Nghiên cứu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học
Trang 1HOC VIEN QUAN Y
PHAM XUAN PHONG
NGHIEN CUU CAC THE LAM SANG THEO Y HOC
CO TRUYEN BENH CAU THAN TIEN PHAT CO DOI
CHIEU MO BENH HOC
Chuyên ngành: Bệnh học nội khoa
Mã số: 3.01.31
TÓM TAT LUAN AN TIEN SY Y HOC
HÀ NỘI - 2007
Trang 2HOC VIEN QUAN Y
Người hướng dẫn khoa học:
GS Banh Van Khiu
PGS.TS Lé Dinh Roanh
Phan bién 1: GS.TSKH Lé Nam Tra
Phản biện 2: PGS.TS Đỗ Thị Liệu
Phản biện 3: PGS.TS Chu Quốc Trường
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp
tại Học viện quân y hồi 8 giờ 30 phút, ngày 12 tháng O2 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia
Thư viện Thông tin Y học Trung ương
Thư viện Học viện Quân y
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1 Phạm Xuân Phong, Tang An Binh, Vuong Cuong (2000),
“Nghiên cứu mối quan hệ của biện chứng luận tri Trung y va
mô bệnh học của I17 ca viêm cầu thận mạn tính”, Giang Tô Trung y, Giang Tô, Trung Quốc, 21(12), tr 17-18
2 Phạm Xuân Phong, Vương Cương, Tăng An Bình (2003),
“Phân tích kết quả phép khu phong ích thận điều trị 73 ca viêm cầu thận mạn có tiêu chứng phong tà”, Giang Tô Trung y, Giang Tô, Trung Quốc, 24(5), tr 12-14
3 Phạm Xuân Phong, Bành Văn Khìu (2004), “Úng dụng đông y trong điều trị bệnh lý thận hiện nay và hướng phát triển trong tương lai”, Tạp chí nghiên cứu Y Dược học cổ truyền Việt Nam, Hà Nội, 13, tr 28-30
4 Phạm Xuân Phong (2006), “Nghiên cứu về đông y các thể
lâm sàng bệnh cầu thận tiên phát có đối chiếu mô bệnh học”, Tạp chí Y dược học Quân sự, 31, tr 330-335
Trang 3- Thể khí âm lưỡng hư thường có mô bệnh học là viêm cầu thận tăng
sinh gian mạch (p<0,01), có lắng đọng IgG và bổ thể C3 ở MĐCT
(p<0,01)
- Thể can thận âm hư thường là viêm cầu thận màng, có lắng đọng
IgG, IgM và bổ thể C3 ở MĐCT (p<0,05)
- Thể tỳ thận dương hư thường có mô bệnh học là thể xơ cầu thận ổ - cục bộ
Về tiêu chứng và các thể mô bệnh học cho thấy
- Tiêu chứng là thủy thấp gặp ở hầu hết các thể
- Tiêu chứng là ứ huyết thường xuất hiện ở thể thay đổi tối thiểu
- Tiêu chứng thấp nhiệt thường xuất hiện ở thể viêm cầu thận tăng sinh
gian mach
- Tiêu chứng phong tà hay gap ở thể viêm cầu thận màng
- Tiêu chứng ngoại cảm và đàm trọc thường gặp ở thể xơ cầu thận ổ cục bộ
KIẾN NGHỊ
- Cần áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán và đối chiếu mô bệnh học
này cho chuyên ngành thận học YHCT, đặc biệt là các cơ sở y tế chưa
có điều kiện triển khai kỹ thuật sinh thiết thận, góp phần tăng cường
chất lượng trong chẩn đoán và điều trị bệnh cầu thận mạn tính bằng y
học cổ truyền
- Ngoài các tiêu chứng ngoại cảm, thủy thấp, thấp nhiệt và ứ
huyết, đàm trọc và phong tà cũng là hai tiêu chứng thường gặp trong
viêm cầu thận mạn, vì vậy cần phải sử dụng thêm các thuốc khu
phong, hóa đàm trong điều trị nếu bệnh nhân mắc các tiêu chứng này
DAT VAN DE
Bệnh cầu thận mạn tính tiên phát là một bệnh lý phức tạp, do nhiều nguyên nhân gây ra, triệu chứng thường là phù, tăng huyết áp, protein niệu, hồng cầu niệu, và giảm chức năng thận ở các mức độ khác nhau, đây là nguyên nhân chính gây suy thận mạn tính giai đoạn cuối và tử vong Chẩn đoán mô bệnh học thận vài chục năm gần đây
