Untitled 1 TỔNG CỤC DÂN SỐ KHHGĐ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG TÀI LIỆU DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN (Tài liệu dung cho các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Dân số Kế hoạch hóa gia đình đạt chuẩn viên chức dân số) HÀ N[.]
Trang 1TỔNG CỤC DÂN SỐ - KHHGĐ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
TÀI LIỆU DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
( Tài liệu dung cho các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ
D ân số-Kế hoạch hóa gia đình đạt chuẩn viên chức dân số)
HÀ NỘI, THÁNG 4 NĂM 2015
Trang 2MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… … 5
LỜI GIỚI THIỆU……… 6
LỜI NÓI ĐẦU……… 7
BÀI 1: NHẬP MÔN “DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN”……… 8
I K hái niệm cơ bản………
1.1 Dân cư ………
1.2 Dân số ………
1.3 Phát triển ………
1.4 Phát triển bền vững………
1.5 Những nội dung cơ bản trong Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển năm 1994, tại Cai-rô (Ai cập)………
1.6 Hệ thống thước đo phát triển………
II Đối tượng nghiên cứu của môn học………
8 8 8 9 9 10 11 12 III Nội dung và phương pháp nghiên cứu………
3.1 Nội dung nghiên cứu ………
3.2 Phương pháp nghiên cứu………
IV Ý nghĩa thực tiễn của môn học………
Câu hỏi thực hành Bài 1………
Câu hỏi lượng giá Bài 1………
BÀI 2: DÂN SỐ VÀ KINH TẾ………
15 15 16 16 17 17 19 I Những quan điểm cơ bản về tác động của dân số đến kinh tế… 1.1 Quan điểm bi quan………
1.2 Quan điểm lạc quan………
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam………
19 19 19 19 II Mối quan hệ giữa Dân số, lao động và việc làm
2.1 Khung lý thuyết về mối quan hệ dân số - lao động và việc làm………
2.2 Quan hệ dân số - lao động và việc làm ở Việt Nam…………
III Gia tăng dân số và phát triển kinh tế………
3.1 Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế………
3.2 Gia tăng dân số và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế………
3.3 Ảnh hưởng của dân số đến tiêu dùng và tích luỹ………
20 20 24 25 25 26 26 3.4 Dân số và kinh tế cấp hộ gia đình 27
Trang 3IV T ác động của kinh tế đến dân số ………
V Cơ hội “ cơ cấu dân số vàng” ở Việt Nam ………
5.1 Tỷ số phụ thuộc và “cơ cấu dân số vàng”………
5.2 Kinh nghiệm tận dụng cơ hội “cơ cấu dân số vàng”…………
VI Giải quyết mối quan hệ giữa dân số và kinh tế ………
6.1 Duy trì mức sinh thấp một cách hợp lý………
6.2 Tận dụng “cơ cấu dân số vàng”, nâng cao chất lượng dân số và lao động ………
6.3 Sử dụng kinh tế như đòn bẩy thực hiện chính sách dân số……
Câu hỏi thực hành Bài 2……… ……
Câu hỏi lượng giá Bài 2………
BÀI 3: DÂN SỐ VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI ………
I D ân số và giáo dục………
1.1 Khái niệm………
1.2 Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục ………
1.3 Ảnh hưởng của giáo dục đến dân số………
II Dân số và y tế ………
2.1 Khái niệm………
2.2 Tác động của dân số đối với hệ thống y tế………
2.3 Tác động của y tế đối với dân số………
III D ân số và bình đẳng giới………
3.1 Các khái niệm giới, giới tính và bình đẳng giới………
3.2 Mối quan hệ giữa dân số với bình đẳng giới ………
IV D ân số và an sinh xã hội………
4.1 Nhu cầu an sinh xã hội cho số phụ nữ sinh đẻ hàng năm……
4.2 Nhu cầu an sinh xã hội cho những người thực hiện biện pháp KHHGĐ………
4.3 Bảo hiểm y tế miễn phí………
4.4 Bảo hiểm thất nghiệp………
4.5 Bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi………
Câu hỏi thực hành Bài 3……… ……
Câu hỏi lượng giá Bài 3………
BÀI 4: DÂN SỐ VÀ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG…………
I Các khái niệm………
1.1 Khái niệm tài nguyên………
1.2 Cạn kiệt tài nguyên………
1.3 Khái niệm về môi trường………
30
31
31
32
32
32
32
33
33
33
36
36
36
37
39
40
40
40
41
42
42
43
44
44
45
45
45
46
46
47
49
49
49
50
50
Trang 41.4 Ô nhiễm môi trường………
II D ân số và tài nguyên………
2.1 Tác động của dân số đến tài nguyên………
2.2 Thực trạng dân số và tài nguyên ở Việt Nam………
III D ân số và môi trường
3.1 Tác động của dân số đến môi trường
3.2 Ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe con người ……
3.3 Giải pháp để giải quyết mối quan hệ Dân số - Môi trường……
Câu hỏi thực hành Bài 4………
Câu hỏi lượng giá Bài 4………
BÀI 5: LỒNG GHÉP BIẾN DÂN SỐ VÀO KẾ HOẠCH HOÁ PHÁT TRIỂN………
I Một số khái niệm………
1.1 Khái niệm kế hoạch hóa………
1.2 Hệ thống tổ chức và cấp độ lập kế hoạch………
1.3 Quy trình kế hoạch hóa ………
1.4 Khái niệm lồng ghép ………
II P hương pháp lồng ghép biến dân số vào quá trình kế hoạch hóa phát triển ……… ……
2.1 Các thành phần lồng ghép………
2.2 Phương pháp lồng ghép………
III L ợi ích và điều kiện lồng ghép biến dân số vào kế hoạch hóa phát triển ………
3.1 Lợi ích………
3.2 Điều kiện lồng ghép ………
Câu hỏi thực hành Bài 5 ………
Câu hỏi lượng giá Bài 5………
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ………
PHỤ LỤC: Đáp án các câu hỏi lượng giá………
51
51
51
52
54
54
54
57
58
58
60
60
60
60
62
62
64
64
64
67
67
68
69
69
72
73
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
BPTT Biện pháp tránh thai
DAC Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển
DS-SKSS Dân số - Sức khỏe sinh sản
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GDPT Giáo dục phổ thong
IEC Thông tin, giáo dục và truyền thống
KHH Kế hoạch hoá
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
HDI Chỉ số phát triển con người
HIV Virus gây suy giảm miễn dịch ở người
Trang 6
LỜI GIỚI THIỆU
(Lãnh đạo Tổng cục viết chung cho cả bộ tài liệu)
******
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
"Dân số và Phát triển" là môn học mới ở nước ta Vào những năm đầu thập
niên 90 của thế kỷ 20, tài liệu về môn học này đã được biên soạn cho sinh viên các Trường đại học và học viên các khóa bồi dưỡng cán bộ ngành DS-KHHGĐ Nội dung của môn học rất phong phú Đó là sự phân tích mối quan hệ nhân - quả giữa dân số với kinh tế, dân số với xã hội, dân số với môi trường cả ở cấp độ toàn cầu, mỗi quốc gia cho đến các địa phương và cấp độ gia đình Điều này cũng cho thấy
vị trí quan trọng của công tác DS-KHHGĐ đối với chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình, mỗi địa phương và toàn xã hội
Trong “Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ DS-KHHGĐ đạt chuẩn viên chức dân số”, môn học Dân số và Phát triển được dành thời lượng 16 tiết, bao gồm 8
tiết lý thuyết và 8 tiết thực hành thảo luận, làm bài tập trên lớp Vì vậy, chúng tôi lựa chọn những nội dung quan trọng nhất và những kiến thức cơ bản nhất để giới thiệu trong Tài liệu này Cụ thể là Bài 1: Nhập môn "Dân số và Phát triển" giới thiệu các khái niệm cơ bản cũng như đối tượng, nội dung, phương pháp và tác dụng của môn học Các Bài 2; 3 và 4 sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa Dân số và các thành tố của quá trình phát triển, như: Kinh tế, xã hội, môi trường Bài 5:“Lồng ghép các biến dân số vào kế hoạch hoá phát triển”, nói về “đích” của môn học, tức
là vận dụng kiến thức các chương trước vào quản lý phát triển
Mặc dù đã biên soạn cô đọng nhưng với số tiết giảng và thực hành trên lớp có hạn nên để học tập đạt kết quả tốt, học viên cần tự nghiên cứu kỹ tài liệu này, đọc thêm các tài liệu, sưu tầm các bài báo liên quan đến từng chủ đề kết hợp với quan sát và phân tích thực tế tác động của dân số đến kinh tế, xã hội, môi trường và tác động ngược lại, diễn ra tại chính địa phương
Trang 8Mối quan hệ Dân số và Phát triển thể hiện trong nhiều lĩnh vực ở cả tầm vi
mô và vĩ mô nhưng thời gian xây dựng và giảng dạy môn học này chưa nhiều Vì vậy, tài liệu không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà quản lý, các giảng viên và anh chị em học viên để Tài liệu ngày càng hoàn thiện Mọi ý kiến xin gửi về Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Tổng cục DS-KHHGĐ, số 8 Tôn Thất Thuyết, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội
Hà Nội, tháng 5-2015
TÁC GIẢ GS.TS Nguyễn Đình Cử
BÀI 1
NH ẬP MÔN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN
(Th ời lượng: 01 tiết lý thuyết)
A M ỤC TIÊU:
1.Trình bày được các khái niệm về: Dân số phát triển và phát triển bền vững
2 Hiểu đúng đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
3 Nắm được ý nghĩa của môn học
B N ỘI DUNG
Bất kỳ bộ môn khoa học nào cũng phải trả lời được các câu hỏi, như: Nghiên cứu cái gì? Nghiên cứu trên những phương diện nào? Việc nghiên cứu phải đạt được những yêu cầu nào? Nghiên cứu bằng cách nào? và nghiên cứu để làm gì? Tức là xác định rõ ràng đối tượng, nội dung, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của môn học Đối với "Dân số và Phát triển" - một môn học mới ở Việt Nam, việc trả lời những câu hỏi trên, lại càng cần thiết Bài này sẽ bắt đầu từ những khái niệm, sau đó luận giải sự
tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa dân số và phát triển như là đối tượng nghiên cứu và
sau đó, xác định nội dung, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của môn học
I KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 D ân cư
Một hiện tượng đặc sắc trên trái đất là có loài người sinh sống Tập hợp những
con người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó Lãnh
thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ Trái Đất Chẳng hạn: Dân cư Hà Nội, dân cư Việt Nam, dân cư châu Phi Dân cư của một vùng lãnh thổ
Trang 9là khách th ể nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học, như: Lịch sử, Văn hóa, Y
học, Kinh tế học, Ngôn ngữ học, Mỗi khoa học nghiên cứu một mặt, một khía cạnh nào
đó của khách thể này, tức là xác định được đối tượng nghiên cứu riêng của mình
1.2 Dân s ố
Khi nghiên cứu một dân cư nào đó thì thông tin cần thiết, thường được tìm hiểu
đầu tiên là qui mô của nó, tức là tổng số người hay là tổng số dân Ở đây, mỗi con
người, không phân biệt già, trẻ, nam, nữ đều là một đơn vị để thống kê, tính toán Tuy tất cả thành viên của một cư dân nào đó đều có điểm chung là cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng họ thường khác nhau về giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân
Vì vậy, sẽ hiểu biết chi tiết hơn về một dân cư nếu phân chia tổng số dân thành nhóm nam và nhóm nữ hoặc các nhóm khác nhau về độ tuổi, tức là nghiên cứu cơ cấu của dân
cư theo giới tính, độ tuổi… Do lịch sử hình thành và điều kiện sinh sống khác nhau nên con người cư trú trên các vùng lãnh thổ cũng rất khác nhau, theo nghĩa: nơi thì nhiều và đông đúc, chỗ lại ít và thưa thớt Sự phân chia tổng số dân theo từng địa phương, từng vùng gọi là phân bố dân số theo lãnh thổ Qui mô, cơ cấu dân số trên một lãnh thổ không
ng ừng biến động do có người được sinh ra, có người bị chết, có người di cư đến và có
người di cư đi, hoặc đơn giản chỉ là theo năm tháng, bất cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi
này sang nhóm tuổi khác
Dân số là dân cư được xem xét trên các khía cạnh: Qui mô, cơ cấu, phân bố và những thành tố gây nên sự biến động của chúng như: Sinh, chết, di cư Do đó, dân số thường được nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh (tại một thời điểm), trạng thái động (trong một thời kỳ)
Cần phân biệt các khái niệm “Dân cư” và “Dân số” Nội hàm của khái niệm “Dân cư” không chỉ bao gồm số người, cơ cấu (theo độ tuổi và giới tính chẳng hạn) mà còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ, thời trang, ẩm thực, tức
là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm “Dân số”
1.3 Phát triển
Phát triển thường được quan niệm là “sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bền vững môi trường” Đối với các nước nghèo thì “phát triển” được hiểu cụ thể hơn, liên quan đến việc đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người Phát triển là quá trình đạt được mức thoả mãn các nhu cầu cơ bản, như: Dinh dưỡng, giáo dục Tiểu học, sức khoẻ,
vệ sinh, nước sạch và nhà ở
Trang 10Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển là “quá trình giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và bất bình đẳng”
1.4 P hát triển bền vững
Ngày nay, nói đến phát triển, người ta thường chú ý đến tầm nhìn dài hạn, nhấn mạnh tính bền vững của phát triển Xuất phát từ góc độ bảo vệ môi trường, năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển đã nêu khái niệm "phát triển bền vững" Đó là "kiểu phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại vừa không ảnh hưởng đến khả năng
mà các thế hệ tương lai đáp ứng những nhu cầu của mình" Nghĩa là hàng tỷ người trên trái đất dù làm gì cũng phải lưu ý là để lại cho con cháu chúng ta sau này môi trường trong lành
để sống và còn tài nguyên để sử dụng Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu một
cách toàn diện:“Phát triển bền vững bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là
phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, gìn giữ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh” 1 Ngoài mục tiêu An ninh-Quốc phòng, mối quan hệ qua lại giữa 3 nhóm mục tiêu lớn của phát triển bền vững có thể mô tả bằng Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1 1: Các nhóm mục tiêu phát triển bền vững
1.5 Những nội dung cơ bản trong Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế
về Dân số và Phát triển năm 1994, tại Cai-rô (Ai cập)
Năm 1994, Liên Hợp Quốc tổ chức Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo, Ai Cập Chính phủ Việt Nam đã tham dự Hội nghị và ký kết “Chương trình hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển” Chương trình này đề cập đến những nội dung cơ bản sau:
Cải thiện xã hội
M ục tiêu môi trường
Cải thiện chất lượng MT Bảo vệ MT,TNTN
Trang 11(1) Dân số, tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
(2) Công bằng giới, bình đẳng và quyền năng cho phụ nữ
(3) Gia đình, vai trò, quyền lợi, thành phần và cấu trúc
(4) Gia tăng dân số và cơ cấu dân số
(5) Quyền sinh sản và sức khỏe sinh sản
(6) Sức khỏe, bệnh tật và tử vong
(7) Phân bố dân số, đô thị hóa và di cư trong nước
(8) Di cư quốc tế
(9) Dân số, phát triển và giáo dục
(10) Công nghệ, nghiên cứu và phát triển
1.6 Hệ thống thước đo phát triển
Liên hợp quốc và nhiều nước đã xây dựng hệ thống thước đo phát triển Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000 đã nêu 8 mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Đó là: (1) Triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn; (2) Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học; (3) Nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ; (4) Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em; (5) Cải thiện sức khỏe bà mẹ; (6) Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác; (7) Đảm bảo sự bền vững của
môi trường; (8) Tăng cường quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển
Năm 2001, Hội đồng phát triển bền vững của Liên hợp quốc đã đưa ra hệ thống 58 chỉ tiêu chia thành 15 chủ đề chính (trong đó có dân số),38 chủ đề nhánh
Ở Việt Nam hệ thống thước đo phát triển đã được xây dựng và không ngừng cải tiến Theo Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam, giai đoạn 2011-2020, có 30 chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững ở nước ta, bao gồm chỉ tiêu tổng hợp, chỉ tiêu kinh tế, chỉ tiêu xã hội, chỉ tiêu về tài nguyên và môi trường
Ngoài việc sử dụng cả một bộ, với hàng chục, thậm chí là hàng trăm chỉ tiêu để đo lường trình độ phát triển, từ năm 1990 Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đã đưa
ra và không ngừng hoàn thiện chỉ số tổng hợp: Chỉ số phát triển con người (Human
Development Index - HDI) Chỉ số này được tổng hợp từ các chỉ tiêu phản ảnh thành tựu
về sức khỏe, giáo dục và mức sống Việc chọn chỉ tiêu nào để phản ảnh các thành tựu này
và tổng hợp chúng như thế nào tạo nên các phương pháp tính HDI khác nhau (Phụ lục 1)
Liên hợp quốc đã tính HDI cho các nước và dựa vào đó để sắp xếp trình độ phát triển con người của các quốc gia trên thế giới từ 1990 Theo đó, các nước được chia thành các nhóm, như sau:
Nhóm 1: Các nước phát triển rất cao, nếu có HDI từ 0,8 đến 1,0
Nhóm 2: Các nước phát triển cao, nếu có HDI từ 0,7 đến dưới 0,8
Trang 12 Nhóm 3: Các nước phát triển trung bình, nếu có HDI từ 0,5 đến dưới 0,7
Nhóm 4: Các nước phát triển thấp nếu có HDI dưới 0,5
Nhóm 2 và nhóm 3 cũng được gọi là các nước đang phát triển HDI của Việt Nam, gần đây tăng nhanh, thứ bậc phát triển được cải thiện và hiện được xếp vào nhóm nước có trình độ phát triển trung bình (xem Bảng 1.1)
Bảng 1.12: HDI của Việt Nam, tính theo phương pháp mới (năm 2010)
Số năm đi học bình quân
Số năm đi học kỳ vọng
Thu nhập quốc dân bình quân
II ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC
Khoa học nào ra đời cũng xuất phát từ thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra Rõ ràng, sản xuất ra vật chất là hoạt động bao trùm, quyết định sự tồn tại
và phát triển của xã hội loài người Hoạt động này xoay quanh 2 trục: sản xuất ra đồ vật (tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng) và sản xuất ra chính bản thân con người Hai dòng
sản xuất vật chất này tuy khác hẳn nhau về mọi mặt nhưng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau với các biểu hiện sau đây:
- Nếu không có dòng sản xuất này thì cũng không có dòng sản xuất kia
- Tồn tại dòng sản xuất ra đồ vật là do con người và vì con người Do đó, sản xuất cái gì, với khối lượng bao nhiêu, đương nhiên là phụ thuộc vào số dân và nhu cầu của họ, mà nhu cầu này thay đổi phụ thuộc một phần vào độ tuổi và giới tính Hay nói khác đi: Quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng phụ thuộc khá chặt chẽ vào quy mô, cơ cấu dân số
Trang 13- Ngược lại, lịch sử cho thấy tái sản xuất, dân số (quá trình tạo nên sự biến đổi quy mô và cấu trúc tuổi - giới tính) phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ phát triển của khu vực sản xuất vật chất, đặc biệt là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Nền sản xuất dựa trên những công cụ thủ công sẽ đòi hỏi số lượng lao động nhiều hơn là chất lượng lao động, điều này sẽ dẫn đến việc sinh nhiều con Tình hình hoàn toàn ngược lại đối với nền sản xuất dựa trên cơ sở điện khí hoá và tự động hoá
Nhưng tái sản xuất ra con người không chỉ phụ thuộc tương hỗ với khu vực sản xuất
đồ vật - hoạt động cốt lõi của nền kinh tế Ở tầm rộng lớn hơn, nó liên quan tới tất cả các yếu tố khác của quá trình phát triển: Những tiến bộ về mặt xã hội trong đó có hệ thống y
tế, trình độ giáo dục, sự bình đẳng nam nữ và sự bền vững về môi trường Thật vậy, kết hôn, hạn chế sinh đẻ, lựa chọn sinh con trai hay con gái, chống lại bệnh tật và cái chết, đều là hoạt động có ý thức, cần đến tri thức và là những hoạt động riêng có của loài người
Vì vậy, bình đẳng nam nữ, giáo dục, khoa học, (tức là các yếu tố của phát triển) càng cao, tri thức con người sẽ càng rộng, ý thức con người càng trở nên hợp lý, càng có tác động đến các quá trình dân số nói trên
Đối với mỗi cá nhân thì các đặc trưng dân số: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, số con và các yếu tố phát triển: văn hoá, nghề nghiệp, thu nhập, nhóm xã hội cùng tồn tại trong một con người, trong một cơ sở vật chất chung nên chúng có mối liên
hệ trực tiếp, chặt chẽ
Lịch sử cũng chứng minh rằng, ở những bậc thang phát triển khác nhau thì tình trạng dân số cũng khác hẳn nhau Chẳng hạn, số liệu thống kê ở các nước “đã phát triển”
và “đang phát triển” cho thấy:
(i) Mức sinh ở hai nhóm nước này có sự khác biệt rất lớn
Từ năm 1950 cho đến nay, số con trung bình của một phụ nữ ở các nước “đang phát triển” bao giờ cũng nhiều gấp hơn hai lần ở những nước “đã phát triển”
(ii) Tình trạng chết của trẻ em
Năm 2010, ở các nước “đã phát triển”, bình quân cứ 1000 trẻ được sinh ra thì có 6 trẻ
bị chết dưới 1 tuổi Trong khi đó, ở các nước “đang phát triển”, con số này là 81, tức là nhiều hơn gần 14 lần!
