ĐỀ TÀI ĐÔNG NAM Á VÀ QUÁ TRÌNH THỰC DÂN HÓA TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX A PHẦN MỞ ĐẦU Khu vực Đông Nam Á có vị trí chiến lược rất quan trọng, là nơi tiếp giáp giữa hai đại dương lớn của thế giới[.]
Trang 1ĐỀ TÀI: ĐÔNG NAM Á VÀ QUÁ TRÌNH THỰC DÂN HÓA TỪ THẾ KỈ XVI ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX.
Khu vực Đông Nam Á có vị trí chiến lược rất quan trọng, là nơi tiếp giáp giữa hai đại dương lớn của thế giới Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương Đông Nam Á nằm ngay trên tuyến đường hàng hải quan trọng từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam đã tạo thuận lợi cho khu vực này trong việc phát triển giao thương hàng hải với các nước trên thế giới Việc giao lưu buôn bán quốc tế càng trở nên dễ dàng hơn khi Đông Nam Á là giao điểm của các con đường giao thông quốc tế trên biển
Các quốc gia Đông Nam Á nằm trên dải khí hậu nhiệt đới gió mùa hết hợp với khí hậu biển đã tạo cho khu vực này có hệ sinh thái
vô cùng phong phú và xanh tốt những cánh rừng nhiệt đới – nơi ở của những loài động vật, thảo mộc quý hiếm Với điều kiện tự nhiện thuận lợi như vậy hết sức thuận lợi cho đời sống của con người và phát triển các loại cây công nghiệp, cây lương thực mang giá trị kinh
tế cao như: hồ tiêu, cà phê, hồi, trầm hương, cây lúa nước,… Chính
vì thế, Đông Nam Á có nguồn tài nguyên rất phong phú, đa dạng và
có trữ lượng lớn so với các khu vực khác trên thế giới
Bên cạnh đó, Đông Nam Á còn là nơi giao thoa giữa các nền văn hóa rực rỡ của nhân loại như nền văn minh Trung Hoa hàng nghìn năm và Ấn Độ - nơi những điều huyền bí chưa được giải mã Vì thế, đời sống văn hóa người dân ở khu vực này rất phong phú
Với vị trí địa lý chiến lược thuận lợi như vậy mà Đông Nam Á trở thành món mồi “béo bở” cho các ông lớn trên thế giới tranh giành, gia tăng sức ảnh hưởng của mình và bành trướng ra thế giới của các “ông lớn” phương Tây lúc bấy giờ
Trang 2Trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và thống trị, có thể nói lịch sử phát triển của các nước Đông Nam Á khá cao Nơi đây đã xuất hiện sớm những nền văn minh ở trình độ cao, tuy nhiên, sự phát triển của những quốc gia ở Đông Nam Á không đồng nhất Ở thời Trung đại, chế độ phong kiến đạt tới đỉnh cao cực thịnh, rực
rỡ cũng không thua kém gì phương Tây, quan hệ sản xuất kinh tế mới cũng đã manh nha nhưng đã bị chế độ phong kiến kìm hãm, mầm mống kinh tế Ttư bản chủ nghĩa không có điều kiện phát triển như ở phương Tây Khi chế độ phong kiến đạt đến trình
độ phát triển cao đã dần dần chuyển sang giai đoạn suy yếu Đến thế kỷ XVI, trong khi các nước phương Tây đang phát triển nhanh chóng với sự xuất hiện của một nền kinh tế mới – tư bản chủ nghĩa thì ở Đông Nam Á còn chìm đắm trong chế độ phong kiến lạc hậu.Tuy vậy, cùng với sự áp đặt của chủ nghĩa thực dân ở khu vực này, thì tiền đồ phát triển lịch sử của Đông Nam Á cũng từng bước có những thay đổi
Các cuộc phát kiến địa lý thời cận đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó đã mở ra một trang mới trong lịch sử của loài người Sau các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại, người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã khai mở thành công con đường từ châu Âu qua châu Phi đến châu Á vào cuối thế kỷ thứ XV Nhiều vùng đất mới trên thế giới được người châu Âu phát hiện trong đó có Đông Nam Á, một trong những vùng đất màu mỡ của châu Á, rất phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Đây là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược thuộc địa Cùng với sự phát triển của CNTB, nhu cầu thị trường cấp thiết, đây là nơi chủ yếu để cung cấp nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ
Các nước phương Tây lần lượt xây dựng các thương điếm buôn bán, những trạm tiếp
tế cho các hạm thuyền ở một số địa điểm của Đông Nam Á Bước sang thế kỉ XIX, các nước thực dân phương Tây tranh chấp nhau, xâm chiếm các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, thiết lập chế độ thuộc địa hoặc lôi kéo các quốc gia này vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, làm biến dạng cấu trúc xã hội truyền thống của các nước, điều đó cũng có nghĩa làm biến dạng quá trình phát triển triển lịch sử của Đông Nam Á
II PHẦN NỘI DUNG
Trang 3II.1 Qúa trình thực dân hoá và chính sách cai trị của chính quyền thực dân ở Đông Nam Á
II.1.1 .Qúa trình xâm chiếm các quốc gia Đông Nam Á của của nghĩa thực dân Phương Tây
Sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước phương Tây lần lượt xây dựng các thương điếm buôn bán, những trạm tiếp tế cho các hạm thuyền ở một số địa điểm của Đông Nam Á Tiếp đó các nước thực dân phương Tây tranh chấp nhau, chiếm các quốc gia ở khu vực, thiết lập chế độ thuộc địa, lôi kéo các quốc gia này vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, làm biến dạng cấu trúc xã hội truyền thống của các nước, điều đó cũng có nghĩa làm biến dạng quá trình phát triển triển lịch sử của Đông Nam
Á Nước duy nhất ở khu vực Đông Nam Á- nước Xiêm còn giữ được độc lập về chính trị, nhưng về kinh tế cũng bị lôi cuốn vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, bản đồ chính trị của các nước Đông Nam Á dần dần có sự thay đổi: từ các quốc gia phong kiến độc lập trở thành những nước thuộc địa hoặc phụ thuộc của thực dân châu Âu Khi các nước phương Tây bước vào thời kỳ cận đại, chủ nghĩa tư bản ra đời và thống trị, thì ở phương Đông, các quốc gia còn đang ở trong chế độ phong kiến lạc hậu, trì trệ Ở khu vực Đông Nam Á, sau thời kỳ phát triển thịnh đạt của chế độ phong kiến, bước sang thế kỷ XVI chế độ phong kiến lâm vào suy yếu Đây chính là điều kiện thuận lợi cho các cuộc xâm nhập và xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây
Vào thời cận đại, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập ở nhiều nước Châu Âu, mặc dù có những nước chưa trải qua cách mạng tư sản Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản Châu Âu ngày càng đòi hỏi vốn, nguyên liệu, thị trường, nhất là khi giai cấp tư sản lên nắm chính quyền Để đáp ứng nhu cầu này, các nước Châu Âu đã hướng sang phương Đông và họ tìm đường sang phương Đông, trong đó
có các nước Đông Nam Á và đi đầu là các nhà truyền giáo, thương nhân Từ những hoạt động buôn bán, trao đổi, truyền đạo (Thiên chúa giáo và tin lành) người phương Tây chuyển sang chính sách xâm lược, biến các nước phương Đông nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng thành thuộc địa Trong buổi đầu cận đại, khi chủ nghĩa tư
Trang 4bản phát triển chưa phát triển cao, thì công cuộc buôn bán và chinh phục các quốc gia phương Đông thường được giao cho các công ty thương mại lớn mà thường được gọi
là công ty Ấn Độ Các công ty này thực hiện chính sách “vừa buôn bán, vừa ăn cướp”.
