Nghiên cứu chẩn đoán và điều trị ngoại khoa bướu giáp đơn thuần nhiều nhân
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo - bộ quốc phòng
học viện quân y
đặng thanh
nghiên cứu CHẩN ĐOáN Vμ ĐIềU TRị NGOạI KHOA Bướu giáp đơn thuần nhiều nhân
Chuyên ngành : Phẫu thuật đại cương Mã số : 3.01.21
Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
hμ nội - 2007
Trang 2Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Đặng Ngọc Hùng PPS TS Ngô Văn Hoàng Linh
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Vượng
Phản biện 2: GS Đặng Hanh Đệ
Phản biện 3: PGS TS Mai Trọng Khoa
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
Họp tại Học viện Quân y
Vào hồi 14 giờ 00, ngày 27 tháng 6 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện Học viện Quân y
- Thư viện Trường Đại học Y Dược Huế
Trang 3Các công trình nghiên cứu khoa học
đ∙ công bố liên quan đến luận án
1 Đặng Thanh, Đặng Ngọc Hùng (2006), “Nghiên cứu một số đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng trong chẩn đoán hình thái bướu giáp đơn
thuần thể nhiều nhân”, Tạp chí Y học thực hành, 541, tr 343-353
2 Đặng Thanh, Ngô Văn Hoàng Linh (2006), “Sơ bộ đánh giá hiệu
quả của một số phương pháp chẩn đoán chức năng tuyến giáp trong
bệnh bướu giáp đơn thuần thể nhiều nhân”, Tạp chí Y học thực hành,
2(535), tr 84-86
3 Đặng Thanh, Đặng Ngọc Hùng (2007), “Nghiên cứu chỉ định mổ,
kết quả sớm và kết quả xa sau mổ bướu giáp đơn thuần thể nhiều nhân
tại Bệnh viện 103”, Tạp chí Y học Việt Nam, 331(2), tr 61-68
Trang 4đặt vấn đề
Bướu giáp đơn thuần nhiều nhân (BGĐTNN, multinodular non-toxic goiter) là bướu giáp đơn thuần tiến triển ở giai đoạn muộn khi đã hình thành
nhiều nhân trong nhu mô tuyến Bướu giáp đơn thuần có ý nghĩa xã hội lớn
vì tỉ lệ mắc bệnh cao (khoảng 5% dân số) Bướu giáp đơn thuần nhiều nhân
là một thể bệnh chiếm đại đa số (90%) trong số bệnh nhân bướu giáp đơn thuần và cũng luôn chiếm phần lớn (51,4 - 88%) trong số bệnh nhân bị bệnh tuyến giáp được phẫu thuật
Về chẩn đoán bướu giáp đơn thuần nhiều nhân trước mổ, cho đến nay vẫn còn gặp khó khăn trong chẩn đoán thể bướu (lan tỏa, một nhân hay nhiều nhân), bản chất bệnh lý của bướu giáp trước mổ Phát hiện nhiều nhân trong
mổ và xét nghiệm mô bệnh học sau mổ được cho là chính xác nhất, nhưng chỉ có được khi bệnh nhân được mổ Do đó, chẩn đoán bướu giáp đơn thuần nhiều nhân trước mổ vẫn còn là một vấn đề thời sự và cần được tiếp tục nghiên cứu
Về điều trị BGĐTNN, nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng cần chỉ định
mổ vì bướu giáp có xu hướng to lên dần và gây nên các biến chứng Vấn đề ở chỗ là điều trị phẫu thuật có thể có các tai biến và biến chứng phẫu thuật, nhất là hai biến chứng mâu thuẫn nhau cần phải được giải quyết là nhược giáp và tái phát bướu: mổ cắt triệt để nhằm tránh tái phát bướu thì dễ dẫn tới nhược giáp sau mổ, còn mổ không triệt để thì luôn có nguy cơ bị tái phát bướu giáp sau này Có tác giả đã chủ trương cắt hoàn toàn tuyến giáp rồi dùng hormon giáp thay thế suốt đời sau mổ Nhưng đa số các tác giả khác cho rằng chỉ cần tìm cắt bỏ tất cả các nhân, giữ lại những phần nhu mô giáp còn lành thì phần nhu mô còn lại đó có thể hồi phục tốt (vì không bị chèn ép bởi các khối nhân nữa), nhờ đó có thể giảm được biến chứng nhược giáp cũng như tái phát bướu sau mổ Muốn hạn chế nhược giáp và tái phát bướu sau mổ, vấn đề là phải có kỹ thuật kiểm soát cầm máu tuyến giáp tốt thì mới
