1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học

14 595 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 248,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học

Trang 1

HOC VIEN QUAN Y

PHAM XUAN PHONG

NGHIEN CUU CAC THE LAM SANG THEO Y HOC

CO TRUYEN BENH CAU THAN TIEN PHAT CO DOI

CHIEU MO BENH HOC

Chuyên ngành: Bệnh học nội khoa

Mã số: 3.01.31

TÓM TAT LUAN AN TIEN SY Y HOC

HÀ NỘI - 2007

Trang 2

HOC VIEN QUAN Y

Người hướng dẫn khoa học:

GS Banh Van Khiu

PGS.TS Lé Dinh Roanh

Phan bién 1: GS.TSKH Lé Nam Tra

Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Thị Liệu

Phản biện 3: PGS.TS Chu Quốc Trường

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp

tại Học viện quân y hồi 8 giờ 30 phút, ngày 12 tháng O2 năm 2007

Có thể tìm hiểu luận án tại:

Thư viện Quốc gia

Thư viện Thông tin Y học Trung ương

Thư viện Học viện Quân y

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Phạm Xuân Phong, Tang An Binh, Vuong Cuong (2000),

“Nghiên cứu mối quan hệ của biện chứng luận tri Trung y va

mô bệnh học của I17 ca viêm cầu thận mạn tính”, Giang Tô Trung y, Giang Tô, Trung Quốc, 21(12), tr 17-18

2 Phạm Xuân Phong, Vương Cương, Tăng An Bình (2003),

“Phân tích kết quả phép khu phong ích thận điều trị 73 ca viêm cầu thận mạn có tiêu chứng phong tà”, Giang Tô Trung y, Giang Tô, Trung Quốc, 24(5), tr 12-14

3 Phạm Xuân Phong, Bành Văn Khìu (2004), “Úng dụng đông y trong điều trị bệnh lý thận hiện nay và hướng phát triển trong tương lai”, Tạp chí nghiên cứu Y Dược học cổ truyền Việt Nam, Hà Nội, 13, tr 28-30

4 Phạm Xuân Phong (2006), “Nghiên cứu về đông y các thể

lâm sàng bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học”, Tạp chí Y dược học Quân sự, 31, tr 330-335

Trang 3

- Thể khí âm lưỡng hư thường có mô bệnh học là viêm cầu thận tăng

sinh gian mạch (p<0,01), có lắng đọng IgG và bổ thể C3 ở MĐCT

(p<0,01)

- Thể can thận âm hư thường là viêm cầu thận màng, có lắng đọng

IgG, IgM và bổ thể C3 ở MĐCT (p<0,05)

- Thể tỳ thận dương hư thường có mô bệnh học là thể xơ cầu thận ổ - cục bộ

Về tiêu chứng và các thể mô bệnh học cho thấy

- Tiêu chứng là thủy thấp gặp ở hầu hết các thể

- Tiêu chứng là ứ huyết thường xuất hiện ở thể thay đổi tối thiểu

- Tiêu chứng thấp nhiệt thường xuất hiện ở thể viêm cầu thận tăng sinh

gian mach

- Tiêu chứng phong tà hay gap ở thể viêm cầu thận màng

- Tiêu chứng ngoại cảm và đàm trọc thường gặp ở thể xơ cầu thận ổ cục bộ

KIẾN NGHỊ

- Cần áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán và đối chiếu mô bệnh học

này cho chuyên ngành thận học YHCT, đặc biệt là các cơ sở y tế chưa

có điều kiện triển khai kỹ thuật sinh thiết thận, góp phần tăng cường

chất lượng trong chẩn đoán và điều trị bệnh cầu thận mạn tính bằng y

học cổ truyền

- Ngoài các tiêu chứng ngoại cảm, thủy thấp, thấp nhiệt và ứ

huyết, đàm trọc và phong tà cũng là hai tiêu chứng thường gặp trong

viêm cầu thận mạn, vì vậy cần phải sử dụng thêm các thuốc khu

phong, hóa đàm trong điều trị nếu bệnh nhân mắc các tiêu chứng này

DAT VAN DE

Bệnh cầu thận mạn tính tiên phát là một bệnh lý phức tạp, do nhiều nguyên nhân gây ra, triệu chứng thường là phù, tăng huyết áp, protein niệu, hồng cầu niệu, và giảm chức năng thận ở các mức độ khác nhau, đây là nguyên nhân chính gây suy thận mạn tính giai đoạn cuối và tử vong Chẩn đoán mô bệnh học thận vài chục năm gần đây

phát triển rất nhanh, nó là bằng chứng khách quan về thực chất tổn

thương của tổ chức thận Mô bệnh học thận không những giúp bác sỹ lâm sàng quyết định các biện pháp điều trị như có dùng corticoid, thuốc ức chế miễn dịch hay không mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tiên lượng bệnh