phát triển rất nhanh, nó là bằng chứng khách quan về thực chất tổn
thương của tổ chức thận Mô bệnh học thận không những giúp bác sỹ lâm sàng quyết định các biện pháp điều trị như có dùng corticoid, thuốc ức chế miễn dịch hay không mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tiên lượng bệnh
Úng dụng y học cổ truyền để chẩn đoán, điều trị bệnh thận đã
được các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam nghiên cứu từ lâu Gần đây, việc nghiên cứu lâm sàng trên cơ sở biện chứng luận trị để phân thể bệnh đã có những tiến bộ rất lớn Hội nghị Nam Kinh - Trung Quốc 1986 đã chia bệnh viêm cầu thận mạn có hội chứng thận
hư theo “Bản chứng” và “Tiêu chứng”, trong đó “Bản chứng” được phân thành 4 loại bao gồm phế thận khí hư, khí âm lưỡng hư, tỳ thận dương hư và can thận âm hư “ “Tiêu chứng” bao gồm ngoại cảm, thủy thấp, thấp nhiệt, ứ huyết Bệnh cơ chủ yếu của bệnh cầu thận mạn là
“Bản hư - Tiêu thực”, mỗi loại “Bản hư” đều kèm theo một hoặc nhiều “Tiêu thực” Tiêu chuẩn phân loại này tương đối toàn diện, có ý nghĩa thực tiễn, sát với lâm sàng và cũng giải quyết tương đối hợp lý mối quan hệ giữa “Chính hư” và “là thực”
Trang 4MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU
1 Phân loại các tổn thương mô bệnh học của bệnh cầu thận mạn tính
tiên phát theo tiêu chuẩn cua TCYTTG - 1995
2 Phân loại các thể lâm sàng theo biện chứng luận trị y học cổ truyền
bệnh cầu thận mạn tính tiên phát theo tiêu chuẩn Nam Kinh - 1986
3 Đối chiếu các thể lâm sàng của y học cổ truyền với tổn thương mô
bệnh học thận
Ý NGHĨA THỰC TIẾN VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Công trình này nghiên cứu tương đối hệ thống các thể lâm sàng
theo y học cổ truyền bệnh cầu thận mạn tính tiên phát có hội chứng
thận hư, được khách quan hóa bằng việc đối chiếu với các thể mô
bệnh học thận Góp phần giúp cho các thầy thuốc y học cổ truyền
(YHCT) trong chẩn đoán thể bệnh, từ đó có các biện pháp điều trị
phù hợp, đồng thời tiên lượng được mức độ của bệnh Đây là một
hướng đi phù hợp với phương châm của ngành y tế là kết hợp y học
hiện đại với y học cổ truyền ở một nước có bề dày truyền thống sử
dụng y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe cộng đồng như Việt Nam
Cấu trúc của luận án:
Ngoài phần đặt vấn đề và kết luận, luận án có 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tài liệu 36 trang
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 13 trang
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 42 trang
Chương 4: Bàn luận 23 trang
Luận án có 44 bảng, 15 biểu đồ, 12 hình, 2 sơ đồ và phụ lục, 126
tài liệu tham khảo (tiếng Việt 25, tiếng Anh 51, tiếng Pháp 2, tiếng
Trung Quốc 48)
KẾT LUẬN
Nghiên cứu các thể lâm sàng theo biện chứng luận trị y học cổ
truyền bệnh cầu thận mạn có HCTH, đối chiếu mô bệnh học thận theo bảng phân loại của TCYTTG - 1995 trên 80 bệnh nhân, chúng tôi rút ra được một số kết luận như sau:
1 Đặc điểm mô bệnh học bệnh cầu thận mạn có hội chứng thận hư