có thể xác định được rõ phần nhu mô lành và các nhân để cắt bỏ (các nhân này thường to nhỏ khác nhau và ở bất kỳ vị trí nào của tuyến giáp) Dựa trên việc cải tiến kỹ thuật cầm máu trong mổ tuyến giáp của Đặng Ngọc Hùng và
cs (1995), chúng tôi đã thực hiện mổ cắt gần hoàn toàn thùy giáp một hoặc hai bên, lấy bỏ triệt để các nhân và giữ lại một phần nhu mô lành để điều trị BGĐTNN Một số nghiên cứu kết quả sớm sau mổ theo kỹ thuật này đã được thực hiện, tuy nhiên chưa có nghiên cứu cơ bản nào để đánh giá kết quả xa
Trang 5sau mổ, đặc biệt là về tình trạng chức năng tuyến giáp và tái phát bướu giáp sau mổ BGĐTNN
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu chẩn
đoán và điều trị ngoại khoa bướu giáp đơn thuần nhiều nhân"
Những đóng góp mới của luận án:
- Xác định một số đặc điểm lâm sàng, đặc biệt là cận lâm sàng (siêu âm,
X quang, xét nghiệm miễn dịch, tế bào học ) của bướu giáp đơn thuần nhiều nhân, giúp cho việc chẩn đoán bệnh được chính xác hơn
- Đánh giá tình trạng nhiều nhân và nhu mô giáp trong mổ để lựa chọn phương pháp mổ hợp lý
- Đánh giá kết quả sớm và xa sau mổ, qua đó xác định vai trò của điều trị ngoại khoa trong điều trị bệnh lý này và xây dựng tiêu chuẩn chỉ định mổ
và quy trình mổ hợp lý hơn đối với bướu giáp đơn thuần nhiều nhân
ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Cắt gần hoàn toàn tuyến giáp
một hoặc hai bên với kỹ thuật cầm máu tốt, để lại một phần mô giáp ở mặt sau trong, lấy bỏ hết nhân ở phần nhu mô để lại, không bóc tách để bộc lộ dây thần kinh quặt ngược và các tuyến cận giáp được áp dụng trong công trình này đã hạ thấp được tỉ lệ nhược giáp và tái phát bướu sau mổ, hạ thấp
được tỉ lệ các biến chứng sau mổ; do đó có thể áp dụng rộng rãi phương pháp
điều trị ngoại khoa nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu rất lớn về điều trị đối với loại bệnh phổ biến này
Cấu trúc luận án: Luận án gồm 125 trang, 4 chương, 28 bảng, 9 biểu đồ, 32
hình ảnh, 4 phụ lục, 137 tài liệu tham khảo: 75 tiếng Việt, 46 tiếng Anh, 16 tiếng Pháp
Chương 1
TổNG QUAN tμi liệu
Khoa học đã đã biết đến bệnh bướu giáp cách đây hơn 5000 năm, nhưng chỉ đến giữa thế kỷ thứ XX sau công nguyên, nhiều vấn đề về bệnh tuyến giáp mới được sáng tỏ như nguyên nhân bệnh sinh, dự phòng và điều trị
Trang 6Về nguyên nhân, hầu hết các tài liệu nghiên cứu xác định nguyên nhân chủ yếu của bướu giáp đơn thuần là do thiếu iode cho nhu cầu của cơ thể
Về bệnh sinh, khi nồng độ thyroxin trong máu giảm làm cho TSH tăng lên trong máu kéo dài sẽ có tác dụng kích thích tổ chức tuyến giáp tăng sinh
và phát triển thành bướu giáp đơn thuần; ngoài ra có thể còn do một số yếu
