nhiều Hai câu thơcuối cùng gợi cho ta nhiều suy nghĩ liên tưởng thú vị.

Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng cây đứng tuổi.

Giọng thơ trầm hẳn xuống, câu thơ không đơn thuần chỉ là giọng kể, là sự cảm nhận màcòn là sự suy nghĩ chiêm nghiệm về đời người Mùa thu của thiên nhiên hay mùa thu củamồi đời người? Nhìn cảnh vật biến chuyến khi thu mới bắt đầu, Hữu Thỉnh nghĩ đến cuộcđời khi đã đứng tuổi Phải chăng mùa thu của đời người là sự khép lại những tháng ngàysôi nổi, với những bất thường của tuổi trẻ và mở ra một mùa mới, một không gian mới,yên tĩnh, trầm lắng hơn? Hai hình ảnh sấm và hàng cây đứng tuổi vừa có ý nghĩa tả thựcvừa có ý nghĩa tượng trưng cho thấy một Hữu Thỉnh rất đỗi tinh tế, nhạy bén trong cảmnhận và liên tưởng Mùa thu thường không rạo rực, ấm áp như mùa xuân, không sôi độngrộn ràng như mùa hạ, hay lạnh lẽo, thê lương như mùa đông Thu đến rất nhẹ nhàng và đirất lặng lẽ Thu không đánh thức ta bằng những âm thanh vang động, màu sắc lộng lẫy,hương vị ngạt ngào mà reo vào lòng ta những thoáng xao động, mơ màng, gợi trong tanhững suy nghĩ sâu xa về cuộc sống Có lẽ vì thế mà thơ thu, trong đó có Sang thu củaHữu Thỉnh rất giàu ý nghĩa

Mùa thu và thi sĩ từ lâu đã có duyên nợ nhưng không phải thu nào cũng như nhau, ví nhưbài Sang thu vậy Nhà thơ Hữu Thỉnh nắm bắt hồn thu ngay trong khoảnh khắc chuyểnmùa Đó là những chuyển biến rất tinh vi mà phải có một tâm hồn thật tinh tế mới cảmnhận được Có thể ta chưa thấy được hết vẻ đẹp của mùa thu trong bài thơ và thấu hiểunhững gì mà nhà thơ muốn nhắn gửi nhưng Sang thu đã cho ta thấy sự vận động của cuộcsống quanh ta mà bấy lâu nay ta không hề biết tới Càng yêu thơ thu ta càng trân trọng vàcảm phục tâm hồn thi sĩ của Hữu Thỉnh và biết yêu quý hơn cuộc sống này

Dạng bài tập đọc hiểu:

Năng lực đọc hiểu của học sinh đang được coi trọng, nhất là từ năm học 2013- 2014, các

đề thi cấp quốc gia (tốt nghiệp, đại học) đều có một phần bài tập kiểm tra đánh giá nănglực này

Xu hướng kiểm tra đánh giá mới là thay vì kiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức

của học sinh (kiến thức do giáo viên đọc hộ, hiểu hộ, cảm hộ), thì các đề thi kể từ năm

Trang 5

học 2013- 2014 chuyển sang kiểm tra năng lực đọc hiểu của học sinh, năng lực tự mìnhcảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản.

Phần kiểm tra đánh giá này chiếm điểm trong đề thi THPT quốc gia với 2 văn bản và 8câu hỏi nên chúng ta phải có sự chuẩn bị tốt về kiến thức và kĩ năng để có thể đạt điểmcao

Cấu trúc của một đề bài kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu như sau:

Phần 1: Đưa ra một văn bản (văn bản văn học hoặc văn bản nhật dụng, văn xuôi hoặc thơ,

có thể là một văn bản hoàn chỉnh hoặc một đoạn trích…)

Phần 2: Đưa ra các câu hỏi theo các mức độ nhận thức từ thấp đến cao: từ nhận biết ->thông hiểu -> vận dụng thấp -> vận dụng cao

- Câu hỏi nhận biết thường đưa ra yêu cầu thí sinh chỉ ra các phương thức biểu đạt, phongcách chức năng ngôn ngữ, các hình thức ngôn ngữ, biện pháp tu từ, thao tác lập luận, kiểuliên kết hay các lỗi diễn đạt trong văn bản

- Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu thí sinh xác định nội dung chính của văn bản haymột câu, một đoạn trong văn bản