Úng dụng y học cổ truyền để chẩn đoán, điều trị bệnh thận đã

được các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam nghiên cứu từ lâu Gần đây, việc nghiên cứu lâm sàng trên cơ sở biện chứng luận trị để phân thể bệnh đã có những tiến bộ rất lớn Hội nghị Nam Kinh - Trung Quốc 1986 đã chia bệnh viêm cầu thận mạn có hội chứng thận

hư theo “Bản chứng” và “Tiêu chứng”, trong đó “Bản chứng” được phân thành 4 loại bao gồm phế thận khí hư, khí âm lưỡng hư, tỳ thận dương hư và can thận âm hư “ “Tiêu chứng” bao gồm ngoại cảm, thủy thấp, thấp nhiệt, ứ huyết Bệnh cơ chủ yếu của bệnh cầu thận mạn là

“Bản hư - Tiêu thực”, mỗi loại “Bản hư” đều kèm theo một hoặc nhiều “Tiêu thực” Tiêu chuẩn phân loại này tương đối toàn diện, có ý nghĩa thực tiễn, sát với lâm sàng và cũng giải quyết tương đối hợp lý mối quan hệ giữa “Chính hư” và “là thực”

Trang 4

MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU

1 Phân loại các tổn thương mô bệnh học của bệnh cầu thận mạn tính

tiên phát theo tiêu chuẩn cua TCYTTG - 1995

2 Phân loại các thể lâm sàng theo biện chứng luận trị y học cổ truyền

bệnh cầu thận mạn tính tiên phát theo tiêu chuẩn Nam Kinh - 1986

3 Đối chiếu các thể lâm sàng của y học cổ truyền với tổn thương mô

bệnh học thận

Ý NGHĨA THỰC TIẾN VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Công trình này nghiên cứu tương đối hệ thống các thể lâm sàng

theo y học cổ truyền bệnh cầu thận mạn tính tiên phát có hội chứng

thận hư, được khách quan hóa bằng việc đối chiếu với các thể mô

bệnh học thận Góp phần giúp cho các thầy thuốc y học cổ truyền

(YHCT) trong chẩn đoán thể bệnh, từ đó có các biện pháp điều trị

phù hợp, đồng thời tiên lượng được mức độ của bệnh Đây là một

hướng đi phù hợp với phương châm của ngành y tế là kết hợp y học

hiện đại với y học cổ truyền ở một nước có bề dày truyền thống sử

dụng y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe cộng đồng như Việt Nam

Cấu trúc của luận án:

Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, luận án có 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu 36 trang

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 13 trang

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 42 trang

Chương 4: Bàn luận 23 trang

Luận án có 44 bảng, 15 biểu đồ, 12 hình, 2 sơ đồ và phụ lục, 126

tài liệu tham khảo (tiếng Việt 25, tiếng Anh 51, tiếng Pháp 2, tiếng

Trung Quốc 48)

KẾT LUẬN

Nghiên cứu các thể lâm sàng theo biện chứng luận trị y học cổ

truyền bệnh cầu thận mạn có HCTH, đối chiếu mô bệnh học thận theo bảng phân loại của TCYTTG - 1995 trên 80 bệnh nhân, chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:

1 Đặc điểm mô bệnh học bệnh cầu thận mạn có hội chứng thận hư

Thể tăng sinh gian mạch và thể thay đổi tối thiểu chiếm tỷ lệ cao

(thứ tự là 41,25% và 38,75%), viêm cầu thận màng và xơ cầu thận ổ - cục bộ chiếm tỷ lệ thấp (thứ tự là 13,75% và 6,25%)