(iii) Qui mô dân số ở các nước “đang phát triển” lớn hơn và tăng nhanh hơn nhiều
so với các nước “đã phát triển”
Năm 1950, các nước “đã phát triển” có 831,9 triệu dân, đến năm 1999 có 1.181 triệu, tức là tăng lên 1,42 lần.Trong khi đó, cũng khoảng thời gian này, số dân ở các nước “đang phát triển” đã tăng từ 1.638,8 triệu dân lên 4.800 triệu, tức là tăng lên tới 2,91 lần
(iv) Tỷ lệ trẻ em dưới 14 tuổi trong tổng dân số ở các nước “đang phát triển” cũng cao hơn nhiều so với các nước “đã phát triển”
Trang 14Do mức sinh ở các nước đang phát triển cao nên tỷ lệ trẻ em ở các nước này cao
và thường gấp đôi ở các nước đã phát triển, (Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Tỷ lệ nhóm dân số (0-14) tuổi trên thế giới, giai đoạn (1950-2050)
Nguồn: Đặng Nguyên Anh, Xã hội học Dân số, NXB Khoa học Xã hội Hà nội, 2007
(v) Ngược lại, tỷ lệ người già (65 tuổi trở lên) trong tổng dân số ở các nước “đang phát triển”, cũng năm 2010, lại thấp hơn nhiều so với các nước “đã phát triển”: 6% so với 16%
Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy dân số đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nhân loại Nếu trái đất mới có vài ngàn người thì sẽ không có bức tranh phát triển như ngày nay Nhờ số dân đạt đến một quy mô đáng kể mới có thể phân công lao động, chuyên môn hoá, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy xã hội phát triển Tuy nhiên, khi dân số hiện đạt tới hơn 7 tỷ người và tiếp tục gia tăng đã đặt ra những vấn đề nghiêm trọng đe doạ quá trình phát triển, đặc biệt ở những nước nghèo Như vậy, cả lý luận và thực tế đều chứng tỏ tồn tại mối quan hệ hai chiều, chuyển hoá nhân quả giữa dân số và phát triển Có thể biểu diễn mối quan hệ này qua Sơ đồ 1.2 sau:
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ tác động dân số và phát triển
Trang 15Để đơn giản, chúng ta có thể phân chia Dân số thành: Quá trình dân số (Hộp 1), Kết quả dân số (Hộp 2) và Phát triển KT-XH thành: Quá trình phát triển (Hộp 3), Kết quả phát triển (Hộp 4);
(1) Quá trình dân số: đề cập đến việc sinh sản, tử vong và di cư Sự tương tác của các
yếu tố này tác động đến Kết quả dân số
(2) K ết quả dân số: Là các kết quả của bất cứ sự thay đổi nào trong quá trình dân số,
về quy mô, cơ cấu theo tuổi - giới tính và sự phân bố theo không gian địa lý (như nông thôn, thành thị, vùng cao, vùng ven biển ) Kết quả dân số này lại tác động đến Quá trình phát triển và môi trường
(3) Quá trình phát tri ển: Có thể bao gồm việc tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ như lương
thực, sức khỏe, giáo dục, nhà ở; tới thái độ đối với việc tiết kiệm và đầu tư, mô hình chi tiêu công cộng; sử dụng nguồn nhân lực và nguồn lực tự nhiên Quá trình này lại tác động đến kết quả phát triển
(4) K ết quả phát triển: Là mục đích và mục tiêu được tuyên bố trong kế hoạch Chúng
có thể là mức độ thu nhập hay phân phối thu nhập; mức độ về việc làm, giáo dục, sức khỏe và trạng thái dinh dưỡng, chất lượng và số lượng môi trường Kết quả này lại tác động đến quá trình dân số
Sử dụng sơ đồ khung này để nhìn nhận kết quả phát triển ảnh hưởng như thế nào đến quá trình dân số Ngược lại, kết quả của quá trình dân số tác động như thế nào đến quá trình phát triển Điều đó cũng có nghĩa là bất cứ một chính sách phát triển nào cũng ảnh hưởng đến toàn bộ các yếu tố còn lại trong sơ đồ và ngược lại, khi một Chính sách
K ết quả Dân số (2)
Quy mô dân số
Cơ cấu dân số
Phân bố dân cư
Trang 16dân số được áp dụng tác động đến quá trình dân số cũng sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố khác của sơ đồ
Từ những bằng chứng và phân tích trên rõ ràng tồn tại mối quan hệ chặt chẽ hai
chiều giữa một bên là dân số và bên kia là sự phát triển Đó chính là đối tượng nghiên
cứu của môn học
III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu
Sơ đồ 1.2 mô tả mối quan hệ Dân số và Phát triển và tạo nên “khung” về nội dung nghiên cứu của Tài liệu này Vì phát triển bao gồm các thành tố kinh tế, xã hội, môi trường nên để nghiên cứu chi tiết Dân số và Phát triển, tài liệu này sẽ lần lượt trình bày các quan hệ sau:
(1) Dân số và Kinh tế Quan hệ này sẽ được nghiên cứu cả ở cấp độ vĩ mô và cấp độ
vi mô
(2) Dân số và Xã hội Các vấn đề xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực Do khuôn khổ có hạn, Tài liệu này chỉ chọn lọc trình bày quan hệ giữa Dân số với các lĩnh vực chủ yếu nhất, như: Y tế, giáo dục, bình đẳng giới và an sinh xã hội
(3) Dân số và Tài nguyên, Môi trường Thế giới đang chứng kiến nguồn tài nguyên thiên nhiên dần cạn kiệt và môi trường sống bị ô nhiễm Vai trò của dân số đối với tình trạng này như thế nào? Và ngược lại, tài nguyên cạn kiệt và môi trường suy thoái sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với các quá trình sinh, tử di dân? Đây là một trong những nội dung cần thiết nghiên cứu trong “Tài liệu Dân số và Phát triển”, nhất là trong thời đại biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao
Việc nghiên cứu mối quan hệ Dân số và Phát triển là để tính đến quan hệ này trong
kế hoạch hóa phát triển, nhằm nâng cao tính hợp lý, tính hiệu quả của các kế hoạch Vì vậy, nội dung cuối cùng mà Tài liệu này trình bày là lý luận về lồng ghép các biến dân
số vào kế hoạch hóa phát triển ở các cấp độ, từ kế hoạch của các ngành, các lĩnh vực đến các dự án phát triển nói chung
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở phương pháp luận của môn học “Dân số và Phát triển” Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng là các sự vật, sự việc của
tự nhiên, xã hội có mối liên hệ phổ biến và vận động, phát triển không ngừng Vận dụng
sáng tạo và quán triệt sâu sắc phép duy vật biện chứng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa
"dân số" và "sự phát triển" là yêu cầu không thể thiếu được của môn học này
Như đã trình bày, đối tượng nghiên cứu của môn học này là mối quan hệ giữa “dân số”
và “phát triển”, bao hàm những nội dung hết sức rộng rãi, đến mức trên thực tế khó có thể khảo sát, phân tích toàn bộ mối quan hệ dân số và phát triển trong một cuộc nghiên cứu mà
Trang 17chỉ có thể lựa chọn nghiên cứu quan hệ giữa một số chỉ tiêu dân số với một số yếu tố của phát triển mà thôi Chẳng hạn, nghiên cứu mối quan hệ giữa số con của phụ nữ (một chỉ
tiêu dân số) với trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập của họ (các yếu tố của phát triển, thậm chí chỉ một trong các yếu tố đó mà thôi)
Sau khi đã xác định được mối quan hệ của các chỉ tiêu cần nghiên cứu, phải thu thập
và xử lý các thông tin về các chỉ tiêu đó Trong nghiên cứu thu thập và xử lý thông tin thường sử dụng rộng rãi các phương pháp thống kê, phương pháp xã hội học và cả
phương pháp toán học
IV Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA MÔN HỌC
Cũng như nhiệm vụ của mọi khoa học là tìm ra quy luật của tự nhiên và xã hội, môn học có nhiệm vụ phát hiện, biểu diễn, phân tích, dự báo các quan hệ giữa Dân số và Phát triển, tìm ra qui luật hoặc tính qui luật của các quan hệ này
Chẳng hạn, nhờ nghiên cứu mối quan hệ giữa trình độ phát triển, thông qua chỉ số HDI và chỉ tiêu về dân số, chẳng hạn các chỉ tiêu về mức sinh, mức chết chúng ta phát hiện ra tính quy luật là trình độ phát triển càng cao, mức sinh, mức chết mức sinh, mức chết càng thấp, tức là quan hệ nghịch biến Chính nhờ vậy, các quá trình dân số không những đo lường được mà còn có khả năng giải thích được Do đó, môn học cung cấp cơ
sở lý luận trong việc dự báo và hoạch định chính sách dân số Nó đòi hỏi chính sách dân
số phải dựa trên cơ sở phân tích kỹ khung cảnh và trình độ phát triển kinh tế -xã hội, điều kiện môi trường tự nhiên, tránh chủ quan duy ý chí Một khung cảnh xã hội kém phát triển, không thể đề ra các mục tiêu và giải pháp như trong một khung cảnh kinh tế, xã hội phát triển cao
Mặt khác, “Dân số và Phát triển” còn là cơ sở cho các chính sách phát triển Mục tiêu cao nhất của xă hội loài người là phát triển Để phát triển nhanh, cần có các điều kiện như khoa học - kỹ thuật, tài nguyên, nguồn nhân lực chất lượng cao Đồng thời, từ những tác động to lớn của dân số đến phát triển, các quốc gia đã nhận thức ra rằng cần phải điều chỉnh để có một trạng thái dân số hợp lý, nói khác đi không thể phát triển nhanh và bền vững nếu không giải quyết các vấn đề dân số
C CÂU H ỎI ÔN TẬP VÀ THỰC HÀNH
1 Hãy trình bày tình hình dân số ở địa phương của Anh (Chị)
2 Hãy mô tả tình hình kinh tế - xã hội và dân số ở khu vực nông thôn và khu vực đô thị (thị trấn, thị xã, thành phố) thuộc địa phương Anh (Chị) Anh (Chị) Từ đó gợi cho Anh (Chị) suy nghĩ gì về mối quan hệ Dân số và Phát triển?
