Đề tài Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế xã hội Việt nam 1919 1929 A MỞ BÀI Cơ cấu kinh tế xã hội là nền tảng và cơ sở tồn tại của một qu[.]
Trang 1Đề tài: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế - xã hội Việt nam 1919- 1929
A MỞ BÀI
Cơ cấu kinh tế - xã hội là nền tảng và cơ sở tồn tại của một quốc gia trong các giai đoạn lịch sử đã qua Đối với Việt Nam, cơ cấu kinh tế - xã hội thời kỳ Pháp thuộc
là giai đoạn lịch sử có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó phản ánh đặc điểm cũng như tính chất của xã hội Việt Nam, một xã hội nữa thuộc địa nửa phong kiến dưới thời thực dân Pháp Nghiên cứu về cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp để thấy được những chuyển biến về kinh tế, đồng thời lý giải những tác động trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đến xã hội Việt Nam làm xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới, những con đường giải phóng dân tộc mang nhiều khuynh hướng khác nhau Qua đó đánh giá được sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản Pháp đối với xã hội Việt Nam với một cách nhìn khách quan nhất.
Bên cạnh đó, sự chuyển biến không ngừng của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay Để bắt kịp, hòa nhập vào nền kinh tế hiện đại của thế giới, đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần nghiên cứu về những chuyển biến của kinh tế – xã hội thời kỳ thuộc địa Từ đó, đưa ra những nhận xét, đánh giá nhằm phát huy những thanh tựu và khắc phục những hạn chế trong phát triển kinh tế cũng như xã hội trong sự nghiệp phát triển đất nước ngày nay
Trang 2B NỘI DUNG
I Bối cảnh lịch sử
I.1 Tình hình thế giới
Vào những năm cuối của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Cùng với sự phát triển đó nhu cầu về thị trường, nguyên liệu ngày càng tăng Điều đó đã dẫn tới các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân phương Tây đến các quốc gia phong kiến phương Đông.
Năm 1917, Cách mạng Tháng 10 Nga thành công đã đưa đến sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho phong trào cách mạng thế giới trong đó có Việt Nam.
Tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản III được thành lập, cùng với sự ra đời của hàng loạt các đảng cộng sản, Đảng Cộng sản Pháp 1920, Đảng Cộng sản Trung Quốc
1921 đã tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh cách mạng ở các nước thuộc địa của Pháp Điều này đã tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
I 2 Tình hình nước Pháp:
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp tuy là nước thắng trận song nền kinh
tế bị tàn phá nặng nề, thiệt hại hơn 200 tỉ Frang, hơn 1,4 triệu người thiệt mạng Cơ
sở hạ tầng về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải bị tàn phá nghiêm trọng, thương nghiệp bị đình trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Không chỉ thế đồng Frang bị mất giá, có thể nói rằng trước chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là chủ nợ của thế giới thì sau chiến tranh Pháp trở thành con nợ lớn nhất thế giới, nhất là nợ của Mỹ (năm 1920 nợ đến 300 tỉ Frang) Các vấn đề lạm phát gia tăng,
Trang 3tình trạng thất nghiệp, các phong trào đấu tranh chống chính phủ nổi dậy khắp nước Pháp
Để khắc phục tình trạng đó, đồng thời nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục nền kinh tế, chính quyền Pháp một mặt ra sức thúc đẩy sản xuất trong nước, mặt khác tìm cách tăng cường đầu tư khai thác các thuộc địa Các nước Đông Dương trở thành mục tiêu trong công cuộc khôi phục kinh tế của Pháp sau chiến tranh.
I.3 Tình hình ở Việt Nam:
Những năm đầu của thế kỷ XX với sự tác động mạnh mẽ của công cuộc xâm lược và chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế -xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến, đặc biệt là sự ra đời của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Mâu thuẫn xã hội Việt Nam bị đẩy lên cao làm cho xuất hiện hàng loạt các phong trào yêu nước chống Pháp theo nhiều xu hướng, và cũng chính yếu tố đó đã làm cản trở quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.
Như vậy trước những sự chuyển biến của tình hình thế giới cũng như tình hình nước Pháp và nội tại của Việt Nam Tình hình đó đã thôi thúc chính quyền Pháp điều chỉnh chính sách khai thác thuộc địa ở Việt Nam Nhằm nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế và khôi phục vị thế của Pháp trên trường quốc tế Với sự điều chỉnh chính sách khai thác thuộc địa của Pháp tiếp tục tác động dẫn đến sự chuyển biến kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn này.
II Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp
II 1 Chính sách về chính trị
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp tiến hành một số cải cách về chính trị nhằm đối phó với những biến động có thể xảy ra ở thuộc địa và hỗ trợ đắc lực cho chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai Mà mục tiêu của các cuộc cải cách “nhỏ giọt” đó không gì hơn ngoài việc nới rộng nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa.
Trang 4Việc thực hiện lần lượt các cải cách đó là những tên đứng đầu các viên toàn quyền Pháp từ A Xa rô, M Lông đến A, Varen Do đó các các viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ được thành lập, các phòng thương mại và canh nông của những thành phố lớn được mở rộng cho người Việt tham gia, lập các ngạch công chức tương đương cho người Pháp và người Việt có bằng cấp ngang nhau Mục tiêu của chúng thực hiện những cải cách đó không phải mong muốn đem lại điều kiện sống tốt hơn cho nhân dân ta mà chúng nhằm xoa dịu các cuộc đấu tranh, xoa dịu sự công phẫn của người Việt đối với chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương.
Ở khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành “cải lương hương chính” nhằm từng bước can thiệp trực tiếp vào công cuộc nội bộ của làng xã, loại bỏ dần tính chất tự trị của nó Trên nguyên tắc, công cuộc “cải lương hương chính” vẫn chấp nhận cơ chế quản lý làng xã cổ truyền, nhưng ở chừng mực nào đó thực dân Pháp cũng đã can thiệp trực tiếp vào công việc làng xã bằng cách kiểm soát nhân
sự, tài chính của bộ máy làng xã ở Việt Nam
Bên cạnh đó thực dân Pháp thực hiện nới rộng một số quyền lợi chính trị cho các tầng lớp trên như: địa chủ, tư sản,… những kẻ có hữu sản, giàu có, sẵn sàng thỏa hiệp với thực dân Pháp, nhằm tạo sự ổn định chính trị để thu hút vốn đầu tư vào Đông Dương nhằm thực hiện hiệu quả chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai
II 2 Chính sách về kinh tế
Về mục tiêu: giống như cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, vẫn theo đuổi ý
đồ nham hiểm, bòn rút thuộc địa để làm giàu cho chính quốc nhưng không tạo cho thuộc địa có cơ hội phát triển.
Điểm nổi bật của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp được tiến hành trên quy mô lớn so với trước chiến tranh Vị trí, các lĩnh vực đầu tư có sự thay đổi, nếu như trước chiến tranh Pháp chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực khai khoáng thì trong cuộc khai thác lần hai thì vị trí đó thuộc về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp được tư bản Pháp chú trọng đầu tư, đặc biệt là các đồn điền cao su.
Trang 5Trong thời điểm này nổi bật lên vai trò của ngân hàng Đông Dương trong hoạt động kinh tế cũng như sự đầu tư của tư bản Pháp ở Việt Nam Có thể nói ở giai đoạn này ngân hàng Đông Dương chi phối, can thiệp sâu vào lĩnh vực kinh tế cũng như xã hội ở Việt Nam và nắm vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ nền kinh tế thuộc địa về phát hành tiền, thương mại đầu tư,…Nếu như trước chiến tranh thực dân Pháp chủ yếu thực hiện chính sách khai thác, vơ vét các nguồn lợi kinh tế để xuất khẩu thì trong giai đoạn 1919-1929, Pháp đã chuyển dần sang chính sách đầu tư khai thác Đặc biệt là mở rộng đầu tư khai thác và thiết bị kỹ thuật
Sự thay đổi các chính sách về kinh tế trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp đã có tác động và ảnh hưởng quan trọng làm biến đổi cơ cấu và trình độ phát triển của các ngành kinh tế truyền thống ở Việt Nam
II 3 Chính sách về văn hóa - giáo dục
Về mặt văn hóa: cùng với những chính sách thay đổi trong giáo dục thì thực
dân Pháp thực hiện những chính sách về mặt văn hóa, sử dụng văn hóa như một thứ vũ khí để quảng bá cho tư tưởng “Pháp – Việt đuề huề”, “Pháp- Nam hợp tác”, tạo ra bầu không khí chính trị ổn định phục vụ có lợi cho sự thu hút vồn đầu tư vào Đông Dương Đồng thời chúng sử dụng báo chí làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền cho chính sách thống trị của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền quảng bá các quan niệm sống của phương Tây, du nhập lối sống xa hoa trụy lạc của chủ nghĩa tư bản vào thành thị, tuyên truyền đề cao văn hóa Pháp Ngoài ra Pháp còn cho in ấn , xuất bản các loại sách triết học, văn học phản động, thơ đồi trụy, gieo rắc tư tưởng
mị dân,…bên cạnh đó thực dân Pháp còn khuyến khích bọn phản động xuất bản các sách, báo phản động Còn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lôi kéo các tầng lớp trí thức trên Qua đó cho chúng ta thấy được những thủ đoạn vô cùng thâm độc của thực dân Pháp đối với thuộc địa mà tiêu biểu là Việt Nam.