2 Đặc điểm các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận

mạn tính có hội chứng thận hư

Đối với bản chứng: thể khí âm lưỡng hư và thể phế thận khí hư

chiếm tỷ lệ cao (thứ tự là 42,5% và 31,25%), sau đó là thể can thận âm

hư (17,5%), cuối cùng là thể tỳ thận dương hư (8,75%) Chúng tôi đi đến kết luận là, tỷ lệ bệnh nhân thể khí âm lưỡng hư và phế thận khí hư

ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu này (người Việt Nam) chiếm rất cao Đối với tiêu chứng: thủy thấp, thấp nhiệt chiếm tỷ lệ cao nhất (38,75%), ngoại cảm và ứ huyết chiếm tỷ lệ khá cao là 76,25%, hai

thể phong tà và đàm trọc mà chúng tôi bổ sung thêm cũng

chiếm một tỷ lệ khá cao (77,5% và 62,5%)

3 Đối chiếu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền và mô bệnh

học thận

Về bản chứng và các thể mô bệnh học cho thấy

- Thể phế thận khí hư thường có mô bệnh học là bệnh cầu thận thay đổi

tối thiểu (p<0,01), có lắng đọng IgG và IgM ở MĐCT (p<0,05)

Trang 5

+ Bổ thể

Đối với bổ thể C3, tỷ lệ có lắng đọng C3 lên MĐCT cao hơn tỷ

lệ không có lắng đọng, ở thể khí âm lưỡng hư và thể can thận âm hư

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 và <0,05 Không có sự

khác biệt nào về tý lệ lắng đọng bổ thể C4 đối với cả 4 thể Đối với

Clq tỷ lệ có lắng đọng chiếm tỷ lệ rất thấp các thể phế thận khí hư

8,33%, thể khí âm lưỡng hư 17,39% và thể can thận âm là 12,5%,

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và p<0,05

Tóm lại, sự lắng đọng bổ thể ở thể khí âm lưỡng hư và can thận

âm hư là rất cao, so với các thể khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05),

chứng tỏ ở hai thể này màng đáy cầu thận bị tổn thương nặng nề hơn

các thể khác

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 TONG QUAN BENH CAU THAN MAN TINH THEO TAY Y

* Khái niệm: Viêm cầu thận mạn tính là một bệnh có tổn thương cầu thận, tiến triển từ từ, kéo dài nhiều năm Các triệu chứng đặc trưng là phù, tăng huyết áp, protein niệu, hồng cầu niệu, nhưng cũng

có thể chỉ có protein và hồng cầu niệu đơn độc, sự biến đổi về mô

bệnh học thì không đồng nhất, nếu không điều trị đúng và kịp thời bệnh nhân rất dễ chuyển thành suy thận mạn

* Điều trị bệnh cầu thận mạn có hội chứng thận hư hiện nay chủ yếu là các biện pháp giảm protein niệu, giảm mỡ máu, lợi niệu, giảm huyết áp, duy trì và khôi phục chức năng thận nếu có tổn thương Khống chế protein niệu hiện nay chủ yếu sử dụng corticoid và thuốc

ức chế miễn dịch, tuy nhiên trong các trường hợp bệnh nhân kháng corfIcoid thì hiệu quả thấp mà tác dụng phụ lại lớn, vì nó gây ra một loạt các rối loạn về nội tiết

* Những hình thái chính của bệnh cầu thận bao gồm: bệnh cầu

thận thay đổi tối thiểu, viêm cầu thận tăng sinh gian mạch, viêm cầu thận màng và xơ cầu thận ổ - cục bộ

1.2 TONG QUAN BENH CAU THAN MAN TINH THEO Y HOC

CO TRUYEN

Bệnh viêm cầu thận mạn trong YHCT dựa theo triệu chứng lâm sàng rất giống chứng “Phong thủy”, “Thận phong” được mô tả trong sách “Hoàng đế nội kinh” Tuy nhiên các nhà y học cổ truyền hiện nay dựa trên các tài liệu mô tả bệnh viêm cầu thận mạn của y học hiện đại, thống nhất ý kiến về bệnh danh là “Thủy thũng”, một số thể

Trang 6

giống chứng “Yêu thống”, “Huyền vựng”, “Niệu huyết” Thủy

thũng nằm trong bệnh chứng “Cổ” là một trong tứ chứng nan y

“Phong, Lao, Cổ, Lại” của y học cổ truyền Biểu hiện của chứng

“Thủy thũng” đa dạng, hư thực thác tạp, trên lâm sàng đây là loại

bệnh khó biện chứng và khó điều trị Năm 1986, hội nghị toàn Trung

Quốc về Trung y thận học họp tại Nam Kinh đã thống nhất phân thể

bệnh cầu thận mạn tính thành bản chứng và tiêu chứng

Bản chứng bao gồm các thể:

(1) Phế thận khí hư: mặt và chân tay phù, sắc mặt vàng tối, kém

nhuận, thiểu khí vô lực, dễ cảm mạo, viêm hầu họng, cột sống đau

mỏi Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng mỏng, có vết ấn răng, mạch tế

(2) Khí âm lưỡng hư: da mặt kém nhuận, thiểu khí vô lực, hoa mắt

chóng mặt, triều nhiệt đạo hãn, sốt nhẹ về chiều, lòng bàn tay bàn

chân nóng, miệng họng khô hoặc viêm đau, nước tiểu đỏ ngắn Chất

lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế

(3) Can thận âm hư: mắt khô giảm thị lực, huyền vựng, đau đầu ù tai,

ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô, đau mỏi lưng, mộng tính hoặc

rối loạn kinh nguyệt, đại tiện táo Lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế hoặc

tế sác Thường có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu

(4) Tỳ thận dương hư: phù to toàn thân, sắc mặt trắng bệch, bụng lạnh,

chân tay lạnh, đau mỏi lưng, thiểu khí vô lực, ăn uống kém, tiểu đêm

nhiều lần, tình dục suy giảm hoặc rối loạn kinh nguyệt, đại tiện lỏng

Lưỡi nhợt, rêu trắng, có ấn răng Mạch trầm tế hoặc trầm trì vô lực

Tiêu chứng bao gồm các thể:

(1) Ngoại cảm: sợ lạnh phát sốt, tắc mũi hoặc hat xì hơi, đau ngứa

họng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn

ca chiếm 28,56%, thể thay đổi tối thiểu và xơ cầu than 6 cục bộ mỗi

thể chỉ có một ca chiếm tý lệ 14,29% Chúng tôi nhận thấy mô bệnh

học là xơ cầu thận ổ - cục bộ thường có biểu hiện lâm sàng là thể tỳ

thận dương hư

4.3.2 Đối chiếu các tiêu chứng với các thể mô bệnh học:

Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu chứng và các thể mô bệnh học cho thấy các tiêu chứng là ngoại cảm, thủy thấp, phong tà

thường gặp ở thể thay đổi tối thiểu, như vậy tiên lượng tương đối tốt

Chứng thấp nhiệt thường xuất hiện ở bệnh nhân viêm cầu thận tăng sinh gian mạch, cho thấy thể này có quan hệ trực tiếp với nhiễm

khuẩn Đàm trọc thường gặp ở thể xơ cầu thận ổ cục bộ, do đó trong

điều trị các trường hợp viêm cầu thận nặng cần xem xét sử dụng các

thuốc nhuyễn kiên hóa đàm

4.3.3 Phân bố lắng đọng miễn dịch và các thể bản hư

+ Các globulin miễn dịch

Trong số 48 ca được làm miễn dịch huỳnh quang, chúng tôi thấy

cả 4 thể bản hư đều có tý lệ lắng đọng IgG lên MĐCT tất cao, trong

đó thể phế thận khí hư và thể can thận âm hư sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê với p<0,05, thể khí âm lưỡng hư sự khác biệt có ý nghĩa với p<0.01, riêng thể tỳ thận dương hư không có sự khác biệt giữa tỷ lệ

có lắng đọng và không lắng đọng Đối với IgM, chúng tôi thấy 2 thể

phế thận khí hư và can thận âm hư có tỷ lệ lắng đọng IgM lên MĐCT rất cao, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 và p<0,05, thể khí âm lưỡng hư và thể tỳ thận dương hư tỷ lệ lắng đọng và không có lắng đọng IgG lên MĐCT không có sự khác biệt (p>0,05) Như vậy

sự lắng đọng các globulin miễn dịch hay xảy ra ở thể phế thận khí hư, khí âm lưỡng hư và can thận âm hư, thể tỳ thận dương hư ít có lắng đọng hơn