Trang 183 Hãy mô tả đặc điểm dân số của những gia đình nghèo và những gia đình giàu ở địa phương mà Anh (Chị) biết Từ đó có thể gợi nên suy nghĩ gì về giải pháp cho việc xoá đói, giảm nghèo?
D LƯỢNG GIÁ
Câu 1: Chọn và xếp cụm từ dưới đây vào cột DÂN CƯ hoặc DÂN SỐ ở bảng 1:
(1) Quy mô, (2) Thời trang, (3) Mức sinh, (4) Ẩm thực, (5) Mức chết, (6) Dân ca,(7)
Cơ cấu, (8) Phong tục, (9) Di cư, (10) Tục ngữ, (11) Phân bố, (12) Nghệ thuật, (13) Ngôn ngữ, (14) Ca dao, (15) Phương tiện giao thông
Bảng 1: Các cụm từ liên quan đến dân cư và dân số
Câu 2:Hãy sưu tầm ít nhất 5 định nghĩa khác nhau về phát triển Tìm ra điểm chung
của các định nghĩa này
Câu 3: Môn học “Dân số và phát triển” nghiên cứu cái gì?
Khoanh tròn vào phương án đánh giá câu trả lời:
Số 1: Câu trả lời đúng - Số 2: Đúng nhưng chưa đủ - Số 3: Câu trả lời sai
CÂU TRẢ LỜI
1 Tác động của mức sinh đến kinh tế 1 – 2 - 3
2 Tác động của kinh tế đến giáo dục 1 – 2 - 3
3 Tác động của giáo dục đến mức sinh 1 – 2 - 3
4 Tác động của cơ cấu dân số đến y tế 1 – 2 - 3
5 Tác động của y tế đến giáo dục 1 – 2 - 3
6 Tác động của giáo dục đến mức chết 1 – 2 - 3
7 Tác động của mức chết đến phân bố dân số 1 – 2 - 3
8 Tác động của phân bố dân số đến kinh tế 1– 2 - 3
9 Tác động 2 chiều giữa dân số và phát triển 1- 2 - 3
10.Tác động của kinh tế đến xã hội 1 - 2 - 3
Trang 19
BÀI 2 DÂN S Ố VÀ KINH TẾ
(Thời lượng: 02 tiết lý thuyết, 01 tiết thực hành)
A M ỤC TIÊU:
1.Trình bày được mối quan hệ giữa dân số và lao động, giữa dân số và việc làm
2.Phân tích được mối quan hệ gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số
và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
3.Phân tích được tác động của chính sách dân số đến phát triển kinh tế
B N ỘI DUNG
Dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng Bởi vậy, quy mô, cơ cấu, phân bố dân số có ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ của xã hội.Ngược lại, kinh tế cũng tác động mạnh mẽ đến các quá trình sinh, chết
và di cư Bài này sẽ trình bày về mối quan hệ hai chiều giữa dân số và kinh tế
I NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN KINH TẾ
Trang 20Tác động của dân số đến kinh tế được nhìn nhận với những quan điểm hết sức khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược nhau Có thể nêu các quan điểm điển hình sau đây:
1.1 Quan điểm bi quan
Năm 1798, Thomas Robert Malthus (1766 -1834) giáo sư kinh tế, người Anh đã công bố tác phẩm "Tiểu luận về nguyên tắc của dân số" Theo ông, dân số tăng theo cấp
số nhân: 1; 2; 4; 8; 16; 32 , thời gian cần thiết để tăng gấp đôi dân số khoảng 25 đến
30 năm Trong khi đó, lương thực chỉ tăng theo cấp số cộng: 1; 2; 3; 4; 5; 6; Như vậy, khoảng cách giữa cung và cầu về lương thực cứ doãng rộng dần Đây chính là nguyên nhân của nghèo đói
1.2 Quan điểm lạc quan
Julian Lincoln Simon (1932 - 1998) là giáo sư về quản trị kinh doanh của Trường đại học Maryland (Hoa Kỳ) Trái ngược với Malthus, ông cho rằng: Dân số có tác động tích cực đến kinh tế bởi những lẽ sau đây: Quy mô dân số tăng lên kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, thị trường mở rộng thúc đẩy sản xuất phát triển Sản xuất với quy
mô lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn Mặt khác, có nhiều người sẽ làm tăng kiến thức thông qua học hỏi và cạnh tranh Hơn nữa, sức ép của nhu cầu sẽ thúc đẩy khoa học, kỹ thuật phát triển Tất cả những yếu tố trên sẽ làm sản lượng bình quân đầu người tăng lên Nghĩa là sản lượng tăng nhanh hơn dân số, chứ không phải chậm hơn theo mô hình Malthus Cuộc cách mạng xanh là một ví dụ
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Quan điểm số 1 của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII), tháng 1 năm 1993 chỉ rõ: "Công tác Dân số - Kế
hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu ở nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội"
Rõ ràng là tồn tại mối quan hệ tương hỗ giữa dân số và kinh tế Nhưng mối quan hệ này không đơn giản một chiều Trong điều kiện này thì dân số tăng lên là có lợi về kinh
tế Ở điều kiện khác thì điều đó chưa chắc đã xảy ra, thậm chí là bất lợi Do đó, phân tích tình huống, quan điểm cụ thể cần được áp dụng khi phân tích tác động của dân số đến kinh tế trong những trường hợp cụ thể Vì vậy, dưới đây chủ yếu sẽ trình bày về
"những con đường" mà dân số tác động đến kinh tế ở cả hai tầm: vĩ mô và vi mô, tức là
ở cấp độ toàn bộ nền kinh tế quốc dân và cấp độ hộ gia đình, hơn là trả lời trực tiếp tác động đó là tích cực hay tiêu cực
II MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ, LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
2.1 Khung lý thuy ết về mối quan hệ dân số - lao động và việc làm
Quan hệ dân số - lao động và việc làm hay quan hệ dân số - cung và cầu lao động được mô tả bởi khung lý thuyết thể hiện qua sơ đồ 2.1, sau:
Sơ đồ 2.1: Quan hệ dân số, lao động, việc làm
Trang 21Trước hết phân tích những yếu tố xác định cung lao động trong sơ đồ 2.1
2.1 1 Cung lao động
Tình trạng dân số ảnh hưởng tới cung lao động thông qua "Dân số trong độ tuổi lao động" và "Dân số hoạt động kinh tế" hay “Dân số tham gia lực lượng lao động"
(1) Dân số trong độ tuổi lao động
Để có thể sống và phát triển, con người phải sử dụng nhiều tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và dịch vụ do con người lao động tạo ra Vì vậy, khi nghiên cứu cơ cấu dân số, dưới góc độ kinh tế, trước hết người ta chú ý đến nhóm dân số có khả năng lao động Khả năng này lại “gắn chặt” với từng nhóm tuổi và giới tính Căn cứ vào quy định của Pháp luật, đối với nam giới có thể tính tỷ lệ các nhóm tuổi (0-14); (15- 59) và nhóm 60 tuổi
trở lên Tỷ lệ (phần trăm) dân số nam từ 15 đến 59 tuổi được ký hiệu là f15-59và được xác định như sau:
P15-59
f15-59 = - x 100
P Trong đó, P: tổng số dân nam; P15-59: số dân nam từ 15 đến 59 tuổi
Các chính sách
Các yếu tố phát triển
Các yếu tố
dân số
Quy mô, cơ cấu, phân bố
giáo dục, đào tạo
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo giới và tuổi
Cung về lao động:
Quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố Cầu về lao động:
Quy mô, cơ cấu và phân bố
Quan hệ việc làm và tiền công
Mức độ, mô hình đầu tư theo ngành
và theo lãnh thổ/Lựa chọn công nghệ
Trang 22Tương tự, tính tỷ lệ nhóm tuổi (0-14) và nhóm 60 tuổi trở lên Bảng 2.1 cho thấy tỷ lệ
dân số nam trong độ tuổi lao động ở nước ta tăng lên không ngừng
Bảng 2.1: Biến động cơ cấu dân số nam theo tuổi lao động, Việt Nam
Ngu ồn: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1979, 1989, 1999, 2009
Tương tự, Bảng 2.2 cho thấy biến động cơ cấu dân số nữ theo tuổi lao động
Bảng 2.2: Biến động cơ cấu dân số nữ theo tuổi lao động của Việt Nam
Ngu ồn: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1979, 1989, 1999, 2009
Như vậy, sau 30 năm, ở nước ta, cùng với xu hướng giảm sinh và tuổi thọ nâng cao,
tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh Dân số tăng, tỷ lệ dân số trong độ tuổi
lao động (cả nam và nữ) tăng nhanh Do vậy, số dân trong độ tuổi lao động tăng mạnh,
tăng nhanh hơn dân số
(2) Dân số hoạt động kinh tế và Dân số không hoạt động kinh tế
Trên thực tế, không phải tất cả những người “trong độ tuổi lao động” đều hoạt động
kinh tế Ngược lại, nhiều người hết “tuổi lao động” nhưng vẫn tham gia hoạt động kinh
tế Rõ ràng, chỉ riêng số lượng "những người trong độ tuổi lao động" chưa phản ánh đầy
đủ về cung lao động Cần phải đo lường và phân tích thêm mức độ tham gia hoạt động
kinh tế của họ Vì vậy, có khái niệm "Dân số hoạt động kinh tế" và "Dân số không hoạt
động kinh tế"
Dân s ố hoạt động kinh tế bao gồm những người đang hoạt động hoặc đang tích cực
