Thuyết trình thị trường cho vay việt nam
Trang 1THỊ TRƯỜNG CHO VAY VIỆT NAM
ĐỀ TÀI:
Nhóm Sao Chổi NHB-K9
Trang 21 Tổng quan về thị trường cho
vay Việt Nam
Trang 31 Tổng quan về thị trường cho vay Việt Nam
Tổng quan về thị trường cho
vay
Khái niệm
về thị trường
chovay:
Giới thiệu thị trường cho vay Việt
nam
Trang 41.1.Khái niệm về thị trường cho vay:
Thị trường cho vay là nơi các NHTM sử dụng các khoản tài chính huy động được để cung cấp tài chính cho đối tượng khác trong một thời gian theo thỏa thuận và nhận được khoản chênh lệch so với số tiền cho vay
(Đối tượng khác :các ngân hàng khác hoặc các chủ thể trong nền kinh tế như: Doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình… )
Trang 51.2.Giới thiệu thị trường cho vay Việt Nam:
Ở Việt Nam, lãi suất cơ sở để các ngân hàng xác định lãi suấtcho vay chính là lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thịtrường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở củaNgân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chứctín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn khả dụng
Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không được cho vay
với lãi suất cao quá 150% lãi suất cơ bản
Trang 61.2.Giới thiệu thị trường cho vay Việt nam:
Trong từng giai đoạn phát triển khác nhau, tùy theo diễn biếnthị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ mà NHNN sẽ công bốcác mức lãi suất cơ bản khác nhau
Khi lãi suất cơ bản thay đổi thì lãi suất cho vay của các NHTMcũng sẽ thay đổi theo, từ đó tác động đến khối lượng cho vayhay mức dư nợ tín dụng.
Trang 71.2.Giới thiệu thị trường cho vay Việt Nam:
Có hai loại cho vay trên thị trường liên ngân hàng:
Một là cho vay bù đắp do thiếu hụt thanh toán trong thanh
toán bù trừ, thời hạn từ 1 đến 5 ngày
Hai là cho vay để mở rộng tín dụng ngắn hạn do hai bên
thống nhất
Trang 82 Thị trường cho vay Việt Nam những
năm gần đây
2006
2007
2008
Trang 92.1.Khái quát thị trường cho vay
2006 – 2007
2.1.1 Thị trường cho vay 2006 :
+ Trong năm 2006, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản là 8,25%/năm ,lãi suất tái cấp vốn là 6,5%/năm ,lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm.
=> lãi suất thị trường trong năm 2006 không có biến động lớn, đảm bảo mối quan hệ hợp lí giữa lãi suất VND, lãi suất ngoại tệ và mức biến động tỷ giá
+ Nhìn chung, năm 2006 tín dụng đối với nền kinh tế có xu hướng tăng trưởng chậm trở lại Dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh
tế tăng 25,44% so với năm 2005, thấp hơn nhiều so với mức tăng 31,10% của năm 2005 và mức 41,65% của năm 2004.