- Câu hỏi vận dụng thấp thường yêu cầu nêu tác dụng của các phép tu từ hay việc sử dụngkết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ trong văn bản

- Câu hỏi vận dụng cao thường là dạng câu hỏi bày tỏ quan điểm thái độ hoặc liên hệ thực

tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp)

Ví dụ: Đề thi THPT Quốc gia 2015 môn Ngữ văn

Văn bản 1: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :

Chúng tôi đúng đây trần trụi giữa trời

Cho biển cả không còn hoang lạnh

Đứa ở đồng chua

Đứa ở đất mặn

Chia nhau nỗi nhớ nhà

Hoàng hôn tím ngắt ra khơi

Chia nhau tin vui

Về một cô gái làng khểnh răng hay hát

Vầng trăng lặng dưới chân lều bạt

Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng

Trang 6

Chúng tôi coi thường gian nan

Dù đồng đội tôi , ngã trước miệng cá mập

Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn

Ngày mai đảo sẽ nhô lên

Tổ quốc Việt Nam một lần nữa nối liền

Hoàng Sa, Trường Sa

Những quần đảo long lanh như ngọc dát

Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát

Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi

Đảo ơi , đảo ơi !

(Đảo thuyền chài, 4-1982)

( Trích "Hát về một hòn đảo – Trần Đăng Khoa,Trường Sa,NXB Văn học 2014, tr.51)

Câu 1 Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2 Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả quanhững từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3 Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ "Những

hòn đảo long lanh như ngọc dát"

Câu 4 Đoạn thơ đã gợi cho anh chị tình cảm gì đối với người lính đảo? ( Trình bàykhoảng 5-7 dòng)

Văn bản 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

"Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất

là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Người của mỗi sinh thể người “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở môi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay Cái thiện cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại Trong cuộc hành trình lâu dài gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng Mất một đồng xu , một miếng ăn , mất một phần cơ thể , một vật sở hữu con người nhận biết ngay Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay Nhường bước cho một cụ già cao tuổi , nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho

Trang 7

Con-người hành khất Có mất có được nhưng không phải ai cũng nhận ra cái gì mà mình đã thu được có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn , khô héo dần Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta nhất là giới trẻ Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn ngốc sâu xa của

sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân vân về bệnh vô cảm."

(Trích "Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa", Bài tập ngữ văn 12 , Tập 1, NXB giáo dục Việt

Nam , 2014 , tr 36-37)

Câu 5 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích

Câu 6 Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?

Câu 7 Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?

Câu 8 Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “Chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng

lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7

dòng)

Trong đề bài trên: các câu hỏi 1, 5 là câu hỏi nhận biết; các câu 2, 6,7 là câu hỏi thônghiểu; câu 3 có yêu cầu ở mức độ nhận biết và thông hiểu; câu 4 và 8 là các câu hỏi vậndụng cao

=> Đáp án:

Câu 1: Đoạn thơ viết theo thể thơ tự do

Câu 2: Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua

những từ ngữ, hình ảnh "trần trụi giữa trời", "lều bạt", "gian nan", "có người ngã trước

miệng cá mập", "có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn".

Câu 3: Câu thơ sử dụng biện pháp tu từ so sánh Tác dụng: làm nổi bật vẻ đẹp của nhữnghòn đảo và thể hiện niềm tự hào về biển đảo quê hương

Câu 4: Bày tỏ tình cảm chân thành, sâu sắc với những người lính đảo

Câu 5: Phương thức biểu đạt chính là nghị luận

Câu 6: Theo tác giả , nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là do bệnh vôcảm và sự xuống cấp nghiêm trọng về ý thức nhân văn

Câu 7: Tác giả bộc lộ thái độ lo lắng, băn khoăn, trăn trở trước hiểm họa bệnh vô cảm

Trang 8

Câu 8: Bày tỏ thái độ không đồng tình với những người “Chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại

không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn khô héo dần “, phê phán lối sống chạy theo vật

chất mà không bồi dưỡng cho tâm hồn

Kiến thức về các phép liên kết

1 Phép lặp:

Phép lặp là cách dùng đi dùng lại một yếu tố ngôn ngữ, ở những bộ phận khác nhau(trước hết ở đây là những câu khác nhau) của văn bản nhằm liên kết chúng lại với nhau.Phép lặp, ngoài khả năng kết nối các bộ phận hữu quan của văn bản lại với nhau, còn cóthể đem lại những ý nghĩa tu từ như nhấn mạnh gây cảm xúc, gây ấn tượng

Các phương tiện dùng trong phép lặp là:

- Các yếu tố ngữ âm (vần, nhịp), gọi là lặp ngữ âm

đó, là chúng ta tạm thời bỏ qua những phương tiện liên kết khác có thể đang có mặt)

1.2 Lặp từ ngữ

Trang 9

Lặp từ ngữ nhắc lại những từ ngữ nhất định ở những phần không quá xa nhau trong vănbản nhằm tạo ra tính liên kết giữa những phần ấy với nhau.