tố tăng trưởng khác Giai đoạn đầu, còn gọi là giai đoạn quá sản lan tỏa, điều trị nội khoa có thể hồi phục Giai đoạn sau, còn gọi là giai đoạn muộn, hình thành nhiều nhân, bướu giáp có nhiều biến đổi đa dạng và sâu sắc, điều trị nội khoa không thể hồi phục, bướu giáp to dần và gây biến chứng
Chẩn đoán bướu giáp đơn thuần nhiều nhân trước mổ vẫn còn gặp khó khăn Phát hiện nhiều nhân bằng khám lâm sàng có tỉ lệ đúng là 53,8-62%, bằng siêu âm có tỉ lệ đúng là 92,1% Chẩn đoán tế bào học bướu giáp bằng chọc hút kim nhỏ ở Việt Nam có tỉ lệ đúng là 68,4-80%, ở nước ngoài là 65-90,6% Riêng chẩn đoán chức năng tuyến giáp là khá chính xác nhờ các xét nghiệm hóa miễn dịch huỳnh quang
Về điều trị, mặc dù nhiều nhà nội khoa, ngoại khoa và giải phẫu bệnh
đều cho rằng điều trị nội khoa BGĐTNN ít có kết quả và không hồi phục; tuy nhiên với một số lượng rất lớn các bệnh nhân BGĐTNN nên không thể phẫu thuật hết, do đó cần phải áp dụng các phương pháp điều trị không phẫu thuật như dùng iode, dùng hormon giáp, dùng hormon giáp kết hợp với chọc hút dịch u nang và bơm thuốc, dùng iode phóng xạ 131
Về điều trị phẫu thuật, mặc dù nhiều tác giả thống nhất về các chỉ định mổ; tuy nhiên vẫn chưa thống nhất về kỹ thuật và phương pháp mổ vì phải cân nhắc giải quyết hai vấn đề mâu thuẫn nhau là nhược giáp và tái phát bướu sau mổ Mổ cắt triệt để thì bị nhược giáp vĩnh viễn sau mổ, mổ không triệt để thì dễ tái phát bướu sau mổ Để giải quyết hai mâu thuẫn này, một số tác giả nghiên cứu cải tiến kỹ thuật cầm máu trong mổ bướu giáp nhằm có thể đánh giá tình trạng các nhân và nhu mô giáp trong mổ, qua đó có thể để lại một phần mô giáp lành để tránh nhược giáp sau mổ, đồng thời có thể lấy hết nhân và mô giáp bệnh lý để tránh tái phát sau mổ
ở Việt Nam, Đặng ngọc Hùng và cs (1995) đã nghiên cứu cải tiến kỹ thuật cầm máu trong mổ cắt gần hoàn toàn tuyến giáp và đã có một số công trình nghiên cứu về BGĐTNN được mổ theo kỹ thuật này với sự đánh giá chủ yếu là về kết quả sớm sau mổ
Trước thực trạng này, cần phải có những công trình nghiên cứu một cách
có hệ thống về chẩn đoán và nhất là về kết quả xa sau mổ để có thể đánh giá một cách đúng mức và toàn diện hơn về tính an toàn và hiệu quả của phẫu
Trang 7thuật cắt gần hoàn toàn tuyến giáp đối với BGĐTNN nhằm có thể áp dụng trên thực tế lâm sàng một cách rộng rãi
Chương 2
Đối tượng vμ Phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 165 bệnh nhân bị bướu giáp đơn thuần nhiều nhân (BGĐTNN) đã
được thăm khám, chẩn đoán và điều trị phẫu thuật trong thời gian từ tháng 2/2001 đến tháng 10/2003 tại Khoa Phẫu thuật lồng ngực - tim mạch, Bệnh viện quân y 103 - Học viện quân y Tất cả bệnh nhân đều được chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm mô bệnh học sau mổ tại Bộ môn Giải phẫu bệnh
lý và pháp y - Học viện Quân y
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tiến cứu, quan sát, mô tả Thu thập số liệu theo phiếu nghiên cứu và phiếu theo dõi BN sau mổ để thống nhất về các chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
2.2.2.1 Tiêu chuẩn chọn: Chẩn đoán xác định BGĐTNN dựa vào: bướu
giáp to, kiểm tra trong mổ thấy có nhiều nhân; chức năng giáp bình thường qua định lượng các hormon giáp; xét nghiệm mô bệnh học sau mổ là bướu giáp đơn thuần Sau mổ BN có đến tái khám ít nhất một lần theo hẹn; được