Về mặt giáo dục: vào những năm đầu của thế kỷ XX, thực dân Pháp ra sức xây
dựng một nền giáo dục mới đồng thời tìm cách thủ tiêu vai trò của nền giáo dục cũ.
Trang 6Cho đến năm 1919 với việc bãi bỏ kỳ thi Hội, nền giáo dục Nho học hoàn toàn chấm dứt, qua đó thủ tiêu vai trò của các sĩ phu phong kiến Đặc biệt thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai do Albert Sarraut đã ra nghị định ban hành “Học chính tổng quy” để cải cách hệ thống giáo dục bản xứ Như vậy để thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 Thực dân pháp đã xóa bỏ vai trò của nền giáo dục Hán học ở Việt Nam thay vào đó, Pháp đưa ra một số chủ trương mới trong lĩnh vực giáo dục, thay đổi chương trình đào tạo tư tương giáo dục thực dân và mở hệ thống trường Pháp – Việt thay cho tư tưởng giáo dục cũ và hệ thống trường Hán học
III Những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam.
III.1 Lĩnh vực kinh tế
III.1.1 Đối với lĩnh vực kinh tế truyền thống
* Nông nghiệp:
Nông nghiệp là lĩnh vực được thực dân Pháp chú trọng đầu tư mạnh nhất trong công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai “năm 1924, số vốn đầu tư vào nông nghiệp là 52 triệu Frang, thì năm 1927 đã lên tới 400 triệu Frăng, chủ yếu vào khu vực trồng và khai thác cao su” 1 Với số vốn khổng lồ đó và được sự hẫu thuẫn đắc lực của chính sách cướp đoạt ruộng đất, hàng trăm đồn điền rộng tới vài nghìn ha đã xuất hiện Diện tích đất canh tác tăng lên đáng kể, cả về diện tích trồng lúa và đồn điền“nếu năm 1900, diện tích đồn điền mới là 322.000ha thì đến năm 1930, đã lên tới 1025.600 ha” 2 Đồng thời cơ cấu cây trồng có sự chuyển biến mạnh mẽ, có nhiều đổi mới và phong phú hơn, thực dân Pháp đã cho du nhập vào Việt Nam những giống cây trồng mới (lúa Thái Lan, giống cam, quýt Bắc Phi, khoai tây, các loại rau
ôn đới như su hào, bắp cải, cà rốt, hành tây, các loại cây công nghiệp lâu năm, ) tạo
ra sự đa dạng trong sản phẩm nông nghiệp Bên cạnh đổi mới các loại giống cây trồng thì nông cụ mới cũng bắt đầu xuất hiện như: cuốc, xẻng, xà beng phục vụ cho
1 Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, trang 247.
2 Nguyễn Văn Khánh (2006), Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945), Nxb Hà Nội, Đại
học quốc gia, trang 86
Trang 7việc khai phá đất ở các đồn điền Ngoài ra để phát triển nông nghiệp vì mục tiêu vơ vét kiếm lời thì Pháp thành lập các viện nghiên cứu nhằm hỗ trợ nghiên cứu và phát triển nông nghiệp (Viện khảo sát nông lâm Đông Dương, Túc mễ cục Đông Dương)
* Thủ công nghiệp:
Với chính sách khai thác thuộc địa trong chương trình hai của Pháp, cùng với
sự chuyển biến về nông nghiệp thì thủ công nghiệp cũng có nhiều chuyển biến đáng
kể và tiến bộ hơn Chính quyền Pháp đã có sự quan tâm hơn đối với các ngành thủ công truyền thống của nước ta Thợ thủ công được thành lập các hội đoàn thể bảo
vệ các quyền lợi riêng của mình Với nhu cầu ngày càng tăng, đặc biệt là sự mở rộng của các đô thị đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thủ công nghiệp truyền thống Ngoài các ngành thủ công truyền thống lâu đời, giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện thêm một số ngành nghề mới Các nghề thủ công tiêu biểu thời kỳ này có sức phát triển vượt trội như: nghề dệt, nghề gốm sứ, nghề chế biến thực phẩm cùng với sự gia tăng các nghề thủ công và đội ngủ thợ thủ công thì kỹ thuật và công
cụ sản xuất được cải tiến góp phần nâng cao năng suất lao động thúc đẩy sự ra đời của các xưởng thủ công có quy mô lớn
III.1.2 Lĩnh vực kinh tế hiện đại
* Về công nghiệp:
Vẫn được chú trọng đầu tư phát triển, Pháp thực hiện chính sách chung nhằm hạn chế sự phát triển của các ngành cạnh tranh với công nghiệp chính quốc, chủ yếu chú trọng đầu tư vào các ngành công nghiệp nhẹ, khai khoáng, công nghiệp chế biến Đặc biệt trong công nghiệp khai thác mỏ đầu tư các trang thiết máy móc và
mở rộng quy mô khai thác.