Trang 7

bệnh học thường có định hướng là xơ cầu thận ổ cục bộ nhiều hơn

Thể can thận âm hư thường có biểu hiện lâm sàng là một viêm cầu

thận mạn - HCTH kèm theo THA, bệnh nhân thể tỳ thận dương hư

thường có biểu hiện lâm sàng là viêm cầu thận mạn - HCTH kèm theo

tràn dịch màng bụng, màng phổi Điều đó cho thấy âm hư và dương

cang có quan hệ với nhau, dương hư và phù thũng có quan hệ với

nhau rất rõ ràng

4.3.1.2 Đối chiếu mô bệnh học với các thể bản hư

+ Trong 25 ca phế thận khí hư có đến 20 ca có mô bệnh học là thể

thay đổi tối thiểu, chiếm 80%, 5 ca là viêm cầu thận tăng sinh gian

mạch chiếm 20%, hai thể viêm cầu thận màng và xơ cầu thận ổ cục bộ

không có ca nào Như vậy mô bệnh học là thể thay đổi tối thiểu thường

có biểu hiện lâm sàng là phế thận khí hư với độ tin cậy p <0,01

+ Trong 34 ca khí âm lưỡng hư có 18 ca là viêm cầu thận tăng sinh

gian mạch chiếm 52,94%, đứng vị trí đầu tiên, sau đó là thể thay đổi

tối thiểu 8 ca chiếm 23,53%, viêm cầu thận màng 7 ca chiếm 20,59%,

xơ cầu thận ổ cục bộ I ca chiếm 2,94% Như vậy mô bệnh học là thể

tăng sinh gian mạch thường có biểu hiện lâm sàng là thể khí âm

lưỡng hư của YHCT với p<0,05

+ Trong 14 ca can thận âm hư, thể tăng sinh gian mạch có 7 ca chiếm

50%, sau đó là thể viêm cầu thận màng 3 ca chiếm tỷ lệ 21,42%, các

thể thay đổi tối thiểu và xơ cầu thận ổ cục bộ mỗi thể có 2 ca, chiếm

tỷ lệ 14,29% Chúng tôi nhận thấy, mô bệnh học là viêm cầu thận

màng thường có biểu hiện lâm sàng là thể can thận âm hư, tuy nhiên

không có sự khác biệt nào giữa các thể (p >0,05)

+ Trong 7 ca tỳ thận dương hư, bệnh cầu thận mạn thể tăng sinh gian

mạch có 3 ca chiếm tý lệ cao nhất 42,86%, thể xơ cầu thận ổ cục bộ 2

(2) Thủy thấp: toàn thân phù thũng, ấn lõm, tiểu tiện ngắn, thân thể

nặng nề khó chịu, tức ngực, ăn uống kém, thể trọng tăng, rêu lưỡi

trắng dầy bẩn, mạch trầm

(3) Thấp nhiệt: vùng mặt hoặc lưng có nhiều trứng cá, miệng khát nhưng không muốn uống nước, ăn kém bụng đầy, nước tiểu vàng nóng, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng bẩn, mạch sác

(4) Ứ huyết: đau cố định tại một điểm ở lưng, da khô hoặc chi thể tê

bì, đau như châm, sắc mặt tối hoặc xám, lưỡi tím có ban xuất huyết, bệnh sử kéo dài, mạch huyền

Tiêu chuẩn này nhấn mạnh: vần đề quan trọng nhất trong cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm cầu thận mạn tính là bản hư và tiêu thực,

mỗi thể bản hư đều có thể kèm theo một hoặc vài tiêu thực, cũng có

trường hợp lấy tiêu thực làm chính

Tiêu chuẩn Nam Kinh - 1986 tuy đã đề cập tương đối đầy đủ và toàn điện các thể bệnh của bệnh viêm cầu thận mạn tinh theo y học

cổ truyền, song thực tế lâm sàng còn thấy: yếu tố phong tà và đàm trọc cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát sinh và phát triển của bệnh

Trang 8

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu gồm 80 bệnh nhân bệnh cầu thận mạn

tính tiên phát có HCTH, được điều trị tại khoa Thận - Tiết niệu bệnh

viện Bạch Mai trong thời gian từ 8/2003 đến 12/2005 Các bệnh nhân

đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ sau đây:

(1) Tiêu chuẩn lựa chọn

- Các bệnh nhân là người trưởng thành

- Bệnh nhân được chẩn đoán là viêm cầu thận mạn tính tiên phát có

HCTH dựa trên lâm sàng và xét nghiệm

- Bệnh nhân được sinh thiết thận mà bệnh phẩm sinh thiết phải có từ 6

cầu thận trở lên

- Bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận từ độ I đến độ II

(2) Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân không có đầy đủ các triệu chứng và xét nghiệm của HCTH

- Các bệnh nhân HCTH thứ phát như viêm cầu thận lupút, tiểu đường

- Bệnh nhân suy thận độ III và độ IV

- Sinh thiết không đạt yêu cầu

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được khám lâm sàng theo

bệnh án mẫu

2.2.1 Khai thác các triệu chứng theo y học cổ truyền

Sử dụng phương pháp khám bệnh theo YHCT (vọng, văn, vấn,

thiết) để thu thập các triệu chứng Dựa vào tiêu chuẩn phân loại bệnh

cầu thận mạn tính theo YHCT là “Bản hư” và “Tiêu thực” của Hội

nphị toàn Trung Quốc về Trung y thận học (Nam Kinh-1986), trong

tiêu thực bổ sung “Phong tà” và “Đàm trọc”, sau đó qui nạp các triệu

chứng để chẩn đoán bệnh nhân thuộc thể bệnh tương ứng

thận âm hư 2 ca chiếm 6,45%, thể tỳ thận dương hu 1 ca chỉ chiếm

3,23% Thể phế thận khí hư có liên quan mật thiết với thể bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu, so sánh có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Từ đó

có thể kết luận, bệnh nhân thể phế thận khí hư thường có mô bệnh học thận là thể thay đổi tối thiểu và tiên lượng tốt

+ Trong 33 ca tăng sinh gian mạch có 18 ca khí âm lưỡng hư chiếm

tý lệ 54,54%, cao nhất trong tất cả các thể, thể can thận âm hư đứng

vị trí thứ hai với 7 ca chiếm 21,22%, thể phế thận khí hư có 5 ca

chiếm 15,15%, thể tỳ thận dương hư có 3 ca chiếm 9,09% Như vậy

đối chiếu lâm sàng với mô bệnh học chúng ta thấy, thể khí âm lưỡng

hư thường là thể viêm cầu thận tăng sinh gian mạch So sánh với các

thể khác có ý nghĩa thống kê với p<0,01

+ Trong 11 ca viêm cầu thận màng, thể khí âm lưỡng hư có 7 ca chiếm 63,64%, thể can thận âm hư có 3 ca chiếm 27,27%, thể tỳ thận dương hư có 1 ca chiếm 9,09%, thể phế thận khí hư không có ca viêm

cầu thận màng nào So sánh tỷ lệ giữa thể khí âm lưỡng hư với thể phế

thận khí hư và thể tỳ thận dương hư sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tuy nhiên so sánh tỷ lệ giữa khí âm lưỡng hư với can thận

âm hư không có sự khác biệt với p>0,05 Như vậy đối với thể can thận âm hư và khí âm lưỡng hư thì thường có mô bệnh học là thể viêm cầu thận màng