Thể tăng sinh gian mạch và thể thay đổi tối thiểu chiếm tỷ lệ cao
(thứ tự là 41,25% và 38,75%), viêm cầu thận màng và xơ cầu thận ổ - cục bộ chiếm tỷ lệ thấp (thứ tự là 13,75% và 6,25%)
2 Đặc điểm các thể lâm sàng theo y học cổ truyền bệnh cầu thận
mạn tính có hội chứng thận hư
Đối với bản chứng: thể khí âm lưỡng hư và thể phế thận khí hư
chiếm tỷ lệ cao (thứ tự là 42,5% và 31,25%), sau đó là thể can thận âm
hư (17,5%), cuối cùng là thể tỳ thận dương hư (8,75%) Chúng tôi đi đến kết luận là, tỷ lệ bệnh nhân thể khí âm lưỡng hư và phế thận khí hư
ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu này (người Việt Nam) chiếm rất cao Đối với tiêu chứng: thủy thấp, thấp nhiệt chiếm tỷ lệ cao nhất (38,75%), ngoại cảm và ứ huyết chiếm tỷ lệ khá cao là 76,25%, hai
thể phong tà và đàm trọc mà chúng tôi bổ sung thêm cũng
chiếm một tỷ lệ khá cao (77,5% và 62,5%)
3 Đối chiếu các thể lâm sàng theo y học cổ truyền và mô bệnh
học thận
Về bản chứng và các thể mô bệnh học cho thấy
- Thể phế thận khí hư thường có mô bệnh học là bệnh cầu thận thay đổi
tối thiểu (p<0,01), có lắng đọng IgG và IgM ở MĐCT (p<0,05)
Trang 5+ Bổ thể
Đối với bổ thể C3, tỷ lệ có lắng đọng C3 lên MĐCT cao hơn tỷ
lệ không có lắng đọng, ở thể khí âm lưỡng hư và thể can thận âm hư
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 và <0,05 Không có sự
khác biệt nào về tý lệ lắng đọng bổ thể C4 đối với cả 4 thể Đối với
Clq tỷ lệ có lắng đọng chiếm tỷ lệ rất thấp các thể phế thận khí hư
8,33%, thể khí âm lưỡng hư 17,39% và thể can thận âm là 12,5%,
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001 và p<0,05
Tóm lại, sự lắng đọng bổ thể ở thể khí âm lưỡng hư và can thận
âm hư là rất cao, so với các thể khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05),
chứng tỏ ở hai thể này màng đáy cầu thận bị tổn thương nặng nề hơn
các thể khác
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 TONG QUAN BENH CAU THAN MAN TINH THEO TAY Y
* Khái niệm: Viêm cầu thận mạn tính là một bệnh có tổn thương cầu thận, tiến triển từ từ, kéo dài nhiều năm Các triệu chứng đặc trưng là phù, tăng huyết áp, protein niệu, hồng cầu niệu, nhưng cũng
có thể chỉ có protein và hồng cầu niệu đơn độc, sự biến đổi về mô
bệnh học thì không đồng nhất, nếu không điều trị đúng và kịp thời bệnh nhân rất dễ chuyển thành suy thận mạn
* Điều trị bệnh cầu thận mạn có hội chứng thận hư hiện nay chủ yếu là các biện pháp giảm protein niệu, giảm mỡ máu, lợi niệu, giảm huyết áp, duy trì và khôi phục chức năng thận nếu có tổn thương Khống chế protein niệu hiện nay chủ yếu sử dụng corticoid và thuốc
ức chế miễn dịch, tuy nhiên trong các trường hợp bệnh nhân kháng corfIcoid thì hiệu quả thấp mà tác dụng phụ lại lớn, vì nó gây ra một loạt các rối loạn về nội tiết
* Những hình thái chính của bệnh cầu thận bao gồm: bệnh cầu
thận thay đổi tối thiểu, viêm cầu thận tăng sinh gian mạch, viêm cầu thận màng và xơ cầu thận ổ - cục bộ
1.2 TONG QUAN BENH CAU THAN MAN TINH THEO Y HOC
CO TRUYEN