tìm cách tham gia ho ạt động ở một ngành nào đó của nền kinh tế trong một khoảng thời
gian xác định
Dân số hoạt động kinh tế còn gọi là "Dân số làm việc" hay "Lực lượng lao động"
Khi thu thập số liệu về “dân số hoạt động kinh tế”, cần xác định khoảng thời gian cụ
Trang 23thể nào đó để xếp một cá nhân vào nhóm “dân số hoạt động kinh tế” hay không Liên hợp quốc khuyến nghị khoảng thời gian này không nên quá một tuần
Dân s ố không hoạt động kinh tế, bao gồm:
- Người làm việc nhà: Hoạt động của họ chỉ trong gia đình của mình, không có thu nhập
- Học sinh, sinh viên: Đang học tập thường xuyên, không kể trường công, trường tư hay các khoá huấn luyện có hệ thống ở bất kỳ cấp giáo dục nào
- Người được hưởng lợi tức, thu nhập mà không phải làm việc do có tài sản cho thuê; bán bản quyền phát minh, sáng chế, quyền tác giả, hoặc lương hưu…
- Những người nhận được trợ cấp có tính chất tư nhân khác và những người không thuộc vào bất kỳ một nhóm nào trong các nhóm kể trên, chẳng hạn như trẻ em
(3) T ỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo giới và tuổi
Khi đã xác định được “Dân số hoạt động kinh tế”, cách tính toán “Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo tuổi và giới tính” như sau: Tử số là số người tham gia hoạt động kinh tế ở một nhóm tuổi, một giới nào đó Mẫu số là số dân tương ứng với giới tính và nhóm tuổi ấy
Thí dụ: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động đặc trưng theo tuổi và giới ở thành thị
và nông thôn Việt Nam, năm 2006, như ở Bảng 2.3
Bảng 2.3: Tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế Việt Nam, năm 2006
Trang 24Bảng 2.3 cho thấy: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thay đổi theo độ tuổi và giới tính Tỷ lệ này tăng nhanh từ tuổi 15 đến tuổi 29 Sau đó, ổn định ở mức cao Từ 45 tuổi trở lên, tỷ lệ này giảm liên tục cho tới mức thấp nhất Tuy nhiên, sự tham gia hoạt động kinh tế của nam và nữ ở nước ta cũng có những khác nhau đáng chú ý Đó là:
Ở tất cả các nhóm tuổi, tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động luôn thấp hơn nam giới Điều này có thể là do phụ nữ bị thu hút vào công việc nội trợ trong gia đình
Ở những nhóm tuổi tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất thì mức sinh cũng cao nhất Điều này phản ánh xung đột giữa chức năng sinh sản và chức năng hoạt động kinh tế của nữ giới
Ở nhóm tuổi trên 64, ở nông thôn cũng như thành thị tỷ lệ nam tham gia lực lượng lao động đều cao gấp đôi nữ
Như vậy, cả yếu tố “dân số” và yếu tố “phát triển” đã có tác động tới việc xác định cung về lao động bao gồm cả quy mô, cơ cấu và chất lượng
2.1.2 C ầu lao động
Khi dân số tăng lên, cơ cấu dân số thay đổi nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cũng thay đổi theo Do đó, các doanh nghiệp tăng đầu tư để mở rộng sản xuất, có nhu cầu tăng thêm lao động Các yếu tố kinh tế - kỹ thuật khác cũng ảnh hưởng lớn đến việc tăng hay giảm nhu cầu về lao động, bao gồm:
(1) Đầu tư ưu tiên vào ngành nào? Chẳng hạn công nghiệp chế tạo hay nông nghiệp? (2) Sự phân bố đầu tư theo không gian; đầu tư tập trung ở thành thị hay nông thôn?
(3) Sự lựa chọn công nghệ Người ta có thể lựa chọn công nghệ sản xuất có hàm lượng vốn cao, tức là dùng nhiều vốn hơn lao động Hoặc ngược lại, là công nghệ có hàm lượng lao động cao, khi có xu hướng sử dụng nhiều lao động hơn là vốn
(4) Mức sống của dân cư
Mức sống dân cư càng cao, càng có nhu cầu nhiều về số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ Từ đó tạo ra nhiều việc làm và cầu lao động tăng lên
Trên cơ sở đo lường, phân tích cung - cầu có thể thấy rằng: Nếu cung lớn hơn cầu, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp sẽ xảy ra, tạo ra sức ép giảm tiền công, bất bình đẳng trong thu nhập có nguy cơ tăng lên Ngược lại, cầu lớn hơn cung sẽ giảm thất nghiệp, tăng tiền công, nhiều nước phải nhập khẩu lao động
2.2 Quan h ệ dân số - lao động và việc làm ở Việt Nam
Quan hệ dân số - lao động và việc làm ở nước ta có những đặc trưng sau:
Việt Nam có quy mô dân số lớn và trước đây phát triển nhanh, hiện vẫn tăng nên
“dân số trong độ tuổi lao động” lớn và thường tăng nhanh hơn so với tổng dân số
Ở Việt Nam, cả nam và nữ đều tham gia “lực lượng lao động” với tỷ lệ cao Do
đó, lực lượng lao động lớn, thường tăng nhanh hơn số chỗ làm việc được tạo thêm Điều này có nghĩa là cung lao động lớn hơn cầu, dẫn tới số thất nghiệp tích luỹ tăng lên và tình trạng thiếu việc làm khá phổ biến
Trang 25 Tuy số lượng lao động lớn nhưng chất lượng lao động lại thấp Năm 2014, tỷ lệ lao động được đào tạo từ sơ cấp trở lên mới đạt 18% lại không hợp lý về cơ cấu: Tỷ lệ có trình độ đại học (7,3%) cao gấp hơn 4 lần lao động có chứng chỉ sơ cấp nghề (1,8%) Sức khoẻ của người lao động kém thể hiện qua các chỉ tiêu chiều cao, cân nặng, tình trạng bệnh tật Nguyên nhân của tình trạng này, một phần do trước đây mức sinh cao, trẻ em
không được chăm sóc và giáo dục một cách đầy đủ
Cơ cấu lao động theo ngành nghề của Việt Nam thể hiện tình trạng đang phát triển của nền kinh tế Năm 2014, lao động trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp vẫn chiếm 46,3% Trong khi đó, nước ta đất nông nghiệp ít, nên tình trạng thất nghiệp, nông nhàn phổ biến mọi nơi và ở mức cao
Vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ nên
đã tạo ra nhiều việc làm, thu hút nhiều lao động từ các vùng khác, tạo ra dòng di dân ngày càng lớn
Với những đặc trưng kể trên, vấn đề tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động đã và đang trở thành nhiệm vụ kinh tế -xã hội cấp bách nhất của nước ta hiện nay Giải quyết việc làm có thể trên cơ sở định hướng sau:
(1) Giảm bớt sức ép về cung lao động nhờ việc đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình, (2) Tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng di dân để cân đối giữa vốn lao động và các loại vốn khác
(3) Tăng cường đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động
(4) Mở rộng xuất khẩu lao động
(5) Xây dựng hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô có hiệu lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao đi kèm với tăng nhu cầu về lao động một cách bền vững Đồng thời tăng cường các hoạt động hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm cho người thất nghiệp và người thiếu việc làm, cho các đối tượng yếu thế trong thị trường lao động
III GIA TĂNG DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hoặc thu nhập bình quân đầu người của
một nước Sản lượng thường được đo bằng "tổng sản phẩm quốc nội" Đó là tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ trong nước, thường được tính theo năm
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế kèm theo những thay đổi về phân phối
sản lượng và cơ cấu kinh tế
3 1 Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế
Quan sát mức gia tăng dân số và thành tựu kinh tế ở các nước sẽ thấy một thực tế tương phản sâu sắc là: Các nước đã phát triển, mức GDP bình quân đầu người rất cao song mức sinh rất thấp nên tỷ lệ gia tăng dân số thấp Ngược lại, đối với nhiều nước chậm phát triển, trong khi mức bình quân GDP đầu người rất thấp thì tỷ lệ gia tăng dân
số lại rất cao, gấp hàng chục lần so với các nước đã phát triển (Bảng 2.4)
Trang 26Bảng 2.4: GDP bình quân đầu người và chỉ tiêu dân số ở một số nước, năm 2010
Nước
GDP/ người (Đô la Mỹ)
Tỷ suất sinh thô (%o)
Tỷ suất chết thô (%o)
Tỷ lệ tăng dân số (%)
Rõ ràng, ở các nước kém phát triển, nâng cao đời sống nhân dân hay đẩy nhanh tốc
độ tăng trưởng kinh tế là nhiệm vụ cốt lõi Vấn đề đặt ra là: Gia tăng dân số nhanh hay
chậm có ảnh hưởng như thế nào đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế?