Nó được xem như là một “nhà nước con”với bộ máy chính quyền và quân đội đầy đủ Với vị trí chiến lược quan trọng cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Đông Nam Á sớm trở thành một trong những đối tượng xâm lược quan trọng của thực dân Bồ Đào Nha, sau đó là các cường quốc thực dân Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh
và Pháp…kỷ nguyên của chủ nghĩa thực dân được bắt đầu vào một phần tư đầu tiên của thế kỷ XVI Sau khi thiết lập được các thương điếm, các căn cứ ở dải ven biển phía Tây châu Phi và cùng với quá trình xâm chiếm châu Mĩ, người Bồ Đào Nha sau
đó là người Tây Ban Nha bắt đầu quá trình xâm lược châu Á Đông Nam Á trở thành một trong những vùng đất đầu tiên mà thực dân phương Tây quan tâm và tiến hành xâm lược
Bồ Đào Nha là cường quốc châu Âu đầu tiên có mặt ở châu Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á và tiến hành xây dựng đế quốc thuộc địa của mình Sau khi chiếm được vùng Goa ( phía Bắc Calicut- Ấn Độ), năm 1509, người Bồ Đào Nha toan tính mở rộng thế lực sang Đông Nam Á, liền phái hạm thuyền đến Achê (Acheh) Nhận thấy eo biển Malacca có vị trí quan trọng thông thương từ Tây sang Đông, thuận lợi cho việc đi sâu vào khu vực Đông Nam Á, người Bồ Đào Nha mưu toan chiếm con đường qua eo biển này Năm 1511, đoàn tàu chiến Bồ Đào Nha đã chiếm thủ đô của vương quốc Hồi giáo Malacca (Inđônêxia) Malacca thuộc Bồ Đào Nha từng bước trở nên thịnh vượng, việc buôn bán của nó tiếp tục được mở rộng và thu được những khoản lợi nhuận lớn Malacca chẳng những là một trung tâm thương nghiệp sầm uất, mà nó còn trở thành căn cứ cửa ngõ đi vào Đông Nam Á thuận lợi Năm 1512, người Bồ Đào Nha tiến bước xa hơn, họ chiếm đảo Ambon ở Môlucu- quần đảo thương hiệu lớn nhất miền Đông Nam Inđônêxia Năm 1592, họ chiếm và xây dựng pháo đài ở Técnate, và họ có mặt ở các đảo Luxông, Palavan…Ở các đảo và các quốc gia khác, người Bồ Đào Nha chưa chiếm được thì họ buộc tạm thời đặt các thương điếm như ở Giava, Sumatra, Xiêm, Miến điện, thậm chí ở Campuchia và Việt Nam
Trang 5Tiếp sau người Bồ Đào Nha là người Tây Ban Nha Năm 1521, khi con tàu Victoria của Magienlăng (Magellan) cập bến ở một trong những đảo mà ông phát hiện nằm trong khu vực lợi ích của Bồ Đào Nha, thì đã báo hiệu một cuộc tranh chấp giữa người Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha ở khu vực Đông Nam Á Bởi theo sự giàn xếp của Giáo Hoàng La Mã thì đây là “khu vườn riêng” của người Bồ Đào Nha Năm
1529 mộ hiệp ước được ký kết giữa người Tây Ban Nha và người Bồ Đào Nha, trong
đó người Tây Ban Nha đã đồng ý ngừng các cuộc thám hiểm của họ các Môlucu 170
về phía đông Tuy nhiên người Tây Ban Nha vẫn đến được quần đảo mà sau đó họ đặt tên là Philipin và thành lập thuộc địa của mình ở Manila vào năm 1570, tiếp đó mở rộng ra toàn quần đảo Sau người Tây Ban Nha là người Hà Lan, Anh, Pháp cũng tìm cách xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á Có thể nói trong giai đoạn đầu của thế kỷ XVI, những cuộc xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây mới chỉ là kiến lập được những tiền đề lịch sử của hệ thống thực dân tương lai, đặt cơ sở cơ cấu hành chính và kinh tế