Bệnh viêm cầu thận mạn trong YHCT dựa theo triệu chứng lâm sàng rất giống chứng “Phong thủy”, “Thận phong” được mô tả trong sách “Hoàng đế nội kinh” Tuy nhiên các nhà y học cổ truyền hiện nay dựa trên các tài liệu mô tả bệnh viêm cầu thận mạn của y học hiện đại, thống nhất ý kiến về bệnh danh là “Thủy thũng”, một số thể
Trang 6giống chứng “Yêu thống”, “Huyền vựng”, “Niệu huyết” Thủy
thũng nằm trong bệnh chứng “Cổ” là một trong tứ chứng nan y
“Phong, Lao, Cổ, Lại” của y học cổ truyền Biểu hiện của chứng
“Thủy thũng” đa dạng, hư thực thác tạp, trên lâm sàng đây là loại
bệnh khó biện chứng và khó điều trị Năm 1986, hội nghị toàn Trung
Quốc về Trung y thận học họp tại Nam Kinh đã thống nhất phân thể
bệnh cầu thận mạn tính thành bản chứng và tiêu chứng
Bản chứng bao gồm các thể:
(1) Phế thận khí hư: mặt và chân tay phù, sắc mặt vàng tối, kém
nhuận, thiểu khí vô lực, dễ cảm mạo, viêm hầu họng, cột sống đau
mỏi Chất lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng mỏng, có vết ấn răng, mạch tế
(2) Khí âm lưỡng hư: da mặt kém nhuận, thiểu khí vô lực, hoa mắt
chóng mặt, triều nhiệt đạo hãn, sốt nhẹ về chiều, lòng bàn tay bàn
chân nóng, miệng họng khô hoặc viêm đau, nước tiểu đỏ ngắn Chất
lưỡi hồng, ít rêu, mạch tế
(3) Can thận âm hư: mắt khô giảm thị lực, huyền vựng, đau đầu ù tai,
ngũ tâm phiền nhiệt, miệng họng khô, đau mỏi lưng, mộng tính hoặc
rối loạn kinh nguyệt, đại tiện táo Lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế hoặc
tế sác Thường có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu
(4) Tỳ thận dương hư: phù to toàn thân, sắc mặt trắng bệch, bụng lạnh,
chân tay lạnh, đau mỏi lưng, thiểu khí vô lực, ăn uống kém, tiểu đêm
nhiều lần, tình dục suy giảm hoặc rối loạn kinh nguyệt, đại tiện lỏng
Lưỡi nhợt, rêu trắng, có ấn răng Mạch trầm tế hoặc trầm trì vô lực
Tiêu chứng bao gồm các thể:
(1) Ngoại cảm: sợ lạnh phát sốt, tắc mũi hoặc hat xì hơi, đau ngứa
họng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn
ca chiếm 28,56%, thể thay đổi tối thiểu và xơ cầu than 6 cục bộ mỗi
thể chỉ có một ca chiếm tý lệ 14,29% Chúng tôi nhận thấy mô bệnh
học là xơ cầu thận ổ - cục bộ thường có biểu hiện lâm sàng là thể tỳ
thận dương hư
4.3.2 Đối chiếu các tiêu chứng với các thể mô bệnh học:
Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa tiêu chứng và các thể mô bệnh học cho thấy các tiêu chứng là ngoại cảm, thủy thấp, phong tà
thường gặp ở thể thay đổi tối thiểu, như vậy tiên lượng tương đối tốt
Chứng thấp nhiệt thường xuất hiện ở bệnh nhân viêm cầu thận tăng sinh gian mạch, cho thấy thể này có quan hệ trực tiếp với nhiễm
khuẩn Đàm trọc thường gặp ở thể xơ cầu thận ổ cục bộ, do đó trong
điều trị các trường hợp viêm cầu thận nặng cần xem xét sử dụng các
thuốc nhuyễn kiên hóa đàm
4.3.3 Phân bố lắng đọng miễn dịch và các thể bản hư
+ Các globulin miễn dịch
Trong số 48 ca được làm miễn dịch huỳnh quang, chúng tôi thấy
cả 4 thể bản hư đều có tý lệ lắng đọng IgG lên MĐCT tất cao, trong
đó thể phế thận khí hư và thể can thận âm hư sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p<0,05, thể khí âm lưỡng hư sự khác biệt có ý nghĩa với p<0.01, riêng thể tỳ thận dương hư không có sự khác biệt giữa tỷ lệ