Ví dụ: Buổi sáng, Bé dậy sớm ngồi học bài Dậy sớm học bài là một thói quen tốt Nhưng

phải cố gắng lắm mới có được thói quen ấy Rét ghê Thế mà Bé vùng dậy, chui ra được khỏi cái chăn ấm Bé ngồi học bài.

1.3 Lặp cú pháp:

Lặp cú pháp là dùng nhiều lần một kiểu cấu tạo cú pháp nào đó (có thể nguyên vẹn hoặcbiến đổi chút ít) nhằm tạo ra tính liên kết ở những phần văn bản chứa chúng Lặp nhữngcấu tạo cú pháp đơn giản và ngắn gọn để gây hiệu quả và nhịp điệu, nhờ đó gia tăng đượctính liên kết (X ví dụ về bài đồng dao trên kia)

Ví dụ 1:

Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!

Cấu tạo ngữ pháp ở 2 câu này là:

"Ðề ngữ - dạng câu đặc biệt " (tạo sắc thái cảm thán)

Ví dụ 2:

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào

[4 đoạn văn tiếp theo minh họa ý này]

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho nhân dân ta nghèo nàn,

thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

[4 đoạn văn tiếp theo minh họa ý này]

(Hồ Chí Minh)Trong ví dụ 2, cách lặp cú pháp không chỉ 2 câu (đề ngữ|chủ ngữ - vị ngữ), mà còn cảcách tổ chức văn bản gồm 4 đoạn văn kèm theo ở mỗi câu để giải thích ý đưa ra trongmỗi câu ấy

2 Phép thế:

Phép thế là cách thay những từ ngữ nhất định bằng những từ ngữ có ý nghĩa tương đương(cùng chỉ sự vật ban đầu, còn gọi là có tính chất đồng chiếu) nhằm tạo tính liên kết giữacác phần văn bản chứa chúng Có 2 loại phương tiện dùng trong phép thế là thay thế bằng

từ ngữ đồng nghĩa và thế bằng đại từ

Dùng phép thế không chỉ có tác dụng tránh lặp đơn điệu, mà còn có tác dụng tu từ nếuchọn được những từ ngữ thích hợp cho từng trường hợp dùng

Trang 10

2.2 Thế đại từ:

Thế đại từ là dùng những đại từ (nhân xưng, phiếm định, chỉ định) để thay cho một từngữ, một câu, hay một ý gồm nhiều câu v v nhằm tạo ra tính liên kết giữa các phần vănbản chứa chúng

Phép liên tưởng khác phép thế ở chỗ trong phép thế thì dùng những từ khác nhau để chỉcùng một sự vật; trong phép liên tưởng, đó là những từ ngữ chỉ những sự vật khác nhau

có liên quan đến nhau theo lối từ cái này mà nghĩ đến cái kia (liên tưởng)

Sự liên tưởng có thể diễn ra giữa những sự vật cùng chất cũng như giữa những sự vậtkhác chất

3.1 Liên tưởng cùng chất:

Ví dụ 1 (liên tưởng theo quan hệ bao hàm):

Trang 11

Chim chóc cũng đua nhau đến bên hồ làm tổ Những con sít lông tím, mỏ hồng kêu vang như tiếng kèn đồng Những con bói cá mỏ dài lông sặc sỡ Những con cuốc đen trùi trũi len lủi giữa các bụi ven bờ.

Quan hệ bao hàm còn thể hiện rõ trong quan hệ chỉnh thể - bộ phận (cây: lá, cành, quả,rễ ) hoặc trong quan hệ tập hợp - thành viên của tập hợp (quân đội: sĩ quan, binh lính )

Ví dụ 2 (liên tưởng đồng loại):

Cóc chết bỏ nhái mồ côi,

Chẫu ngồi chẫu khóc: Chàng ôi là chàng!