+ Trong 5 ca xơ cầu than ổ cục bộ, thể can thận âm hư và tỳ thận

dương hư đều có 2 ca chiếm 40%, thể khí âm lưỡng hư có 1 ca chiếm

20%, thể phế thận khí hư không có ca nào Tỷ lệ các thể lâm sàng

theo YHCT có mô bệnh học là xơ cầu thận ổ cục bộ không có sự khác

biệt nào (p>0,05) Tuy nhiên, thể tỳ thận dương hư và thể can thận âm

hư là hai thể tương đối nặng trên lâm sàng, do đó trong chẩn đoán mô

Trang 9

thấp tràn lan là rất phổ biến ở bệnh này Thấp nhiệt cũng chiếm một

tỷ lệ rất cao (38,75%), tỷ lệ này ở Trung Quốc là 75,21%, ở một nước

có khí hậu nhiệt đới gió mùa như nước ta, tỷ lệ này là phù hợp Huyết

ứ và sử dụng thuốc hoạt huyết hiện nay rất phổ biến ở tất cả các loại

bệnh mạn tính nói chung cũng như bệnh cầu thận mạn có HCTH nói

riêng, với 76,25% là một tỷ lệ tương đối lớn Do vậy chúng ta phải kết

hợp thuốc hoạt huyết để tránh ứ trệ tuần hoàn và chống tình trạng

tăng đông do rối loạn lipid máu gây ra Biểu hiện phong tà trong

nghiên cứu này chiếm tới 77,5%, đây là một tỷ lệ tương đối lớn mà

các bác sỹ phải hết sức lưu tâm trong quá trình điều trị Biểu hiện thứ

nhất của phong tà là phù mặt, trong điều trị ngoài thuốc lợi thủy phải

kèm thêm thuốc khu phong, biểu hiện thứ hai là nước tiểu nhiều bọt,

do phong tính khai tiết, các chat tinh vi bi bai tiét ra ngoài thường

kèm theo phong tà nên nước tiểu kèm theo nhiều bọt khí Tại Trung

Quốc đã có nhiều nghiên cứu về phép khu phong dùng trong viêm cầu

thận mạn - HCTH đạt kết quả tốt như bài thuốc “Độc hoạt tang ký

sinh thang” gia giảm Đàm trọc chiếm tới 50 ca chiếm tỷ lệ 62,5%,

cũng tương ứng với 50 ca suy thận độ [I và II trong 80 bệnh nhân

nghiên cứu Vì đàm trọc và suy giảm chức năng thận có liên quan rất

chặt chẽ với nhau, nên muốn bảo vệ được chức năng thận chúng ta

cần phải loại trừ yếu tố đàm trọc

4.3 DOL CHIEU CAC THE LAM SANG THEO Y HOC CO

TRUYEN VA CAC THE MO BENH HOC THAN

4.3.1 Bản hư và mô bệnh học

4.3.1.1 Đối chiếu bản hư với các thể mô bệnh học

+ Trong 31 ca bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu có 20 ca thể phế thận

khí hư chiếm 64,52%, thể khí âm lưỡng hư 8 ca chiếm 25,8%, thể can

2.2.2 Nghiên cứu mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang

80 bệnh nhân nghiên cứu đều được sinh thiết thận

Sinh thiết thận qua da bằng súng BARD - Magnum được tiến hành tại khoa Thận - Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai dưới sự hướng dẫn của siêu âm

Các bước tiến hành như sau:

+ Lựa chọn bệnh nhân: những bệnh nhân được chẩn đoán xác định là viêm cầu thận mạn có HCTH, các xét nghiệm là tiểu cầu, thời gian máu đông, máu chảy, tỷ lệ prothrombin trong giới hạn bình thường + Bệnh nhân được tiến hành sinh thiết buổi sáng, sau khi đã đi hết

nước tiểu

+ Thứ tự các bước được tiến hành như sau:

- Bệnh nhân nằm sấp trên giường cứng, kê một gối dày khoảng

15 cm dưới bụng

- Siêu âm để xác định cực dưới thận

- Gây tê tại chỗ, từng lớp từ ngoài da vào sát bao thận bằng

novocain hoặc xylocain 1%, chờ khoảng 5 phút

- Tiến hành sinh thiết qua da bằng súng ở vị trí đã định Mẫu sinh thiết được ngâm trong dung dịch formol 10% để gửi tiêu bản làm hiển vi thường Mẫu sinh thiết phải đạt độ dài khoảng

1 cm (mảnh sinh thiết dùng cho kỹ thuật hiển vi quang học phải

có ít nhất 6 cầu thận)

- Sau sinh thiết, bệnh nhân phải nằm tại giường 24h, theo dõi

mạch, nhiệt độ, huyết áp, màu sắc và số lượng nước tiểu để

kiểm soát tình trạng chảy máu ở mô thận Những trường hợp cần thiết được dùng thêm kháng sinh

Trang 10

2.2.2.1 Nghiên cứu mô bệnh học

* Cố định bệnh phẩm: dùng dung dịch formalin có độ axít nhẹ được

pha bằng cách hòa loãng với tỷ lệ I : 10 dung dịch formaldehit dam

đặc (37 - 40%) Mánh sinh thiết thận được cố định trong dung dịch

nay it nhat trong 6 gid

* Vùi đúc trong paralin: trước hết xử lý bệnh phẩm bằng tẩy nước với

nồng độ cồn tăng dần, sau đó làm trong và vùi trong parafin

* Cat tiêu bản: tiêu bản được cắt với độ dầy 3iưn

*Nhuộm: các tiêu ban được nhuộm theo phương pháp: HE

(Hematoxyline Eosine), PAS (Periodic Acid Schiff)