có lắng đọng và không lắng đọng Đối với IgM, chúng tôi thấy 2 thể
phế thận khí hư và can thận âm hư có tỷ lệ lắng đọng IgM lên MĐCT rất cao, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 và p<0,05, thể khí âm lưỡng hư và thể tỳ thận dương hư tỷ lệ lắng đọng và không có lắng đọng IgG lên MĐCT không có sự khác biệt (p>0,05) Như vậy
sự lắng đọng các globulin miễn dịch hay xảy ra ở thể phế thận khí hư, khí âm lưỡng hư và can thận âm hư, thể tỳ thận dương hư ít có lắng đọng hơn
Trang 7bệnh học thường có định hướng là xơ cầu thận ổ cục bộ nhiều hơn
Thể can thận âm hư thường có biểu hiện lâm sàng là một viêm cầu
thận mạn - HCTH kèm theo THA, bệnh nhân thể tỳ thận dương hư
thường có biểu hiện lâm sàng là viêm cầu thận mạn - HCTH kèm theo
tràn dịch màng bụng, màng phổi Điều đó cho thấy âm hư và dương
cang có quan hệ với nhau, dương hư và phù thũng có quan hệ với
nhau rất rõ ràng
4.3.1.2 Đối chiếu mô bệnh học với các thể bản hư
+ Trong 25 ca phế thận khí hư có đến 20 ca có mô bệnh học là thể
thay đổi tối thiểu, chiếm 80%, 5 ca là viêm cầu thận tăng sinh gian
mạch chiếm 20%, hai thể viêm cầu thận màng và xơ cầu thận ổ cục bộ
không có ca nào Như vậy mô bệnh học là thể thay đổi tối thiểu thường
có biểu hiện lâm sàng là phế thận khí hư với độ tin cậy p <0,01
+ Trong 34 ca khí âm lưỡng hư có 18 ca là viêm cầu thận tăng sinh
gian mạch chiếm 52,94%, đứng vị trí đầu tiên, sau đó là thể thay đổi
tối thiểu 8 ca chiếm 23,53%, viêm cầu thận màng 7 ca chiếm 20,59%,
xơ cầu thận ổ cục bộ I ca chiếm 2,94% Như vậy mô bệnh học là thể
tăng sinh gian mạch thường có biểu hiện lâm sàng là thể khí âm
lưỡng hư của YHCT với p<0,05
+ Trong 14 ca can thận âm hư, thể tăng sinh gian mạch có 7 ca chiếm
50%, sau đó là thể viêm cầu thận màng 3 ca chiếm tỷ lệ 21,42%, các
thể thay đổi tối thiểu và xơ cầu thận ổ cục bộ mỗi thể có 2 ca, chiếm
tỷ lệ 14,29% Chúng tôi nhận thấy, mô bệnh học là viêm cầu thận
màng thường có biểu hiện lâm sàng là thể can thận âm hư, tuy nhiên
không có sự khác biệt nào giữa các thể (p >0,05)
+ Trong 7 ca tỳ thận dương hư, bệnh cầu thận mạn thể tăng sinh gian
mạch có 3 ca chiếm tý lệ cao nhất 42,86%, thể xơ cầu thận ổ cục bộ 2
(2) Thủy thấp: toàn thân phù thũng, ấn lõm, tiểu tiện ngắn, thân thể
nặng nề khó chịu, tức ngực, ăn uống kém, thể trọng tăng, rêu lưỡi
trắng dầy bẩn, mạch trầm
(3) Thấp nhiệt: vùng mặt hoặc lưng có nhiều trứng cá, miệng khát nhưng không muốn uống nước, ăn kém bụng đầy, nước tiểu vàng nóng, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng bẩn, mạch sác
(4) Ứ huyết: đau cố định tại một điểm ở lưng, da khô hoặc chi thể tê
bì, đau như châm, sắc mặt tối hoặc xám, lưỡi tím có ban xuất huyết, bệnh sử kéo dài, mạch huyền
Tiêu chuẩn này nhấn mạnh: vần đề quan trọng nhất trong cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm cầu thận mạn tính là bản hư và tiêu thực,
mỗi thể bản hư đều có thể kèm theo một hoặc vài tiêu thực, cũng có
trường hợp lấy tiêu thực làm chính
Tiêu chuẩn Nam Kinh - 1986 tuy đã đề cập tương đối đầy đủ và toàn điện các thể bệnh của bệnh viêm cầu thận mạn tinh theo y học