Ễnh ương đánh lệnh đã vang!

Tiền đâu mà trả nợ làng ngóe ơi!

Ví dụ 3 (liên tưởng về số lượng):

Năm hôm, mười hôm Rồi nửa tháng, lại một tháng (Nguyễn Công Hoan)

Ví dụ 3 (liên tưởng theo đặc trưng sự vật):

Mặt trời lên bằng hai con sào thì ông về đến con đường nhỏ rẽ về làng Không cần phải hỏi thăm nữa cũng nhận ra rặng tre ở trước mặt kia là làng mình rồi Cái chấm xanh sẫm nhô lên đó là cây đa đầu làng Càng về đến gần càng trông rõ những quán chợ khẳng khiu nấp dưới bóng đa (Nguyễn Ðịch Dũng)

-> Làng được đặc trưng bằng rặng tre, cây đa, quán chợ

Ví dụ 4 (liên tưởng theo quan hệ nhân - quả, hoặc nói rộng ra: theo phép kéo theo nhưtuy nhưng (nghịch nhân quả), nếu thì (điều kiện/giả thiết - hệ quả)

Trang 12

Ðồn địch dưới thấp còn cách xa gần bốn trăm thước đang cháy thật, tre nứa nổ lốp bốp như cả cái thung lũng đang nổ cháy Khói lửa dày đặc không động đậy bên dưới,

mà bốc ngọn mỗi lúc một cao, ngùn ngụt, gió tạt về phía đồi chỉ huy vàng rực, chói lòe trong nắng, hơi nóng bốc lên tận những đỉnh núi bố trí (Trần Ðăng)

-> Có khói lửa, hơi nóng là do nổ cháy

4 Phép nghịch đối:

Phép nghịch đối sử dụng những từ ngữ trái nghĩa vào những bộ phận khác nhau có liênquan trong văn bản, có tác dụng liên kết các bộ phận ấy lại với nhau Những phương tiệnliên kết thường gặp dùng trong phép nghịch đối là:

- Từ trái nghĩa

- Từ ngữ phủ định (đi với từ ngữ không bị phủ định)

- Từ ngữ miêu tả (có hình ảnh và ý nghĩa nghịch đối)

Phép nối có thể dùng các phương tiện sau đây:

Trang 13

Kết từ (quan hệ từ, từ nối) là những hư từ quen thuộc dùng để chỉ quan hệ giữa các từ

ngữ trong ngữ pháp câu, như và, với, thì, mà, còn, nhưng, vì, nếu, tuy, cho nên Kết từ

cũng được dùng để liên kết trong những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu.

Ví dụ 1:

Nguyễn Trãi sẽ sống mãi trong trí nhớ và tình cảm của người Việt Nam ta Và chúng ta phải làm cho tên tuổi và sự nghiệp của Nguyễn Trãi rạng rỡ ra ngoài bờ cõi nước ta (Phạm Văn Ðồng)

Ví dụ 2:

Mỗi tháng, y vẫn cho nó dăm hào Khi sai nó trả tiền giặt hay mua thức gì, còn năm ba

xu, một vài hào, y thường cho nốt nó luôn Nhưng cho rồi, y vẫn thường tiếc ngấm ngầm Bởi vì những số tiền cho lặt vặt ấy, góp lại, trong một tháng, có thể thành đến hàng đồng (Nam Cao)

5.2 Nối bằng kết ngữ:

Kết ngữ là những tổ hợp từ gồm có một kết từ với một đại từ hoặc phụ từ, kiểu như vìvậy, do đó, bởi thế, tuy vậy, nếu vậy, vậy mà, thế thì, với lại, vả lại hoặc những tổ hợp

từ có nội dung chỉ quan hệ liên kết kiểu như nghĩa là, trên đây, tiếp theo, nhìn chung, tóm

lại, một là, ngược lại

Ví dụ 1:

Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác, đều dòng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc (Hồ Chí Minh)

Ví dụ 2:

Một hồi còi khàn khàn vang lên Tiếp theo là những tiếng bước chân bình bịch, những tiếng khua rộn rã: phu nhà máy rượu bia chạy vào làm (Nam Cao)

5.3 Nối bằng trợ từ, phụ từ, tính từ:

Ngày đăng: 20/03/2023, 15:01

w