Suốt trong quá trình xâm nhập và xâm lược từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, chủ
nghĩa thực dân lần lượt thôn tính được các nước Đông Nam Á Malacca là nạn nhân
đầu tiên bị thực dân Hà Lan xâm chiếm, mở đầu cho quá trình chinh phục Đông Nam
Á của thực dân châu Âu Tiếp theo là Inđônêxia đã rơi vào tay Hà Lan người Hà Lan
nhanh chóng gạt bỏ vai trò của người Bồ Đào Nha ở khu vực này Cũng trong thời gian này người Tây Ban Nha bằng cuộc thám hiểm táo bạo đã phát hiện ra quần đảo
Philipin và đến năm 1565 căn bản chinh phục được quần đảo này Ở bán đảo Đông Dương, sau những cuộc chinh thám từ thế kỷ trước, đến giữa thế kỷ XIX, khi thời cơ
đã chín muồi, thực dân Pháp nổ súng xâm lược bán đảo này, bắt đầu từ Việt Nam Từ Nam 1858, tiếng súng xâm lược của Pháp đã vang lên tại cửa biển Đà Nẵng (Việt Nam) và liên tục cho đến tận cuối thế kỷ XIX ở bán đảo Đông Dương Sau 35 năm tiến hành xâm lược Việt Nam, Campuchia và Lào, cuộc xâm lược của Pháp kết thúc vào năm 1893 với Hiệp ước Pháp- Xiêm về việc Xiêm nhượng hoàn toàn cho Pháp nước Lào- vốn trước đó dưới ảnh hưởng của chính quyền BăngKốc Ở phía Tây Đông Dương thực dân Anh ra sức chạy đua với Pháp chinh phục miền này Năm 1686,
Trang 6không thuyết phục được vương triều Miến Điện công nhận quyền đô hộ của mình,
Anh đã đánh chiếm đảo Nêgra ở phía Tây châu thổ sông Iraoađi và thực hiện mưu đồ xâm chiếm toàn bộ Miến Điện Sau ba cuộc chiến tranh xâm lược (1824-1826, 1852
và 1885) toàn bộ Miến Điện đã trở thành một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh Mã Lai
(Malaixia) bị các nước thục dân nhòm ngó từ sớm và cuối cùng trở thành “đất thực dân eo biển” của Anh Từ nửa sau thế kỷ XIX, Anh đánh chiếm các tiểu vương quốc nằm sâu trong nội địa bán đảo Mã Lai và bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, đến đầu thế
kỷ XX, Anh hoàn toàn thôn tính được Mà Lai với các chế độ chính trị khác nhau
Xingapo và Brunây từng bước trở thành thuộc địa của Anh Tuy nhiên Anh chiếm
được vùng này không phải dễ dàng, mà họ phải đấu tranh quyết liệt với thực dân khác
như Bồ Đào Nha, Hà Lan và cả Pháp Xiêm (nay là Thái Lan) do vị trí “nước đệm”
giữa hai vùng thuộc địa của Anh và Pháp, cùng với sự duy tân đất nước của các triều đại Rama IV, Rama V vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nên giữ được độc lập về chính trị mặc dù vẫn phải ký kết với Anh, Pháp và các nước Âu- Mĩ khác nhiều hiệp ước bất bình đẳng
Nhìn chung, thời điểm các nước Đông Nam Á trở thành thuộc địa của thực dân phương Tây khác nhau, quá trình chinh phục và xâm lược của thực dân phương Tây trải qua 1 thời gian khá dài , không thể nhanh như họ mong muốn được, bởi do cuộc kháng cự của các dân tộc nơi đây Có những nơi, thực dân phải trải qua cuộc chinh phục kéo dài trên dưới 3 thế kỷ mới hoàn thành như ở Inđônêxia hay Miến Điện… Song có những khu vực chưa đầy nửa thế kỷ như cuộc chinh phục của Pháp ở Đông Dương Rõ ràng quá trình xâm lược diễn ra không đồng đều và phức tạp