Trang 102.1.Khái quát thị trường cho vay
2006 – 2007
Dư nợ tín dụng có tốc độ tăng trưởng chậm là do:
+ Các ngân hàng đã tăng cường các biện pháp phòng ngừa,hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, tập trungnâng cao chất lượng tín dụng hơn là mở rộng khối lượng chovay
+ Các kênh huy động vốn khác ngày càng được mở rộng nhưthị trường chứng khoán, Quỹ hỗ trợ phát triển… Vốn từ nướcngoài vào Việt Nam gia tăng phần nào tác động đến khả năng
mở rộng tín dụng của các ngân hàng
Trang 112.1.Khái quát thị trường cho vay
2006 – 2007
2.1.2.Thị trường cho vay 2007:
NHNN đã triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành tiền tệnhằm kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán và tăngtrưởng tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn thực hiện mục tiêu tăngtrưởng kinh tế
NHNN giữ nguyên các mức lãi suất cơ bản như lãi suất cơ bản
là 8,25%/năm, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu lần lượt là6,5% và 4,6%/năm, lãi suất qua đêm và lãi suất tiền gửi tạiNHNN cũng ổn định
Trang 122.1.Khái quát thị trường cho vay
2006 – 2007
NHNN cũng thực hiện đồng bộ các biện pháp kiểm soát tíndụng Đặc biệt, sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉthị số 18/2007/CT-TTg
Vì vậy, lãi suất trên thị trường năm 2007 tương đối ổn định, lãisuất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng biến động trongkhoảng dưới 15%/năm
Về tăng trưởng tín dụng, dư nợ cho vay của hệ thống ngânhàng tăng 53,89% so với năm 2006 góp phần đáp ứng có hiệuquả nhu cầu vốn của các DN, các thành phần kinh tế Tăngtrưởng tín dụng tập trung cao nhất ở khối ngân hàng thươngmại cổ phần, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chứctín dụng phi ngân hàng, đạt mức tăng 105,27%, khối NHTMnhà nước có tốc độ tăng 31,09%
Trang 132.2.Thị trường cho vay Việt Nam từ đầu
năm 2008 đến nay
Năm 2008 là một năm đầy khó khăn và thử thách đối với thịtrường tín dụng các nước nói chung và thị trường tín dụng ViệtNam nói riêng
Trong nửa đầu năm 2008 Việt Nam gánh chịu ảnh hưởng củatình trạng tăng trưởng quá nóng Kết quả là lạm phát gia tăng,thâm hụt thương mại, bong bóng bất động sản và giảm sút chấtlượng đầu tư
Cuộc khủng hoảng thứ 2 diến ra vào nửa cuối năm 2008 Rủi
ro liên quan đến mảng cho vay bất động sản dưới chuẩn tại Mỹ
đã thổi bùng cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu với nhữngdiến biến khó lường
Trang 142.2.Thị trường cho vay Việt Nam từ đầu
Trang 15Năm 2008 Năm 2009
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 T1 T2
12.6 16.5 16.7 17.5 21 20.5 20.5 20.5 19 19.5 16.5 12.75 11.5 9.5
Mặt bằng lãi suất vay bình quân trên thị trường từ
đầucho năm 2008 đến nay
2.2.1 Cho vay của hệ thống ngân hàng
thương mại đến nền kinh tế.
Trang 16Biểu đồ 1: Biểu đồ diến biến lãi suất cho vay và lãi
suất huy động từ đầu năm 2008 đến nay
diễn biế n lã i suấ t
Trang 172.2.1 Cho vay của hệ thống ngân hàng
thương mại đến nền kinh tế.
0 1 2 3 4 5 6 7
tốc độ tăng trưởng TD tốc độ tăng trưởng TD 6.3 2.15 2.35 1.66 2.25 2.95 0.7 0.79 0.74 0.99 1 1.09 0.52 0.23
T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12 T1 T2
năm 2008 năm 2009
Đồ thị 2: Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tín dụng từ đầu năm 2008 đến T2/2009
Trang 182.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng
- Bước vào đầu năm 2008, thị trường tiền tệ nóng lên chưatừng thấy trong lịch sử nền kinh tế Việt Nam, vốn VND khanhiếm Trên thị trường liên ngân hàng hầu như chỉ có người vay
mà không có người cho vay
Nguyên nhân :đầu năm 2008 NHNN việt Nam đã ban hànhnhiều biện pháp điều hành chính sách tiền tệ thắt chặt như tăng
tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lãi suất, phát hành tín phiếu bắt buộc
=>đã tạo ra một cú sốc mạnh đối với các tổ chức tín dụng
Trang 192.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
Trang 202.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng
Mặc dù lãi suất huy động tăng cao nhưng do lượng tín dụnghuy động được không đủ giảm nhiệt cho tình hình căng thẳngcủa các ngân hàng nên theo đó một phản ứng dữ dội hiếmthấy, được coi rất nguy hiểm là lãi suất liên ngân hàng tăngcao chóng mặt
Đặc biệt lãi suất liên ngân hàng ngày 15/2/2008 lên tới30,1%/năm; ngày 18/2/2008 lập một kỷ lục mới khi lên tới33%/năm, ngày 19/2/2008 kỷ lục cao hơn nữa lên tới43%/năm…
Trang 212.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng
Lãi suất cao nhưng vẫn không vay được,cùng với việc huy động từ bên ngoài, việc "vay nóng" với nhau giữa các ngân hàng cũng nóng bỏng khi lãi suất vay qua đêm liên tục tăng ở mức không tưởng 43%/năm
Lãi suất thị trường mở qua đấu thầu giấy tờ có giá ngắn hạn tại NHNN lên tới 10% thậm chí 15%/năm cho kỳ hạn vay chỉ có 2 tuần, gấp 2-3 lần mức lãi suất bình thường.