Có thể thấy rằng sau chương chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai, cơ cấu một nền công nghiệp được xác lập và hoàn chỉnh với hai bộ phận chính là công nghiệp mỏ và công nghiệp chế biến Các ngành công nghiệp nặng không được đầu
tư phát triển, tuy nhiên thì sự phát triển của các ngành công nghiệp trên cũng góp
Trang 8phần thúc đẩy sự phát triển của nền công nghiệp dân tộc Việt Nam, đưa nước ta sớm tiếp cận với nền khoa học – kỹ thuật của phương Tây
* Giao thông vận tải:
Nhìn chung, so với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất thì giai đoạn này vốn đầu tư vào ngành giao thông vận tải có giảm sút, chủ yếu hoàn thiện hệ thống đường sắt xuyên Việt, và mở thêm một số tuyến phụ từ Krongpha đi Đà Lạt dài 43km, từ Sài Gòn đi Lộc Ninh dài 59km Bên cạnh đó xây dựng hệ thống đường bộ liên tỉnh, huyện Đồng thời, hệ thống giao thông đường thủy nhất là xây dựng các cảng biển, cảng sông như: Hải Phòng, Hòn Gai – Cẩm Phả, cảng Bến Thủy, Đà Nẵng, phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa.
Điểm mới trong ngành giao thông vận tải ở giai đoạn này là chú trọng tăng cường cho ngành hàng không Sự xuất hiện hàng không đó là một bước tiến của ngành giao thông vận tải, góp phần mở rộng mạng lưới giao thông ở Việt Nam thời
kỳ này, tạo điều kiện cho nền kinh tế hàng hóa phát triển
* Về ngoại thương:
Do tác động của chính sách tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa nên các
hoạt động ngoại thương có chiều hướng tăng tiến khá mạnh Tuy nhiên, các công ty thương mại của tư bản Pháp và tư sản mại bản thuộc địa vẫn nắm giữ và ra sức củng cố địa vị độc quyền, cả ngoại thương lẫn nội thương Thực dân Pháp dùng hàng rào thuế quan để bảo hộ cho hàng hóa chính quốc, các nhà tư sản Việt Nam chỉ đóng vai trò thầu khoán, đóng vai trò trung gian trong thị trường Việt Nam Đặc trưng của nền thương mại thuộc địa được phản ánh rõ nét qua cơ cấu xuất – nhập khẩu; sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là mặt hàng nguyên liệu, nông sản phẩm (gạo, ngô và các sản phẩm ngư nghiệp; các sản phẩm khai mỏ) Nhập khẩu chủ yếu là những mặt hàng công nghiệp, kỹ thuật, những mặt hàng tiêu dùng cao cấp từ Pháp (ô tô, vải, xăng, dầu hòa, sợi bông, phân hóa học, giấy, sách, quần áo may sẵn, sữa, bột mì, đồ hộp…)
Trang 9Ngoài ra trong lĩnh vực thương nghiệp thời kỳ này, Pháp còn mở rộng quan
hệ buôn bán với các nước các nước châu Á: Trung Quốc và Hồng Kông, Nhật Bản và các nước phương Tây như Mỹ, Hà Lan, Đức,…
III.2.Về xã hội
Trên phương diện xã hội, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
hai, các giai cấp trong xã hội Việt Nam tiếp tục có những sự phân hóa sâu sắc
Giai cấp địa chủ: Đặc trưng của xã hội nửa thuộc địa nửa phong kiến là sự
cấu kết chặt chẽ giữa thực dân và giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ Trong thời kỳ này giai cấp địa chủ không những không bị thu hẹp, mà trái lại được phát triển mạnh để trở thành nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa Thế lực của giai cấp này được đo bằng số ruộng đất tập trung trong tay họ dưới sự che chở của thực dân Pháp.