đánh giá lại về lâm sàng, siêu âm và định lượng các hormon T3, T4, TSH
2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Không đưa vào nhóm nghiên cứu các trường hợp:
+ Chẩn đoán mô bệnh học sau mổ không phải là bướu giáp đơn thuần + Không đến khám kiểm tra lại sau mổ
- Siêu âm tuyến giáp bằng máy Aloka SSD - 630 do Nhật sản xuất, với
đầu dò Electronic convex scanner tần số 7,5 MHz
- Xạ hình tuyến giáp bằng máy xạ hình điện toán
Trang 8- Chụp X quang thường vùng cổ - ngực thẳng và nghiêng
- Đo điện tim bằng máy Cardiofax-121 của Nhật sản xuất
- Đo chuyển hóa cơ sở
- Đo độ tập trung I131 sau 24 giờ
- Định lượng T3, FT4 và TSH huyết thanh bằng kỹ thuật hóa miễn dịch huỳnh quang tự động trên máy xét nghiệm ACS 180 của Mỹ sản xuất
- Chẩn đoán tế bào học bướu giáp bằng chọc hút kim nhỏ trước mổ
- Chẩn đoán mô bệnh học bướu giáp sau mổ
2.2.4 Kỹ thuật và phương pháp mổ
Thực hiện kỹ thuật mổ theo một quy trình thống nhất với kỹ thuật cầm máu cải tiến trong cắt gần hoàn toàn tuyến giáp do Đặng Ngọc Hùng và cs (1995, 2002) đã mô tả Có thể tóm tắt quy trình phẫu thuật như sau: tất cả
BN được mổ cắt gần hoàn toàn tuyến giáp một hoặc hai bên, để lại một phần mô giáp lành ở mặt sau-trong (khoảng 15-20 g) và lấy bỏ hết các nhân ở nhu mô giáp để lại; không bóc tách để bộc lộ dây thần kinh quặt ngược và các tuyến cận giáp để tránh làm thương tổn chúng
2.2.5 Các chỉ tiêu theo dõi trong mổ và kết quả sớm sau mổ
+ Các chỉ tiêu theo dõi trong mổ: các tai biến trong mổ, thời gian cuộc
mổ, lượng tuyến giáp được cắt bỏ, lượng tuyến giáp được để lại
+ Các biến chứng sớm sau mổ: chảy máu vết mổ, suy hô hấp, tổn thương dây thần kinh quặt ngược, tetani, viêm thanh quản, ứ đọng dịch vết mổ
2.2.6 Các chỉ tiêu theo dõi đánh giá kết quả xa sau mổ
+ Thời gian theo dõi xa sau mổ: 6 - 12 tháng, 13 - 24 tháng, 25 - 36 tháng và trên 36 tháng
+ Đánh giá sức khỏe chung và khả năng lao động của BN sau mổ
+ Đánh giá tình trạng sẹo vết mổ
+ Đánh giá các biến chứng xa sau mổ
+ Đánh giá hình thái của phần tuyến giáp còn lại bằng lâm sàng và siêu
âm và phát hiện các trường hợp tái phát bướu giáp
+ Đánh giá chức năng của phần tuyến giáp còn lại bằng lâm sàng và
định lượng các hormon T3, T4 và TSH để phát hiện các trường hợp nhược giáp
+ Đánh giá tình trạng ung thư tuyến giáp ở giai đoạn xa sau mổ
2.2.7 Phương pháp quản lý và xử lý số liệu nghiên cứu
Quản lý và xử lý số liệu bằng chương trình phần mềm Epi-Info 2002
Trang 9Chương 3
Kết quả
3.1 Các đặc điểm lâm sμng, cận lâm sμng vμ chẩn đoán 3.1.1 Các đặc điểm chung
Bảng 3.1: Liên quan giữa nhóm tuổi và giới tính
Giới tính Nhóm tuổi
Nam Nữ
Số bệnh nhân (n = 165) p
Nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là 41-60 (52,7%) Tỉ suất nữ/nam là 9,3/1
Bảng 3.2: Liên quan giữa thời gian mắc bệnh và độ lớn của bướu giáp
Thời gian mắc bệnh (tháng)
Độ lớn
bướu giáp
Số bệnh nhân Trung bình Tối thiểu Tối đa p
Bảng 3.3: Các biện pháp điều trị đã dùng trước khi vào viện để mổ
Bảng này cho kết quả là có 61,8% (102/165) bệnh nhân bị BGĐTNN đã