Tăng nhanh dân số ở các nước nghèo là bất lợi cho tăng trưởng kinh tế Kết luận này có thể được chứng minh cụ thể hơn thông qua mối liên hệ sau:
Tỷ lệ gia tăng GDP bình quân đầu người ≈ Tỷ lệ gia tăng GDP- Tỷ lệ gia tăng dân số
Công thức gần đúng nói trên cho thấy: Để tăng được chỉ tiêu GDPbình quân đầu
người thì “Tổng sản phẩm quốc nội” phải tăng nhanh hơn tăng dân số Việc hạ thấp tỷ
lệ gia tăng dân số (nếu không làm GDP bị giảm sút) cũng sẽ làm tăng GDP bình quân đầu người
3.2 Gia tăng dân số và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế
Phát triển kinh tế đòi hỏi không những tăng trưởng kinh tế mà còn cả dịch chuyển
cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá dẫn đến dịch chuyển
cơ cấu lao động Việc dịch chuyển cơ cấu lao động theo ngành kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế -xã hội nhưng đối với các nước đang phát triển, dân số đã làm chậm quá trình chuyển đổi này với những lý do sau:
Một là, mức sinh ở nông thôn (nơi lực lượng lao động chủ yếu làm nông nghiệp)
thường cao hơn rất nhiều, thậm chí gấp đôi so với thành thị (nơi lực lượng lao động chủ yếu làm công nghiệp và dịch vụ)
Hai là, sản xuất công nghiệp và dịch vụ thường đòi hỏi vốn lớn Trong khi đó, mức sinh và tỷ lệ phụ thuộc cao đã hạn chế tích luỹ mở rộng các ngành kinh tế cần nhiều vốn này
Ba là, do mức sinh cao nên lực lượng lao động ở nông thôn đông đảo, phần lớn là lao động giản đơn, ít có cơ hội đào tạo nghề Vì vậy, khó chuyển đổi sang công nghiệp
và dịch vụ là những khu vực đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn
Trang 273 3 Ảnh hưởng của dân số đến tiêu dùng và tích lũy
3.3 1 Ảnh hưởng của dân số đến tiêu dùng
Tiêu dùng là một yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng thị trường Có nhiều yếu tố xác định khối lượng và cơ cấu vật phẩm tiêu dùng và các loại dịch vụ nhưng quy
mô, cơ cấu dân số là những yếu tố quan trọng Tác động của dân số đến tiêu dùng có
thể nghiên cứu trên cả ba tầm: xã hội, gia đình và cá nhân
Nghiên cứu tác động của dân số đến tiêu dùng trên phạm vi toàn xã hội trước hết cho thấy khối lượng vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào quy mô dân
số Chẳng hạn, so với năm 1960, quy mô dân số thế giới năm 2010 tăng khoảng 2,26 lần còn lượng lương thực trong khoảng thời gian này đã tăng lên 2,64 lần
Khi tỷ lệ và số lượng dân số trong độ tuổi học phổ thông giảm xuống thì nhu cầu về
số lượng lớp học, giáo viên cũng giảm theo Ngược lại, khi số người cao tuổi tăng lên thì chi phí cho chăm sóc sức khỏe cho nhóm đối tượng này cũng tăng
3.3.2 Dân số và tích luỹ
Trong xã hội luôn luôn có những nhóm người tiêu dùng vượt quá thu nhập do lao động của họ mang lại hoặc họ không có thu nhập, chẳng hạn trẻ em và người già Ngược lại, cũng có nhóm người tạo ra thu nhập vượt quá mức tiêu dùng cho bản thân, hình 2.1
Hình 2.1: Chi tiêu và thu nhập bình quân đầu người theo tuổi
Trang 28Để xã hội phát triển, những người lao động phải sản xuất không chỉ đủ tiêu dùng cho bản thân mà cho cả những người phụ thuộc vào họ và còn phải nhiều hơn thế mới
có tích luỹ mở rộng sản xuất Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ em lớn, nên tích luỹ nhỏ và tăng chậm
3.4 Dân số và kinh tế cấp hộ gia đình
Gia đình là một nhóm người có liên kết với nhau bằng các mối quan hệ đặc biệt: hôn nhân (giữa vợ và chồng), huyết thống (giữa cha mẹ và các con, giữa các anh em ruột, giữa ông bà
và các cháu ) hoặc quan hệ giữa cha mẹ và con nuôi Ngoài chức năng sinh đẻ, nuôi, dạy con cái, tổ chức cuộc sống vật chất và tinh thần cho các thành viên, gia đình còn có chức năng kinh tế Chức năng này thể hiện ở các phương diện sau:
- Gia đình là một đơn vị sản xuất
Một nền kinh tế hoàn chỉnh bao gồm nhiều đơn vị kinh tế riêng lẻ: các hộ gia đình, các công ty, các bộ ngành của Nhà nước
- Gia đình là một đơn vị có tài sản riêng Đó là thu nhập, tư liệu tiêu dùng và tư
liệu sản xuất
- Gia đình là một đơn vị tiêu dùng
Vì gia đình đóng vai trò đơn vị sản xuất, đơn vị có tài sản riêng và đơn vị tiêu dùng, như đã trình bày ở trên, nên nó có tác động rất lớn đến nền kinh tế
3.4 1 Các đặc trưng dân số của gia đình
Số gia đình
Chi tiêu Thu nhập
Tuổi
Trang 29Sự biến động số lượng gia đình xảy ra không ngừng Điều này chẳng những là do kết quả của những sự kiện dân số: Con cái kết hôn tách khỏi gia đình bố mẹ, ly hôn, chết và những yếu
tố kinh tế - xã hội thúc đẩy hay kìm hãm các sự kiện này
Ở Việt Nam, số hộ gia đình năm 1979 là 9.665.866, năm 2014 là 24.264.990 Tốc
độ tăng số lượng gia đình luôn luôn cao hơn tốc độ tăng dân số
Do mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế nên việc số lượng gia đình tăng lên dẫn đến
sự biến đổi quy mô sản xuất và tiêu dùng Trong nông nghiệp, điều này dẫn đến hoặc là diện tích đất của các trang trại giảm đi hoặc là đẩy nhanh sự phân công lại lao động xã hội Nhu cầu của các loại hàng hoá mà gia đình là một đơn vị sử dụng tăng nhanh, đặc biệt là nhà ở
Cơ cấu gia đình
Các gia đình khác nhau về số con, số lao động, số thế hệ trong gia đình, độ tuổi và giới tính của chủ hộ, loại quan hệ của các thành viên Vì vậy, tổng số gia đình thường phân chia thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức định lượng hoặc định tính, tức
là nghiên cứu cơ cấu của gia đình theo tiêu thức nào đó
Chẳng hạn, nếu phân chia số gia đình theo số thành viên của nó, ta sẽ có cơ cấu gia đình theo số khẩu Có thể biểu diễn cơ cấu này thông qua tỷ lệ gia đình có k khẩu, ký hiệu
là (fk) Theo Tổng điều tra dân số năm 1979 và 2009, cơ cấu gia đình theo số khẩu biến đổi mạnh, theo hướng quy mô gia đình ngày càng nhỏ (Bảng 2.5)
Bảng 2.5: Cơ cấu gia đình theo số khẩu
Đơn vị: %
1979 6,9 10,4 13,5 15,0 14,4 12,5 10,1 7,3 9,9
2009 7,2 14,3 20,9 28,7 15,1 8,3 2,7 1,4 1,4
Nguồn: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 1979, 2009
Kết quả các cuộc Điều tra mức sống dân cư đều cho thấy quy mô gia đình càng nhỏ thì thu nhập và chi tiêu bình quân một người/một tháng càng cao
Chu trình dân số của gia đình
Gia đình từ lúc hình thành (thường bắt đầu bằng sự kết hôn) tới khi kết thúc (được đánh dấu bằng cái chết của người cuối cùng trong cặp vợ chồng đó), không ngừng biến đổi trên các phương diện dân số, kinh tế -xã hội Vì vậy, dựa trên cơ sở này người ta thường phân chia các giai đoạn phát triển của gia đình
Giai đoạn 1 - Giai đoạn phát triển: từ lúc cặp vợ chồng kết hôn cho tới lúc sinh đứa
con cuối cùng
Trang 30Giai đoạn này có nhiều yếu tố làm giảm thu nhập bình quân: số thành viên gia đình tăng lên; người mẹ phải nghỉ việc tạm thời hay chọn việc khác nhẹ nhàng hơn khi sinh con; có thêm người giúp việc
Giai đoạn 2 - Giai đoạn ổn định: từ lúc sinh đứa con cuối cùng đến khi đứa con đầu
tiên tách khỏi gia đình
Do quy mô gia đình ổn định, tuổi nghề của cặp vợ chồng tăng lên tạo khả năng nâng cao tiền lương Song chi phí nuôi dạy trẻ cũng tăng lên
Giai đoạn 3 - Giai đoạn trưởng thành: từ lúc đứa con đầu tiên tách khỏi gia đình đến
khi đứa con cuối cùng tách khỏi gia đình
Các thành viên gia đình trưởng thành, trình độ tay nghề khá hơn, thu nhập bình quân có xu hướng nâng cao nhưng chi tiêu cho việc con cái tách khỏi gia đình, như
đi học, kết hôn,… cũng lớn
Giai đoạn 4 - Giai đoạn giải thể: từ lúc đứa con cuối cùng tách khỏi gia đình đến
khi người còn lại trong cặp vợ chồng qua đời
Khi con cái trưởng thành, ra ở riêng hết thì cặp vợ chồng cũng đã đến hoặc gần đến tuổi hưu, thành thử thu nhập gia đình giảm đi, chi phí bảo vệ sức khoẻ tăng lên Như vậy, khảo sát tình trạng kinh tế của gia đình, điều quan trọng là phải xem xét gia đình đang ở giai đoạn phát triển nào
3.4.2 Chi phí và lợi ích sinh con
Sinh đẻ và nuôi dạy con cái, cha mẹ không chỉ phải bỏ ra những chi phí về kinh tế
mà còn phải chi phí về sức khoẻ, tinh thần Đồng thời, cha mẹ cũng thu được lợi ích từ con cái Những lợi ích này tạo thành giá trị của con cái đối với cha mẹ Chi phí của cha
mẹ cho con cái bao gồm:
Chi phí kinh tế, gồm 2 khoản:
+ Chi phí trực tiếp: Đây là khoản tiền của cha mẹ chi cho việc mang thai, sinh đẻ; chi cho
ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, tiền công cho người trông coi, chăm sóc và các khoản khác Ở các nước "ưa thích con trai" các chi phí cho trẻ em trai và trẻ em gái rất khác
nhau
+ Chi phí cơ hội Đây là khoản thu nhập của cha mẹ bị mất hoặc giảm đi do phải mang
thai, sinh đẻ và ở nhà trông, nuôi, dạy, chăm sóc trẻ
Người ta thường tính tổng chi phí kinh tế cho trẻ em (16 hoặc 18 tuổi tùy theo mỗi nước) và cũng thường tính chỉ tiêu này cho trẻ em dưới 1 tuổi
Chi phí tinh thần:
Cha mẹ thường phải lo lắng về sức khoẻ, trí tuệ và sự an toàn của con Các cặp vợ chồng trẻ ít có điều kiện quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, thậm chí nảy sinh mâu thuẫn từ việc nuôi, dạy con
Chi phí về sức khoẻ
Trang 31Mang thai, sinh đẻ, trông coi, chăm sóc con, đôi khi cả 24 giờ một ngày cha mẹ mất nhiều sức lực và mệt mỏi, thậm chí là hy sinh cả tính mạng