Đông Nam Á là nơi có nhiều thực dân xâm lược nhất, bởi đây là khu vực hấp dẫn, có tài nguyên thiên nhiên phong phú, vị trí địa lí thuận lợi, khu vực địa- chính trị; địa- kinh tế quan trọng, dân số đông đảo… Đông Nam Á trở thành nơi có sức hút các nước châu Âu đang bước vào thời cận đại hoá
Công cuộc xâm lược của thực dân Đông Nam Á có nét chung, đủ phương thức,
đủ thủ đoạn như ngoại giao, buôn bán, khống chế chính trị, rồi dùng vũ lực thôn tín;
nhưng cũng có nét riêng mang đặc trưng của từng nước thực dân: Thủ đoạn xâm lược
Trang 7của Anh khác của Pháp Để tiến hành xâm lược Pháp lợi dụng Giáo sĩ Giáo sĩ và
bọn thực dân gắn với nhau như hình vơid bóng Giáo sĩ trở thành tham mưu, cố vấn
có khi trực tiếp chỉ huy những cuộc chém giết Bọn Giáo sĩ và thực dân bị những người dân Đông Nam Á chống lại Chúng vịn cớ tôn giáo bị đàn áp để đẩy mạnh hoạt động quân sự, khi cắm được cơ sở trong giáo dân bản xứ, chúng lại lấy cớ bảo vệ
giáo hội để lấn bước, bắt ký hiệp ước bảo vệ giáo hội Với Anh, phương cách tiến
hành xâm lược theo kiểu “thương nhân đi đầu trong quá trình xâm lược” Để làm chủ được vùng lãnh thổ trù phú ở Đông Nam Á, thực dân Anh xâm lược bằng nhiều con đường theo sơ đồ: lập thương điếm chiếm các thuộc địa (của thực dân khác) chinh phục các tiểu quốc sát nhập thành các vùng thuộc địa.
Buổi đầu tiến hành xâm lược Đông Nam Á, các chính phủ thực dân châu Âu thường sử dụng các công ty buôn bán đi tiên phong Sự làm ăn phát đạt của các công
ty này khiến chính phủ châu Âu chú ý, sau đó trao cho họ những quyền hạn lớn, tổ chức lại công ty theo mô hình nhà nước con, có đầy đủ quyền lực như một chính phủ
Họ thay mặt chính phủ đến phương Đông, Đông Nam Á tiến hành xâm lược và tổ chức thống trị Các công ty thương mại của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh,
Pháp Những năm đầu thế kỷ XVII (các công ty của Anh, Pháp, Hà Lan được tổ chức lại thành những công ty Ấn Độ: công ty Ấn Độ của Anh (1600) Hà Lan (1602), của Pháp (1664)) Tiến hành xâm lược và thống trị các vùng lãnh thổ Đông Nam Á từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XVII Từ thế kỷ XIX trở đi, các công ty này suy yếu, không còn đáp ứng được yêu cầu của chủ nghĩa tư bản đang phát triển, thì chúng bị loại bỏ, các chính phủ châu Âu này trực tiếp nắm lấy quyền xâm lược và thống trị ở Đông Nam Á Như vậy, công cuộc thôn tính Đông Nam Á của thực dân Âu- Mĩ kéo dài trong gần 4 thế kỷ Kể từ khi đặt thương điếm đầu tiên vào đầu thế kỷ XVI, sau đó là các cuộc xâm chiếm bằng nhiều thủ đoạn, lúc mềm mỏng, lúc lừa bịp, khi cứng rắn trắng trợn, thực dân châu Âu và tiếp đến là cả Mĩ, đến cuối thế kỷ XIX công cuộc xâm lược Đông Nam Á hoàn tất các quốc gia phong kiến Đông Nam Á hoặc tiền phong kiến, còn ở trình độ bộ tộc chưa bao giờ có giao lưu với thế giới bên ngoài đã bị thực dân châu Âu
Trang 8từng bước biến thành miền đất thuộc địa Và cũng từ đây, cuộc đấu tranh chống thực dân không lúc nào ngừng ở Đông Nam Á
1.2.2 Chính sách cai trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân
Mặc dù hình thức thống trị của chủ nghĩa thực dân ở thuộc địa không giống nhau, tính chất thuộc địa ở mỗi nước có nét khác nhau, nhưng điểm chung của các nước đế quốc trong nhìn nhận thuộc địa là hậu phương, là nơi bóc lột đưa về cho họ những nguồn lợi nhuận to lớn Thuộc địa trở thành ttiêu chuẩn đánh giá thực dân mạnh hay yếu Vì vậy, ngay sau khi chiếm và biến Đông Nam Á thành thuộc địa của mình, các nước thực dân tiến hành chính sách cai trị và bóc lột dã man các dân tộc trong khu vực Trước hết các nước thực dân phương Tây biến các nước Đông Nam Á thành thị trường tiêu thụ hàng hoá, thành nơi sản xuất nguyên liệu và là nơi đầu tư căn
cứ chiến lược của họ
* Về kinh tế: Đặc điểm chung của chính sách kinh tế thuộc đại thực dân ở Đông Nam
Á là khai thác, vơ vét và bòn rút các quốc gia trong khu vực bằng chính sách thuế khoá vô nhân đạo đánh vào các tầng lớp nhân dân bản địa, cướp ruộng đất lập đồn điền, bóc lột sức người, khai thác tài nguyên; khai thác triệt để sản phẩm nông nghiệp, đầu tư để bóc lột lâu dài trong công nghiệp; xuất khẩu những hàng hoá công nghiệp ế thừa vào khu vực để thu lợi nhuận cao, nhập cvào chính quốc những nguyên liệu, nhiên liệu với giá rẻ mạt, tiến hành đầu tư tư bản mang lại siêu lợi nhuận…Việc chiếm đoạt ruộng đất lập đồn điển trồng cao su, cà phê, chè , gạo … là chính sách chung của thực dân châu Âu
Ở Việt Nam, năm 1900, thực dân Pháp chiếm đoạt 301 000 ha ruộng đất trong nước,
đến năm 1912, số ruộng đất của nông dân bị chiếm đoạt lên tới 470 000 ha…
Ở Lào, từ 1923 đến 1924, thực dân Pháp chiếm nhiều đất đai để lập các đồn điền đầu
tiên ở Hạ Lào Những đồn điền lớn tập trung ở Păcxoong, Bôlôven…Chính quyền
thực dân Hà Lan ở Inđônêxia thì đề ra “chính sách ruộng đất”, chính sách này nhằm
nâng cao sức sản xuất, mở rộng thị trường khai thác nguyên liệu phục vụ cho thực
dân Ngoài ra, các thuộc địa của Pháp ở Đông Dương phải đóng hàng loạt các loại
Trang 9thuế, thuế ruộng, thuế thân (từ 18 tuổi trở lên đến 60 tuổi đều phải đóng thuế thân),
thuế muối, thuế rượu…
Bên cạnh thuế khoá nặng nề, người dân Đông Nam Á thuộc địa còn phải chịu thêm
chế độ phu phen, tạp dịch hà khắc.
* Về chính trị: thể chế các nước tuy có khác nhau, nhưng nét chungđều có cơ cấu của
chính quyền thực dân, do chính phủ ở chính quốc khống chế Các mặt hành chính lập pháp , tư pháp, ngoại giao quân sự…đều tập trung vào tay viên thông đốc, tổng đốc hoặc một viên quan với chức danh cao cấp do chính quốc cử sang thuộc địa
Hình thức cai trị của bọn thực dân là gián tiếp hoặc trực tiếp Cai trị gián tiếp là bọn thực dân thường người của mình sang các nước thuộc địa với những tên gọi khác nhau như “công sư, cố vấn”…Anh áp dụng chế độ cai trị gián tiếp ở một phần quần đảo Mã Lai và Bắc Kalimantan…
Ở các khu vực khác của Đông Nam Á, các nước thực dân áp dụng chế độ cai trị trực tiếp với hệ thống các quan chức thực dân được sắp đặt từ trung ương đến hàng tỉnh theo sơ đồ: Trung ương -> vùng -> tỉnh Đứng đầu thuộc địa thường là các viên toàn quyền, sau đó là các viên thống đốc, thống sứ, khâm sứ, tổng uỷ chính phủ hoặc tổng đốc và tiếp đó là các quan cai trị thực dân hàng tỉnh Khi thống trị các nước Đông Nam Á, thực dân châu Âu biết rằng, họ không thể nào nắm chính quyền trực tiếp tới tận huyện, phủ, xã; họ cũng không thể trực tiếp đi bắt phu, bắt lính hay thu thuế… Do