được điều trị nội khoa trước mổ nhưng không hồi phục
Trang 103.1.2 Các đặc điểm hình thái của bướu giáp đơn thuần nhiều nhân
Bảng 3.4: Một số đặc điểm về hình thái của bướu giáp trên lâm sàng
Một số đặc điểm về hình thái bướu giáp
trên lâm sàng
Số BN (n = 165) Tỉ lệ %
Sự cân đối
của bướu giáp
Đa số 72,1% có bướu giáp to độ III, 14,5% bướu giáp to độ II, bướu giáp
to độ IV chiếm 11,5% và bướu giáp to tới độ V chiếm 1,8%
Đa số (72,7%) bướu giáp to cả hai thuỳ, chỉ có 27,2% bướu to một thùy
Đa số (80%) bướu giáp to không đều, chỉ có 20% bướu to đều cả hai thuỳ Trong số các bướu giáp to không đều, thùy phải hay bị bệnh và to hơn so với thuỳ trái
Trang 11Bảng 3.5: Các cơ quan vùng cổ có biểu hiện lâm sàng bị bướu chèn ép
Các cơ quan vùng cổ
có biểu hiện bị bướu chèn ép
Số bệnh nhân (n = 165) Tỉ lệ %
Đa số bệnh nhân (69,1%) có biểu hiện lâm sàng bướu giáp gây chèn ép
các cơ quan vùng cổ; trong đó hay gặp nhất là biểu hiện chèn ép thực quản
(57%), kế đến là biểu hiện chèn ép khí quản (30,9%), sau đó là biểu hiện
chèn ép bó mạch cảnh gây nhức đầu (17,6%) và sau cùng là biểu hiện chèn
ép dây thần kinh quặt ngược gây khàn tiếng (1,8%)
Bảng 3.6: Các triệu chứng siêu âm chẩn đoán hình thái bướu giáp
Chẩn đoán siêu âm thể bướu Chẩn đoán siêu âm
cấu trúc nhân Lan toả Một nhân Nhiều nhân
Tổng (n=165)
Nhân tăng âm
Tỷ lệ % theo hàng
Tỷ lệ % theo cột
0 0,0
0,0
2 8,3
Tỷ lệ % theo hàng
Tỷ lệ % theo cột
0 0,0
0,0
8 44,4
0,0
7 100,0
100,0
143 86,7
100,0
165 100,0
100,0
Chỉ có 86,7% số BGĐTNN được chẩn đoán đúng bằng siêu âm là nhiều
nhân Siêu âm cho kết quả là các nhân thể hỗn hợp chiếm đa số (70,3%)
Trang 12Bảng 3.7: Liên quan giữa độ lớn bướu giáp trên lâm sàng và thể tích
bướu giáp trên siêu âm
Thể tích bướu giáp trên siêu âm (ml)
Khí quản thực sự bị chèn ép hay bị đẩy lệch khỏi vị trí bình thường
chiếm 40,4%, trong đó:
+ Khí quản bị đẩy lệch đơn thuần (14/57) chiếm 24,6%
+ Khí quản bị hẹp đơn thuần (2/57) chiếm 3,5%
+ Khí quản vừa bị đẩy lệch, vừa bị hẹp (7/57) chiếm 12,3%
Trong số các trường hợp khí quản bị đẩy lệch (21/57=36,9%), tỉ lệ khí
quản bị đẩy lệch sang trái (12/57) chiếm 21,1%, cao hơn so với bị đẩy lệch
sang phải (9/57) chiếm 15,8%
Trang 133.1.3 Đánh giá chức năng tuyến giáp trước mổ
giáp trước mổ đều có giá trị trung bình nằm trong giới hạn bình thường
3.1.4 Chẩn đoán bướu giáp đơn thuần nhiều nhân
Bảng 3.10: Chẩn đoán tế bào học bướu giáp bằng chọc hút kim nhỏ trước mổ
Chẩn đoán tế bào học bướu giáp
trước mổ
Số bệnh nhân (n =141) Tỉ lệ %
Trang 14Chẩn đoán tế bào học bướu giáp bằng chọc hút kim nhỏ trước mổ, kết quả là bướu giáp đơn thuần chiếm tỉ lệ 72,4%
Bảng 3.12: Kết quả chẩn đoán ở các giai đoạn khác nhau trong thời
gian nằm viện
Nơi chẩn
đoán Chẩn đoán
Số BN (165 ca) Tỉ lệ %
Chẩn đoán
của phòng
khám bệnh Bướu giáp nghi ung thư 1 0,6
Chẩn đoán
trước mổ
Chẩn đoán
trong mổ Bướu giáp nghi ung thư 4 2,4
Chẩn đoán lâm sàng ở phòng khám bệnh có tỉ lệ đúng là 67,9%, chẩn đoán trước mổ có tỉ lệ đúng là 84,9% và chẩn đoán trong mổ có tỉ lệ đúng là 97,6% Chẩn đoán trước và trong mổ có 5 bệnh nhân nghi ung thư giáp, chiếm 3%