* Doc két qua:

+ Phân tích tổn thương: dưới kính hiển vi quang học chúng tôi

đánh giá như sau:

- Thay đổi màng đáy: màng đáy có thể bị dày lên hoặc tách đôi

- Tăng sinh tế bào: có thể là tăng sinh tế bào gian mạch hoặc tăng

sinh tế bào biểu mô

- Xơ hóa cầu thận: có thể xơ hóa toàn bộ hoặc một phần cầu thận

Nhuộm HE hoặc nhuộm PAS vùng xơ hóa bắt màu đỏ

- Tổn thương mô kẽ: mô kẽ có thể bị xâm nhập viêm do các lympho

bào hoặc các tế bào viêm khác Cũng có khi mô kẽ bị xơ hóa

+ Phân bố tổn thương:

- Cục bộ hay đoạn: tổn thương chỉ xảy ra ở một phần của cầu thận

- Toàn bộ: tổn thương chiếm toàn bộ cầu thận

- Ổ: tổn thương chỉ có ở một số cầu thận Chiếm < 50% tổng số cầu thận

- Lan tỏa: tổn thương ở hầu hết các cầu thận Chiếm >50% tổng số

cầu thận

+ Phân loại tổn thương:

Chúng tôi phân loại bệnh cầu thận có hội chứng thận hư theo

phân loại của TCY TTG - 1995 bao gồm:

Bề mặt tế bào gian mạch cũng có các thụ thể với các tế bào lympho T Như vậy khi có tăng sinh các tế bao gian mach va cac té bao lympho trong các khoang gian mạch, chứng tỏ có tình trạng nhiễm khuẩn hoặc các phản ứng miễn dịch xảy ra ở thận Ở nước ta cũng như một

số nước đang phát triển, do điều kiện vệ sinh chưa tốt, nên các bệnh

nhiễm khuẩn và một số bệnh liên quan đến miễn dịch là rất phổ biến,

đây là một trong các lý do khiến cho bệnh nhân viêm cầu thận tăng sinh gian mạch trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ cao

4.2 TỶ LỆ CÁC THỂ LÂM SÀNG THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN

4.2.1 Tỷ lệ các thể lâm sàng theo bản hư

Kết quả của phân thể bệnh theo biện chứng luận trị YHCT cho

thấy, thể khí âm lưỡng hư chiếm tỷ lệ cao nhất 42,5%, tiếp theo là thể

phế thận khí hư chiếm 31,25%, thể can thận âm hư chiếm 17,5% cuối cùng là thể tỳ thận dương hư chiếm 8,75% Trong một nghiên cứu trước đây của chúng tôi trên 117 bệnh nhân Trung Quốc tý lệ các thể như sau: thể khí âm lưỡng hư chiếm 69,23%; phế thận khí hư chiếm 16,23%; thể can thận âm hư chiếm 9,4%; thể tỳ thận dương hư chiếm 5,12% Chúng tôi thấy tỷ lệ bệnh nhân thể phế thận khí hư ở nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu này (người Việt Nam) cao hơn, chứng tỏ bệnh nhân được phát hiện tương đối sớm, tổn thương mới ở phần khí

và âm chứ chưa tổn thương đến phần dương của cơ thể, nhưng cũng

có thể là do tình trạng bệnh nhân vượt tuyến điều trị nhiều hơn ở Trung Quốc

4.2.2 Tỷ lệ các thể tiêu thực

Bệnh nhân đang bị cảm mạo hoặc đã có tiền sử ít nhất một lần bị cảm mạo trong quá trình bệnh tương đối phổ biến chiếm 76,25% Thủy thấp chiếm tỷ lệ cao nhất (88,75%), chứng tỏ tình trạng thủy

Ngày đăng: 08/04/2014, 13:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.(32 -35): Đối chiếu mô bệnh học với tiêu thực - Nghiên cứu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học
Bảng 3. (32 -35): Đối chiếu mô bệnh học với tiêu thực (Trang 13)
Bảng 3.21: Tỷ lệ bệnh nhân theo  tiêu thực - Nghiên cứu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học
Bảng 3.21 Tỷ lệ bệnh nhân theo tiêu thực (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w