Thị trường “căng“ đến mức ngày 22/2/2008 NHNN phải bơm thêm 6.000
tỷ đồng qua nghiệp vụ thị trường mở cho một số NHTM trúng thầu
Tuy nhiên hầu như chỉ có các NHTM Nhà nước, một số ít NHTM cổ phần quy mô lớn, một số chi nhánh Ngân hàng nước ngoài có điều kiện đang sở hữu tín phiếu NHNN và Tín phiếu Kho bạc Nhà nước, trái phiếu
đô thị TP.HCM,… thì mới có cơ hội vay với khối lượng lớn vốn đó, còn phần đông các NHTM cổ phần thì không.
Trang 222.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng
Tình trạng này kéo dài và diễn biến đỉnh điểm vào tháng 5, trong thời gian này lãi suất trên thị trường liên ngân hàng liên tục tăng vọt, những thành viên có vốn khả dụng dồi dào trở thành những “con thoi” đi hỗ trợ thị trường và thu lợi lớn.
=> Những giải pháp thắt chặt tín dụng của chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát và những hiệu ứng dây chuyền như đã phân tích ở trên đã làm cho lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế tăng lên nhanh chóng, tác động tiêu cực chung đến tăng trưởng GDP và đến hiệu quả nền kinh tế.
Từ đầu tháng 9.2008, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có xu hướng giảm dần, đặc biệt sau khi NHNN quyết định tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 3,6%/năm lên 5%/năm và cho phép sử dụng tín phiếu NHNN bắt buộc như công cụ trên thị trường mở.
Trang 232.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng
Đến tháng 12 năm 08 khi vốn khả dụng của ngân hàng không còn khan hiếm thì các mức lãi suất trên thị trường liên ngân hàng, nơi các ngân hàng vay nợ lẫn nhau vẫn thấp hơn so với lãi suất ngân hàng cho vay khách hàng.
Thực tế này chứng tỏ các ngân hàng dồi dào vốn, không có nhu cầu vay mượn lẫn nhau, tốc độ luân chuyển vốn đang giảm dần.
Với 2 quý cuối năm :
+ Vốn huy động trực tiếp từ người dân và doanh nghiệp khá rẻ.
+Thêm vào đó, diễn biến thị trường còn khó khăn, doanh nghiệp chưa mặn mà với việc tiếp cận vốn ngân hàng, nên tiến độ giải ngân khá chậm.
+Tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng giảm dần là lý do khiến giao dịch trên thị trường liên ngân hàng đóng băng.