cổ truyền, song thực tế lâm sàng còn thấy: yếu tố phong tà và đàm trọc cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát sinh và phát triển của bệnh
Trang 8CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu gồm 80 bệnh nhân bệnh cầu thận mạn
tính tiên phát có HCTH, được điều trị tại khoa Thận - Tiết niệu bệnh
viện Bạch Mai trong thời gian từ 8/2003 đến 12/2005 Các bệnh nhân
đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ sau đây:
(1) Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các bệnh nhân là người trưởng thành
- Bệnh nhân được chẩn đoán là viêm cầu thận mạn tính tiên phát có
HCTH dựa trên lâm sàng và xét nghiệm
- Bệnh nhân được sinh thiết thận mà bệnh phẩm sinh thiết phải có từ 6
cầu thận trở lên
- Bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận từ độ I đến độ II
(2) Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân không có đầy đủ các triệu chứng và xét nghiệm của HCTH
- Các bệnh nhân HCTH thứ phát như viêm cầu thận lupút, tiểu đường
- Bệnh nhân suy thận độ III và độ IV
- Sinh thiết không đạt yêu cầu
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được khám lâm sàng theo
bệnh án mẫu
2.2.1 Khai thác các triệu chứng theo y học cổ truyền
Sử dụng phương pháp khám bệnh theo YHCT (vọng, văn, vấn,
thiết) để thu thập các triệu chứng Dựa vào tiêu chuẩn phân loại bệnh
cầu thận mạn tính theo YHCT là “Bản hư” và “Tiêu thực” của Hội
nphị toàn Trung Quốc về Trung y thận học (Nam Kinh-1986), trong
tiêu thực bổ sung “Phong tà” và “Đàm trọc”, sau đó qui nạp các triệu
chứng để chẩn đoán bệnh nhân thuộc thể bệnh tương ứng
thận âm hư 2 ca chiếm 6,45%, thể tỳ thận dương hu 1 ca chỉ chiếm
3,23% Thể phế thận khí hư có liên quan mật thiết với thể bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu, so sánh có ý nghĩa thống kê với p<0,01 Từ đó
có thể kết luận, bệnh nhân thể phế thận khí hư thường có mô bệnh học thận là thể thay đổi tối thiểu và tiên lượng tốt
+ Trong 33 ca tăng sinh gian mạch có 18 ca khí âm lưỡng hư chiếm
tý lệ 54,54%, cao nhất trong tất cả các thể, thể can thận âm hư đứng
vị trí thứ hai với 7 ca chiếm 21,22%, thể phế thận khí hư có 5 ca
chiếm 15,15%, thể tỳ thận dương hư có 3 ca chiếm 9,09% Như vậy
đối chiếu lâm sàng với mô bệnh học chúng ta thấy, thể khí âm lưỡng
hư thường là thể viêm cầu thận tăng sinh gian mạch So sánh với các
thể khác có ý nghĩa thống kê với p<0,01
+ Trong 11 ca viêm cầu thận màng, thể khí âm lưỡng hư có 7 ca chiếm 63,64%, thể can thận âm hư có 3 ca chiếm 27,27%, thể tỳ thận dương hư có 1 ca chiếm 9,09%, thể phế thận khí hư không có ca viêm
cầu thận màng nào So sánh tỷ lệ giữa thể khí âm lưỡng hư với thể phế
thận khí hư và thể tỳ thận dương hư sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tuy nhiên so sánh tỷ lệ giữa khí âm lưỡng hư với can thận
âm hư không có sự khác biệt với p>0,05 Như vậy đối với thể can thận âm hư và khí âm lưỡng hư thì thường có mô bệnh học là thể viêm cầu thận màng
+ Trong 5 ca xơ cầu than ổ cục bộ, thể can thận âm hư và tỳ thận
dương hư đều có 2 ca chiếm 40%, thể khí âm lưỡng hư có 1 ca chiếm