Mặc dù phải bỏ ra nhiều chi phí nhưng cha mẹ cũng thu được nhiều lợi ích từ con cái, đó là:
Lợi ích về tinh thần, tình cảm
Con cái mang lại niềm vui, sự hy vọng và hạnh phúc cho cha mẹ Con cái là đối tượng yêu thương, là những người bạn của cha mẹ Cha mẹ tự hào là người trưởng thành toàn diện (không có mặc cảm vô sinh) Nuôi, dạy con là cơ hội học hỏi, tích luỹ nhiều kinh nghiệm và nâng cao trách nhiệm của cha mẹ
IV TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ ĐẾN DÂN SỐ
Sơ đồ 1.2: “Quan hệ Dân số và Phát triển” trong Chương 1 chỉ rõ kinh tế tác động đến dân số thông qua việc tác động đến mức sinh, mức chết và di cư Bảng 1.2 cũng cho thấy các nước phát triển thì mức sinh, mức chết trẻ em thấp, còn các nước đang phát triển thì ngược lại Mối quan hệ ngược chiều giữa kinh tế và mức sinh do các nguyên nhân chính như sau:
Thứ nhất, một nền kinh tế phát triển,dựa trên công cụ sản xuất hiện đại, cơ giới hóa,
tự động hóa thường có nhu cầu lao động ít về số lượng nhưng cao về chất lượng Điều này sẽ thúc đẩy các cặp vợ chồng sinh đẻ ít để dành nguồn lực chăm sóc con cái về sức khỏe, giáo dục và đào tạo nghề
Thứ hai, khi kinh tế phát triển, con người có thể nảy sinh nhiều nhu cầu để nâng cao
chất lượng cuộc sống, đòi hòi chất lượng cao hơn đối với ăn mặc, học tập, nhà ở, phương tiện đi lại, chăm sóc sức khỏe, du lịch, vui chơi, giải trí,…Các nguồn lực, kể cả thời gian dành cho việc sinh con và chăm sóc con sẽ phải “cạnh tranh” với các nhu cầu này
Đẻ ít như một giải pháp để giải quyết mâu thuẫn giữa các nhu cầu nói trên
Thứ ba, ở các nước giàu có, việc sinh con không có mục tiêu kinh tế mà đơn thuần
là thỏa mãn nhu cầu về tình cảm Trong khi đó chi phí nuôi con lại lớn Do vậy mức sinh thấp Ở các nước nghèo thì tình hình ngược lại
Trang 32Chế độ kinh tế cũng tác động mạnh đến mức sinh Chế độ bao cấp, nhất là bao cấp trong nuôi, dạy và phòng, chữa bệnh cho trẻ em sẽ khuyến sinh Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường, cha mẹ có trách nhiệm trang trải chi phí cho các dịch vụ nuôi dạy trẻ
Do đó cũng dẫn đến hạn chế sinh
Đối với mức chết, nghèo đói thường đi đôi với tình trạng suy dinh dưỡng, mù chữ, mất
vệ sinh, hệ thống y tế kém phát triển… Những yếu tố này sẽ nâng cao tỷ lệ bệnh tật và tử vong Nghèo đói đôi khi trực tiếp làm cho mức chết tăng lên Lịch sử đã trải qua những năm tháng hàng triệu người chết đói vì không có thức ăn
Ở những nơi kinh tế phát triển, nhiều việc làm, mức sống cao tạo nên lực hút di cư đến Ngược lại, những vùng nghèo đói, việc làm ít, tạo ra lực đẩy, xuất cư mạnh
Do tác động đến cả mức sinh, mức chết và di cư, đương nhiên kinh tế tác động đến quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số
V CƠ HỘI “CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG” Ở VIỆT NAM
5.1 Tỷ số phụ thuộc và “cơ cấu dân số vàng”
“Tỷ số phụ thuộc” xác định bằng công thức sau:
Tỷ số phụ thuộc = Số dân từ 0 đến 14 tuổi + Số dân từ 65 tuổi trở lên x 100
Số dân trong độ tuổi (15-64 tuổi)
“Tỷ số phụ thuộc” của Việt Nam đã giảm từ 90 năm 1979 xuống 44,0 năm 2014, tức là giảm hơn một nửa sau 35 năm! Điều này cho thấy gánh nặng phụ thuộc đối với người lao động đã giảm rất lớn
Khi “Tỷ số phụ thuộc” giảm đến 50 trở xuống, tức là cứ 100 người trong độ tuổi
“hoạt động kinh tế” thì chỉ có không quá 50 người ở độ tuổi “phụ thuộc”, người ta nói
rằng, đây là “cơ cấu dân số vàng”
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, “Tỷ số phụ thuộc” của Việt Nam năm 2006 đã giảm xuống 49,9, nghĩa là đã bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” Thời kỳ này sẽ kéo dài đến khoảng năm 2042-2043 Trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”, số người trong độ tuổi hoạt động kinh tế nhiều, số người phụ thuộc ít Nếu đủ việc làm và việc làm
có thu nhập cao sẽ tạo ra tích lũy, đầu tư lớn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng lao động, tạo đủ việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại là những thách thức lớn hiện nay
5.2 Kinh nghiệm của một số nước tận dụng cơ hội “cơ cấu dân số vàng”
Kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế “thần kỳ”, như: Nhật Bản, Hàn Quốc,…cho thấy, để tận dụng cơ hội “cơ cấu dân số vàng”, cần:
(1) Đảm bảo cho “người trong độ tuổi lao động” có khả năng lao động Để có điều kiện này, mức chi tiêu công và tư cho giáo dục và y tế bình quân đầu người tăng lên Bình đẳng giới trong lao động, việc làm, y tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực xã hội khác được
Trang 33thực hiện Vì vậy, tỷ lệ nữ giới tham gia thị trường lao động tăng
(2) Để đảm bảo việc làm cho người có khả năng lao động, tốc độ tăng mức tư bản tích
lũy bình quân lao động luôn ở mức cao: Nhật Bản đạt 7,6%/năm, Hàn Quốc đạt trên
8,5%/ năm trong suốt giai đoạn 1960-1990 Các nước này cũng đẩy mạnh chiến lược
“xuất khẩu”
(3) Chuyển dịch mạnh mẽ lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch
vụ, tức là hướng tới những việc làm có thu nhập cao Để làm điều đó, các đầu tư mạnh
mẽ vào kỹ thuật nông nghiệp để rút lao động ra khỏi khu vực này; thúc đẩy dòng di cư
nông thôn - đô thị, ngay cả khi cơ sở vật chất, kỹ thuật tại đô thị thấp kém
VI GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA DÂN SỐ VÀ KINH TẾ
Dân số và kinh tế có quan hệ chặt chẽ Tuy nhiên, trong từng giai đoạn cụ thể, mối
quan hệ này có những đặc điểm, yêu cầu nổi bật cần tập trung giải quyết để kinh tế phát
triển và dân số có quy mô ổn định, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao Hiện nay, giải quyết
vấn đề này ở nước ta cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
6.1 Duy trì m ức sinh thấp một cách hợp lý
Từ năm 2005 đến nay, Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế Cùng với sự phát triển,
sự hội nhập quốc tế và những thế hệ mới được giáo dục bước vào tuổi sinh sản, mức
sinh có xu hướng giảm sâu dưới mức sinh thay thế.Điều này sẽ tác động tiêu cực đến
tăng trưởng kinh tế trong tương lai Vì vậy, cần chuyển từ mục tiêu giảm nhanh mức
sinh sang mục tiêu duy trì mức sinh thấp một cách hợp lý
6.2 T ận dụng “cơ cấu dân số vàng”, nâng cao chất lượng dân số và lao động
Với quy mô dân số lớn, tiếp tục tăng và sẽ ổn định ở mức trên 100 triệu người, tỷ
lệ dân số trong độ tuổi hoạt động kinh tế cao Do vậy, nhu cầu việc làm là to lớn Cần
khuyến khích tạo việc làm, bao gồm cả việc làm cho người cao tuổi còn khả năng lao
động Ngoài việc mở rộng quy mô sản xuất, dịch vụ cần đẩy mạnh di cư trong nước và
hợp tác lao động quốc tế Quy mô lao động nước ta lớn nhưng chất lượng chưa cao Tỷ
lệ lao động qua đào tạo còn thấp.Vì vậy, cần xây dựng và thực hiện chiến lược, chương
trình đào tạo lao động; Đẩy mạnh dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng hiện đại
6.3 S ử dụng kinh tế như đòn bẩy thực hiện chính sách dân số
Tình hình dân số nước ta đang đặt ra những vấn đề mới, như: Mất cân bằng giới
tính khi sinh, chất lượng dân số chưa cao, già hóa dân số,…Để giải quyết các vấn đề
này, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ Tuy nhiên, có thể thấy rằng, chính sách kinh
tế đóng vai trò quan trọng, như: khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động nâng cao chất lượng
dân số đầu đời; đảm bảo an sinh cho người cao tuổi,…
C CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THỰC HÀNH
Trang 341 Dân số, lao động, việc làm ở địa phương: mô tả và phân tích thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp
2 Tại sao sự gia tăng dân số ở các vùng nghèo lại thường dẫn tới tình trạng mức sống chậm được cải thiện ?
3 Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VII) có ghi: "Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình là một trong những vấn đề kinh tế -xã hội hàng đầu của nước ta ”
Anh (hay chị) hãy giải thích vì sao Đảng ta lại xác định vị trí của công tác dân số -
kế hoạch hoá gia đình như vậy
4 Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VII) có ghi:"Đầu tư cho công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình
là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao" Hãy phân tích và chứng minh nhận định trên
5 Hãy liệt kê, phân tích so sánh chi phí và lợi ích nuôi con ở địa phương Các kết luận có thể rút ra từ phân tích so sánh này
1 Dân số tăng lên tác động tiêu cực đến kinh tế 1 – 2
2 Dân số tăng lên tác động tích cực đến kinh tế 1 – 2
3 Dân số tăng lên không tác động tiêu cực và cũng không
4 Dân số tăng lên tác động tiêu cực hoặc tích cực đến kinh
tế còn tùy từng trường hợp cụ thể 1 – 2
5 Cơ cấu dân số theo tuổi ảnh hưởng tích cực đến kinh tế 1 – 2
Câu 2: Bảng dưới đây cho các phương án tỷ lệ gia tăng hàng năm của lương thực và dân số
Trang 35Tỷ lệ gia tăng hàng năm của dân số 1 3 3
Tỷ lệ gia tăng lương thực bình quân đầu người ? ? ?
a) Hãy đánh giá “Tỷ lệ gia tăng lương thực bình quân đầu người”
b) Sau bao nhiêu năm thì lương thực bình quân đầu người tăng gấp đôi?