đó chính quyền thực dân vẫn duy trì ở thuộc địa chính quyền phong kiến bù nhìn, sử dụng giai cấp phong kiến, địa chủ, thân hào địa phương làm chỗ dựa
Tháng 10- 1887, Pháp chia Việt Nam thành 3kỳ (Bắc kỳ- xứ bảo hộ; Trung kỳ là xứ
tự trị; Nam kỳ là xứ thuộc địa), chúng thi hành chính sách “chia để trị” chia nhỏ để rễ
bề cai trị
Campuchia Pháp nắm toàn bộ quyền thống trị chính trị, chính quyền Nôrôđôm không còn thực quyền mà đã trở thành bộ máy phong kiến phục vụ cho công cuộc cai trị và bóc lột của Pháp
Sau khi chiếm được toàn bộ Lào, tháng 10/ 1893, thực dân Pháp lập tức xúc tiến xây dựng bộ máy cai trị đồng bộ với Việt Nam và Campuchia, biến Lào thành một phận
Trang 10của xứ Đông Dương thuộc Pháp, trong quá trình cai trị, sau công ty Đông Ấn độ và
Hà Lan giải thể, thì quốc vương Hà Lan đã trực tiếp phái tổng đốc đến cai trị và duy trì chế độ lãnh chúa phong kiến ở địa phương để phục vụ cho công cuộc bóc lột
Miến điện được coi là một tỉnh của Ấn Độ với bộ máy cai trị, thống nhất đứng đầu là viên toàn quyền, nhưng các tiểu quốc San, Karen lại vẫn “được hưởng” chế độ gián tiếp Bên cạnh việc xây dựng và củng cố các bộ máy thống trị thuộc địa ở Đông Nam
Á, thực dân châu Âu đều thực hiện chính sách chia đê trị, chia rẽ dân tộc tôn giáo, gây thù hằn giữa các dòng họ, các địa phương tập quán, truyền thống có từ lâu đời trong lịch sử, để hướng mâu thuẫn và đấu tranh sang một đối tượng giả tạo do chủ nghĩa thực dân dựng lên
Các chính quyền thực dân kết hợp hài hoà giữa “hợp để trị” với chính sách “chia để trị” trong việc cai trị ở thuộc địa Chính sách của Pháp từ chỗ lập “Liên Bang Đông Dương” chuyển sang “Khối liên hiệp Pháp” nước Anh thì tiến hành “cải cách hành chính” tại thuộc địa của họ sách Những điều chỉnh chính sách cai trị trên đều là sự
“nhượng bộ” trước phong trào đấu tranh của Đông Nam Á
* Về mặt văn hoá: chính sách “ngu dân” và đầu độc người dân thuộc địa bằng rượu và
thuốc phiện Thực hiện chính sách ngu dân để dễ bề cai trị, chính quyền thuộc địa đã
kìm hãm người dân bản xứ trong vòng ngu dốt Ví dụ ở Mãlai, năm 1931 có 8,5%
người dân biết chữ Ở Việt Nam năm 1926, chỉ có 6% trẻ em đến độ tuổi đi học được đến trường Ở Campuchia nền giáo dục cũng rất bi đát, năm 1936 cứ 300người dân mới có 5 người được đi học
Ở Inđônêxia, khi thực dân Hà Lan thực hiện “chính sách đạo đức”, thì một phần ngân
sách được cấp cho giáo dục; năm 1940 trong tổng số 600 triệu dân thì có khoảng
88000 người được đến trường
Song song với chính sách “ngu dân”, các chính quyền thực dân Đông Nam Á còn thực
hiện chính sách đầu độc văn hoá đối với cư dân, chính quyền thực dân duy trì tư
tưởng lạc hậu, bảo thủ, tín ngưỡng, tôn giáo,mê tín nhằm ru ngủ người dân thuộc địa Đặc biệt chính quyền thực dân ru ngủ người dân bằng rượu cồn và thuốc phiện Để