20%, thể phế thận khí hư không có ca nào Tỷ lệ các thể lâm sàng
theo YHCT có mô bệnh học là xơ cầu thận ổ cục bộ không có sự khác
biệt nào (p>0,05) Tuy nhiên, thể tỳ thận dương hư và thể can thận âm
hư là hai thể tương đối nặng trên lâm sàng, do đó trong chẩn đoán mô
Trang 9thấp tràn lan là rất phổ biến ở bệnh này Thấp nhiệt cũng chiếm một
tỷ lệ rất cao (38,75%), tỷ lệ này ở Trung Quốc là 75,21%, ở một nước
có khí hậu nhiệt đới gió mùa như nước ta, tỷ lệ này là phù hợp Huyết
ứ và sử dụng thuốc hoạt huyết hiện nay rất phổ biến ở tất cả các loại
bệnh mạn tính nói chung cũng như bệnh cầu thận mạn có HCTH nói
riêng, với 76,25% là một tỷ lệ tương đối lớn Do vậy chúng ta phải kết
hợp thuốc hoạt huyết để tránh ứ trệ tuần hoàn và chống tình trạng
tăng đông do rối loạn lipid máu gây ra Biểu hiện phong tà trong
nghiên cứu này chiếm tới 77,5%, đây là một tỷ lệ tương đối lớn mà
các bác sỹ phải hết sức lưu tâm trong quá trình điều trị Biểu hiện thứ
nhất của phong tà là phù mặt, trong điều trị ngoài thuốc lợi thủy phải
kèm thêm thuốc khu phong, biểu hiện thứ hai là nước tiểu nhiều bọt,
do phong tính khai tiết, các chat tinh vi bi bai tiét ra ngoài thường
kèm theo phong tà nên nước tiểu kèm theo nhiều bọt khí Tại Trung
Quốc đã có nhiều nghiên cứu về phép khu phong dùng trong viêm cầu
thận mạn - HCTH đạt kết quả tốt như bài thuốc “Độc hoạt tang ký
sinh thang” gia giảm Đàm trọc chiếm tới 50 ca chiếm tỷ lệ 62,5%,
cũng tương ứng với 50 ca suy thận độ [I và II trong 80 bệnh nhân
nghiên cứu Vì đàm trọc và suy giảm chức năng thận có liên quan rất
chặt chẽ với nhau, nên muốn bảo vệ được chức năng thận chúng ta
cần phải loại trừ yếu tố đàm trọc
4.3 DOL CHIEU CAC THE LAM SANG THEO Y HOC CO
TRUYEN VA CAC THE MO BENH HOC THAN
4.3.1 Bản hư và mô bệnh học
4.3.1.1 Đối chiếu bản hư với các thể mô bệnh học
+ Trong 31 ca bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu có 20 ca thể phế thận
khí hư chiếm 64,52%, thể khí âm lưỡng hư 8 ca chiếm 25,8%, thể can
2.2.2 Nghiên cứu mô bệnh học và miễn dịch huỳnh quang
80 bệnh nhân nghiên cứu đều được sinh thiết thận
Sinh thiết thận qua da bằng súng BARD - Magnum được tiến hành tại khoa Thận - Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai dưới sự hướng dẫn của siêu âm
Các bước tiến hành như sau:
+ Lựa chọn bệnh nhân: những bệnh nhân được chẩn đoán xác định là viêm cầu thận mạn có HCTH, các xét nghiệm là tiểu cầu, thời gian máu đông, máu chảy, tỷ lệ prothrombin trong giới hạn bình thường + Bệnh nhân được tiến hành sinh thiết buổi sáng, sau khi đã đi hết
nước tiểu
+ Thứ tự các bước được tiến hành như sau:
- Bệnh nhân nằm sấp trên giường cứng, kê một gối dày khoảng
15 cm dưới bụng
- Siêu âm để xác định cực dưới thận
- Gây tê tại chỗ, từng lớp từ ngoài da vào sát bao thận bằng
novocain hoặc xylocain 1%, chờ khoảng 5 phút
- Tiến hành sinh thiết qua da bằng súng ở vị trí đã định Mẫu sinh thiết được ngâm trong dung dịch formol 10% để gửi tiêu bản làm hiển vi thường Mẫu sinh thiết phải đạt độ dài khoảng
1 cm (mảnh sinh thiết dùng cho kỹ thuật hiển vi quang học phải
có ít nhất 6 cầu thận)