1 Số dân trong độ tuổi lao động (theo luật) và số dân hoạt
động kinh tế luôn bằng nhau
4 Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” 1 – 2
5 Cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam sẽ tồn tại vĩnh viễn 1 – 2
6 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam hiện
nay thấp nhưng sẽ tăng dần lên mãi 1 – 2
7 Việt Nam đang trong giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” nên
8 Khi hết giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” năng suất lao động
9 Do sinh đẻ ít đi nên “Tỷ lệ phụ thuộc” ngày càng thấp 1 – 2
10.Lao động Việt Nam ngày càng trẻ hóa 1 – 2
Câu 4: Kể tên 10 sản phẩm hoặc dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cơ cấu dân số theo tuổi
Câu 5: Khoanh tròn vào phương án đánh giá tính ĐÚNG hoặc SAI của các mệnh đề sau:
Trang 362 Tỷ lệ gia đình Việt Nam có 4 khẩu trở xuống ngày càng
tăng
1 – 2
3 Thu nhập bình quân đầu người Việt Nam tỷ lệ thuận với
4 Ở Việt Nam quy mô hộ gia đình càng lớn thì chi phí tiêu
dùng bình quân đầu người càng tăng 1 – 2
5 Ở Việt Nam, tỷ lệ gia đình “hạt nhân” ngày càng tăng 1 – 2
6 Kế hoạch hóa gia đình là nhân tố làm cho quy mô gia đình
Trang 37BÀI 3 DÂN S Ố VÀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
(Thời lượng: 3 tiết lý thuyết, 03 tiết thực hành)
A.M ỤC TIÊU:
1.Trình bày những tác động của dân số đến số lượng và chất lượng của hệ thống giáo d ục, y tế và ngược lại
2 Trình bày khái ni ệm về giới, giới tính, bình đẳng giới; phân biệt sự khác nhau
gi ữa giới và giới tính
3.Trình bày m ối liên quan giữa giới và phát triển, ảnh hưởng của gia tăng dân số đối với bình đẳng giới và ảnh hưởng của bình đẳng giới với phát triển dân số
B.N ỘI DUNG
Bài này nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số với một số vấn đề xã hội chủ yếu, như: giáo dục, y tế, bình đẳng giới và an sinh xã hội Từ đó, học viên có thể ý thức được sự cần thiết của việc lồng ghép các biến dân số vào kế hoạch phát triển
I DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC
1 1 Khái niệm
Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất; những tri thức về tự nhiên,
về xã hội và về tư duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống
xã hội(1) Hoạt động giáo dục được tổ chức một cách chặt chẽ nhất là ở nhà trường Các lớp học được sắp xếp theo một chương trình thống nhất, hợp lí và do những người có trình độ chuyên môn hướng dẫn Giáo dục có thể diễn ra ngoài nhà trường do các tổ chức xã hội hoặc cha mẹ hướng dẫn Hoạt động giáo dục được tiến hành một cách chính quy và không chính quy Các loại giáo dục trên đều có mối quan hệ qua lại với dân số,
nhưng trong bài này chỉ đề cập mối quan hệ giữa dân số và giáo dục trong nhà trường
Để đánh giá trình độ phát triển về giáo dục của một quốc gia, người ta thường dùng
Trang 38- Tỉ lệ học sinh của các lớp so với số trẻ em trong độ tuổi tương ứng
- Số học sinh, sinh viên trên một vạn dân
+ Về chất lượng:
- Tỷ số học sinh, sinh viên và giáo viên
- Trình độ của giáo viên
- Trang thiết bị trường học
- Chi phí bình quân cho một học sinh, sinh viên
Hai chỉ tiêu: tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ học sinh đi học trong tổng số trẻ em từ
6-15 tuổi là những chỉ tiêu mà các nước đang phát triển rất quan tâm Các chỉ tiêu trên phản ánh trình độ và xu hướng phát triển của nền giáo dục và chính sách giáo dục của một quốc gia
1.2 Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục
Sự thay đổi về qui mô và cơ cấu của dân số sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về qui
mô, cơ cấu và chất lượng của hệ thống giáo dục
(1 ) Qui mô và tốc độ tăng dân số có tác động trực tiếp và gián tiếp đến quy mô của ngành giáo dục
Thông thường, đối với một quốc gia, quy mô dân số càng tăng, tỷ lệ nhập học càng cao thì số học sinh càng nhiều Sự phát triển dân số và quy mô giáo dục Tiểu học ở Việt Nam trong thế kỷ XX cũng diễn ra như vậy, (Bảng 3.1)
Bảng 3.1: Số dân và số học sinh Tiểu học tại thời điểm 31-12 các năm học
Đơn vị: triệu người
Nguồn: T ổng cục Thống kê (2014) https://gso.gov.vn/default.aspx?tabid=722
Từ năm 1995 đến năm 1997, số dân Việt Nam tăng từ 72 triệu lên 74,3069 triệu thì số
học sinh Tiểu học (HSTH) cũng tăng từ 10,2288 triệu lên 10,3836 triệu Tuy nhiên, bước
sang thế kỷ XXI đã xảy ra “nghịch lý”: Quy mô dân số tăng lên, tỷ lệ nhập học đạt mức cao (gần như tuyệt đối) nhưng số học sinh Tiểu học lại có xu hướng giảm Sự suy giảm này bắt đầu từ năm học cuối cùng của thế kỷ XX, tức là năm (1998-1999) So với năm học (1997-1998), số học sinh bậc Tiểu học năm học 2009-2010 đã giảm hơn 3 triệu!
Tác động gián tiếp của quy mô và tốc độ tăng dân số thể hiện thông qua ảnh hưởng
của sự tăng nhanh dân số đến chất lượng cuộc sống, mức thu nhập Từ đó ảnh hưởng đến đầu tư cho giáo dục cho con cái nói chung và cho con trai, con gái nói riêng, ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng giáo dục và sự bình đẳng trong giáo dục
Trang 39(2) Cơ cấu dân số theo tuổi ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu ngành giáo dục
Ở nước ta, cơ cấu dân số trong độ tuổi học phổ thông cũng thay đổi mạnh
Bảng 3.2: Cơ cấu dân số trong độ tuổi học phổ thông
Đơn vị: %
Nguồn: Kết quả Tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999, 2009
Những thay đổi nói trên đã tác động mạnh mẽ đến không chỉ quy mô mà còn cơ cấu
Hệ thống GDPT Bảng 3.3 cho thấy: Số học sinh phổ thông đã giảm từ hơn 17 triệu năm học 1998-1999 xuống còn gần 15 triệu năm học 2009-2010
Bảng 3.3: Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm 31 -12 các năm học
Cấp học
Số học sinh (nghìn)
Tỷ lệ (%)
Số học sinh ( nghìn)
Tỷ lệ (%)
Hơn nữa, cơ cấu hệ thống giáo dục phổ thông cũng thay đổi mạnh: Chỉ sau 11 năm,
tỷ lệ HS Tiểu học đã giảm hơn 12 %, trong khi đó HSTHPT lại tăng gần 10%!
(3) Phân bố dân số ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, chất lượng giáo dục
Ở thành thị hệ thống giáo dục thường phát triển hơn, nên trẻ em có nhiều cơ hội được đến trường hơn và chất lượng giáo dục cũng thường cao hơn khu vực nông thôn, nhất là miền núi, hải đảo
Ngoài ra, mật độ dân số cũng ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của giáo dục Mật độ dân số lớn và tăng nhanh, tỷ lệ trẻ em đến tuổi đi học cao gây ra sự quá tải đối với cơ sở vật chất-kỹ thuật của nhà trường, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục Ngược lại, ở nơi dân cư quá thưa thớt, khoảng cách từ nhà đến trường xa, số trẻ em trong tuổi
đi học không nhiều, thường phải tổ chức lớp ghép, cũng là những yếu tố gây khó khăn cho sự phát triển giáo dục
Nhóm tuổi 1979 1989 1999 2009
5 - 9 14,58 13,3 12,00 7,99
10 - 14 13,35 11,7 11,96 8,54
15 - 19 11,40 10,5 10,77 10,19 Tống tỷ lệ (%) 39,33 35,5 34,73 28,73
Trang 401 3 Ảnh hưởng của giáo dục đến dân số
1.3.1 Ảnh hưởng của giáo dục đến hôn nhân
Ảnh hưởng của giáo dục đến hôn nhân thể hiện qua quyền lựa chọn bạn đời; tuổi kết hôn lần đầu và ly hôn Những người có trình độ học vấn cao, đặc biệt là phụ nữ, thường được tự do lựa chọn người bạn đời, kết hôn muộn vì thời gian học tập kéo dài
và quyết định ly hôn khi cần thiết Năm 2009, tuổi kết hôn trung bình của phụ nữ tốt nghiệp Tiểu học là 19,9 trong khi đó phụ nữ có trình độ trên THPT là 24,8 Các số tương ứng của nam là 24,3 và 28,2!
1.3.2 Ảnh hưởng của giáo dục tới mức sinh
Kết quả của các cuộc điều tra về mức sinh ở Việt Nam đều xác nhận rằng, mối quan hệ giữa là mức sinh và trình độ học vấn của phụ nữ là mối liên hệ “ngược”, tức
là trình độ học vấn của phụ nữ càng cao thì mức sinh của họ càng thấp, (Bảng 3.3) Bảng 3.3: Số con đã sinh của phụ nữ có chồng
Nguồn: TCTK Điều tra nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994
Để giáo dục có ảnh hưởng rõ rệt đến việc giảm sinh thì trình độ học vấn của người dân phải đạt đến một “ngưỡng" nhất định Bảng 3.3 cho thấy, đối với Việt Nam,
“ngưỡng” này là tốt nghiệp bậc Tiểu học Các nước khác nhau thì “ngưỡng” này khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của nước đó
1.3.3 Giáo dục ảnh hưởng đến mức chết
Trình độ giáo dục có ảnh hưởng đặc biệt đến mức chết trẻ em Hầu hết các công trình nghiên cứu về mức chết trẻ em ở các nước đang phát triển đều cho rằng trình độ giáo dục, đặc biệt là giáo dục của phụ nữ là "chìa khoá" để giảm mức chết trẻ em Theo
số liệu điều tra nhân khẩu học giữa kì 1994 thì con của các bà mẹ có trình độ học vấn càng cao có tỉ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi càng thấp Cụ thể, trẻ em là con của các bà
mẹ mù chữ có tỷ suất chết dưới 1 tuổi lên tới 80,32%o, trong khi đó, tỷ lệ này chỉ là 33,88%o đối với con của các bà mẹ tốt nghiệp THPT trở lên