Trang 242.2.2 Cho vay trên thị trường tiền tệ liên
ngân hàng
Bước sang năm 2009 mặc dù các mức lãi suất cho vay trong cáctháng đã liên tiếp giảm, đặc biệt chính phủ đã ra quyết định số131/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2009 về việc hỗ trợ lãi suấtcho vay 4%/năm, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng tín dụng trong giaiđoạn này lại khá khiêm tốn
Dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đến ngày 26/3 đạt 178.722 tỷ đồng:
Dư nợ cho vay phân theo đối tượng khách hàng vay vốn:
+ Doanh nghiệp Nhà nước 65.686 tỷ đồng, chiếm 36%;
+ doanh nghiệp ngoài nhà nước là 107.172 tỷ đồng, chiếm 60%;+ hợp tác xã 651 tỷ đồng;
+ hộ gia đình, cá nhân 4.968 tỷ đồng;
+ tổ chức khác 245 tỷ đồng
Trang 252.2.3 Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
2.2.3.1.Tác động của thị trường cho vay đến thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế:
Mặt lí thuyết :
Việc tăng giảm lãi suất cho vay sẽ tác động đến TTCK và tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
Lãi suất cho vay tăng:
+tăng chi phí đầu vào cho DN, bởi các DN trong quá trình sản xuất kinh doanh thường phải sử dụng nguồn vốn tài trợ từ bên ngoài trong đó phần lớn là vốn ngân hàng
+tăng chi phí lưu giữ vốn lưu động và do vậy, tạo sức ép các doanh nghiệp phải giảm đầu tư dưới dạng vốn lưu động
Trang 262.2.3 Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
Một số lượng lớn các DN đều có sự sụt giảm thì xét toàn bộthị trường chứng khoán khối lượng giao dịch và các chỉ số sẽgiảm
Hơn nữa, lãi suất cho vay tăng cao thường kèm theo lãi suấthuy động cũng tăng cao, làm cho việc gửi tiền vào ngân hàngđược xem là an toàn và thanh khoản hơn so với đầu tư chứngkhoán,
=>các nhà đầu tư sẽ rút vốn khỏi TTCK làm cho thị trường lạicàng sụt giảm
TTCK được xem là phong biểu của nền kinh tế, vì vậy sứckhỏe thị trường này giảm sút cho thấy nền kinh tế cũng đangkhó khăn Việc làm ăn không hiệu quả của các DN chính làyếu tố tác động xấu đến sự tăng trưởng GDP
Trang 272.2.3 Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
có tầm ảnh hưởng lớn
Trang 282.2.3 Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
10/28/2008
11/28/2008
Trang 292.2.3.Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
Trang 302.2.3.Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
tốc độ tăng trưởng (%)
7.38
3.1 0
Trang 312.2.3 Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
Hiện nay khủng hoảng vẫn đang tiếp diễn, mặc dù đến nay chưatác động gây bất ổn đến các cán cân vĩ mô của nước ta nhưngnhững ảnh hưởng của nó vẫn rất khó lường
Từ cuối năm 2008 đến đầu 2009, Chính phủ và NHNN đã nỗlực thực hiện các chính sách tiền tệ nới lỏng và các gói kích cầu,nhưng khả năng hấp thụ vốn còn thấp do thủ tục hành chính vàkhó khăn về thế chấp đã làm chậm quá trình giải ngân nguồnvốn
Mặt khác, các DN xuất khẩu do thị trường tiêu thụ trên thế giớigiảm nên cũng không mặn mà với vay vốn
Do vậy tốc độ tăng trưởng quý I/2009 chỉ đạt 3,1%
Tuy nhiên đây vẫn là tín hiệu mừng và khả quan khi đặt trongđiều kiện kinh tế hiện nay (theo thống kê của WB cho thấytrong hơn 70 nước chỉ có 12 nước có tăng trưởng dương)
Trang 322.2.3 Tác động của thị trường cho vay đến thị
trường chứng khoán và nền kinh tế.