Lực lượng địa chủ vào thời kì này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng nắm trong tay 50% diện tích canh tác Đến những năm trước Chiến tranh thế giới thứ hai, trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 6.500 địa chủ có sở hữu trên 50 ha ruộng đất, trong đó Nam Kỳ có 6.200, Bắc Kỳ có 200 và Trung Kỳ có 100 người Đó là những cơ sở tạo nên thế lực kinh tế, đồng thời là công cụ bóc lột của giai cấp này đối với nông dân Bên cạnh đó giai cấp này còn có thành phần đại biểu của mình ở các cấp chính quyền bên trên như các Viện Dân biểu, hội đồng quản hạt, rõ ràng giai cấp địa chủ trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của chính quyền thực dân
Giai cấp nông dân: là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội Việt Nam,
khoảng 90% dân số Trong quá trình sản xuất, dưới tác động công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp, giai cấp này đã có sự phân tầng rõ rệt: phú nông, trung nông, bần nông và cố nông Vào thời kỳ này, giai cấp nông dân tuy chiếm gần 90% số hộ nông dân, nhưng chỉ có trong tay 42,4% diện tích ruộng đất canh tác Vì thiếu ruộng đất canh tác nên đại đa số nông dân nghèo (bần nông và cố nông) phải lĩnh canh hay cấy rẽ (chủ yếu ở Bắc và Trung Kỳ), hoặc thuê mướn ruộng hay làm tá điền cho địa chủ để kiếm sống Lĩnh canh là hình thức mướn ruộng
Trang 10của địa chủ, tự mình cày cấy và sau khi thu hoạch phải nộp cho địa chủ một phần sản phẩm dưới dạng hiện vật hay quy ra tiền Ở nông thôn Bắc Kỳ và Trung Kỳ địa
tô thường chiếm từ 50% - 60% hoa lợi Còn hình thức mướn ruộng diễn ra phổ biến
ở Nam Kỳ, có hai cách: người mướn ruộng trả tiền thuê ngay cho chủ ruộng, hoặc trả địa tô bằng 1/2 hoa lợi vào vụ thu hoạch.
Giai cấp nông dân bị bóc lột và áp bức nặng nề nhất bởi thuế khóa và tạp dịch Cuộc sống bấp bênh, một trong số họ trở nên bần cùng hóa phải đi đến các hầm mỏ, xí nghiệp làm thuê và trở thành công nhân Chính vì thế họ sớm trở thành lực lượng liên kết với giai cấp công nhân đóng vai trò quan trọng trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc về sau
Giai cấp công nhân: ngày càng trở nên đông đảo, tăng nhanh cả về số lượng
và chất lượng Tính đến năm 1929 đã tăng lên 221.050 người, tăng gấp 4 lần so với đầu thế kỷ XX Ngoài ra, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư sản Việt Nam và tư sản nước ngoài ước tính khoảng vài vạn người Đồng thời, luôn luôn tồn tại đáng kể một số công nhân theo mùa vụ, hoặc theo các hợp đồng của các chủ thầu.
Trong giai cấp công nhân Việt Nam, bộ phận đông nhất là công nhân đồn điền: 81.188 người, chiếm 36,8% tổng số công nhân Lực lượng này phân bố chủ yếu
ở các vùng cao nguyên Nam Trung Kỳ và ở miền Tây Nam Kỳ Công nhân mỏ có 53.240 người, chiếm 24% tổng số công nhân, tập trung chủ yếu ở các vùng Quảng Yên, Đông Triều, Thái Nguyên Công nhân các ngành công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải và thương nghiệp gồm 86.622 người, chiếm 39,2% tổng số công nhân, tập trung ở các thành thị lớn như ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sài Gòn, Chợ Lớn.
Điều kiện sống và làm việc rất cực khổ, và chủ yếu xuất thân từ nông dân Chính vì thế họ sớm được giác ngộ ý thức giai cấp nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Giai cấp tư sản: Từ sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh của tư sản Việt
Nam được mở rộng và có quy mô lớn hơn Họ kinh doanh trong hầu hết các ngành kinh tế, từ xay xát, in ấn, dệt, nhuộm, vận tải, sửa chữa cơ khí cho đến sản xuất