2.2.3.2.Tác động của thị trường tín dụng (mà ở đây là thị trường cho vay) đến lạm phát:
Về lí thuyết :
Tín dụng sẽ tác động đến lạm phát thông qua mức cung tiền trongnền kinh tế:
Khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt:
+ giảm khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại,
+ giảm mức cung tiền ra nền kinh tế
=> giảm mức giá cả chung của hàng hóa, kiểm chế được lạmphát
Tuy nhiên, sự tác động này luôn phải có độ trễ nhất định
Trang 33CPI năm 2008 và đầu 2009
2.2 3.9
1
2.1 4
1.1 3
1.5 6
0.1 8
Trang 342.2.3.2.Tác động của thị trường cho vay đến
Trang 353 Đánh giá chung và giải pháp cho thị
trường cho vay Việt Nam
Hạn chế của thị trường cho vay
Nam
3
Trang 363.1.Thành tựu của thị trường tín dụng việt
nam năm 2008
3.1.1.Về bản thân NHTM:
Năng lực tài chính của các ngân hàng được nâng cao Quy mô
vốn của các NHTM đã được tăng lên đáng kể:
+ Theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày22/11/2006 của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốnpháp định của các TCTD, các ngân hàng phải có vốn điều lệ
ít nhất là 1.000 tỷ VND và đến năm 2010 là 3.000 tỷ VND
+ Các NHTM Nhà nước tiếp tục tái cơ cấu: VCB đã cổ phầnhóa, hiện Chính phủ đã đồng ý cổ phần hóa VietinBank vàBIDV
Trang 373.1.1.Về bản thân NHTM:
Nhiều ngân hàng còn đẩy mạnh việc thực hiện cơ cấu lại tàichính như tăng vốn tự có, xử lý nợ xấu, cơ cấu lại tổ chức và hoạtđộng
Chủ động, tích cực triển khai đồng bộ nhóm giải pháp củaChính phủ về kiểm chế lạm phát, ổn đinh kinh tế vĩ mô, tăngtrưởng bền vững đâm bảo ASXH cũng như chống suy giảm kinhtế
Ngân hàng thương mại còn tiên phong trong thực thi chínhsách tiền tệ, duy trì thanh khuản gắn với an toàn hoạt động; gópphần định hướng LS huy động, cho vay và bình ổn tỷ giá; kiểmsoát chặt chẽ và hiệu quả tăng trưởng tín dụng; linh hoạt ứng phókịp thời với những biến động mạnh của môi trường kinh doanh
Trang 393.1.2.Về nghiệp vụ của các NHTM
Các ngân hàng rất chú trọng về lĩnh vực công nghệ, coi làphương tiện chủ lực để rút ngắn khoảng cách phát triển so vớingân hàng của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới
Hầu hết các NHTM đã đầu tư xây dựng hệ thống ngân hàng lõi(core banking), cho phép quản trị dữ liệu một cách tập trung tạiHội sở chính, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Một số ngân hàng như NHTM cổ phần Ngoại thương ViệtNam, NHTM cổ phần Hàng hải đã hoàn thiện giai đoạn 2 dự ánhiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán, cho phép khaithác tối đa những tiện ích công nghệ ngân hàng, đặc biệt là các kỹthuật quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế
3.1.Thành tựu của thị trường tín dụng việt
nam năm 2008
Trang 403.2 Hạn chế của thị trường cho vay
3.2.1 Những tồn tại chung của thị trường
Hệ thống tiền tệ và nền kinh tế chưa đảm bảo sức mạnh để đápứng mở rộng các loại hình tín dụng trong nước
Chính sách thị trường tín dụng chủ yếu là cho vay thế chấp,cầm cố tài sản => thói quen và cách đánh giá về khách hàngthiếu những nhận biết chính xác tính khả thi và độ an toàn khiđầu tư vốn
Cơ sở hạ tầng của tín dụng chưa đáp ứng được các quy chuẩntiên tiến để tham gia các phương thức hoạt động tín dụng bậccao
Mặt bằng kinh tế còn yếu, hệ thống ngân hàng trong nước vẫncòn non kém về công nghệ, nghiệp vụ, thông tin, đội ngũ cán
bộ công nhân viên trình độ chưa cao