- Sau sinh thiết, bệnh nhân phải nằm tại giường 24h, theo dõi
mạch, nhiệt độ, huyết áp, màu sắc và số lượng nước tiểu để
kiểm soát tình trạng chảy máu ở mô thận Những trường hợp cần thiết được dùng thêm kháng sinh
Trang 102.2.2.1 Nghiên cứu mô bệnh học
* Cố định bệnh phẩm: dùng dung dịch formalin có độ axít nhẹ được
pha bằng cách hòa loãng với tỷ lệ I : 10 dung dịch formaldehit dam
đặc (37 - 40%) Mánh sinh thiết thận được cố định trong dung dịch
nay it nhat trong 6 gid
* Vùi đúc trong paralin: trước hết xử lý bệnh phẩm bằng tẩy nước với
nồng độ cồn tăng dần, sau đó làm trong và vùi trong parafin
* Cat tiêu bản: tiêu bản được cắt với độ dầy 3iưn
*Nhuộm: các tiêu ban được nhuộm theo phương pháp: HE
(Hematoxyline Eosine), PAS (Periodic Acid Schiff)
* Doc két qua:
+ Phân tích tổn thương: dưới kính hiển vi quang học chúng tôi
đánh giá như sau:
- Thay đổi màng đáy: màng đáy có thể bị dày lên hoặc tách đôi
- Tăng sinh tế bào: có thể là tăng sinh tế bào gian mạch hoặc tăng
sinh tế bào biểu mô
- Xơ hóa cầu thận: có thể xơ hóa toàn bộ hoặc một phần cầu thận
Nhuộm HE hoặc nhuộm PAS vùng xơ hóa bắt màu đỏ
- Tổn thương mô kẽ: mô kẽ có thể bị xâm nhập viêm do các lympho
bào hoặc các tế bào viêm khác Cũng có khi mô kẽ bị xơ hóa
+ Phân bố tổn thương:
- Cục bộ hay đoạn: tổn thương chỉ xảy ra ở một phần của cầu thận
- Toàn bộ: tổn thương chiếm toàn bộ cầu thận
- Ổ: tổn thương chỉ có ở một số cầu thận Chiếm < 50% tổng số cầu thận
- Lan tỏa: tổn thương ở hầu hết các cầu thận Chiếm >50% tổng số
cầu thận
+ Phân loại tổn thương:
Chúng tôi phân loại bệnh cầu thận có hội chứng thận hư theo
phân loại của TCY TTG - 1995 bao gồm:
Bề mặt tế bào gian mạch cũng có các thụ thể với các tế bào lympho T Như vậy khi có tăng sinh các tế bao gian mach va cac té bao lympho trong các khoang gian mạch, chứng tỏ có tình trạng nhiễm khuẩn hoặc các phản ứng miễn dịch xảy ra ở thận Ở nước ta cũng như một
số nước đang phát triển, do điều kiện vệ sinh chưa tốt, nên các bệnh
nhiễm khuẩn và một số bệnh liên quan đến miễn dịch là rất phổ biến,
đây là một trong các lý do khiến cho bệnh nhân viêm cầu thận tăng sinh gian mạch trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ cao
4.2 TỶ LỆ CÁC THỂ LÂM SÀNG THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN
4.2.1 Tỷ lệ các thể lâm sàng theo bản hư
Kết quả của phân thể bệnh theo biện chứng luận trị YHCT cho
thấy, thể khí âm lưỡng hư chiếm tỷ lệ cao nhất 42,5%, tiếp theo là thể
phế thận khí hư chiếm 31,25%, thể can thận âm hư chiếm 17,5% cuối cùng là thể tỳ thận dương hư chiếm 8,75% Trong một nghiên cứu trước đây của chúng tôi trên 117 bệnh nhân Trung Quốc tý lệ các thể như sau: thể khí âm lưỡng hư chiếm 69,23%; phế thận khí hư chiếm 16,23%; thể can thận âm hư chiếm 9,4%; thể tỳ thận dương hư chiếm 5,12% Chúng tôi thấy tỷ lệ bệnh nhân thể phế thận khí hư ở nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu này (người Việt Nam) cao hơn, chứng tỏ bệnh nhân được phát hiện tương đối sớm, tổn thương mới ở phần khí
và âm chứ chưa tổn thương đến phần dương của cơ thể, nhưng cũng
có thể là do tình trạng bệnh nhân vượt tuyến điều trị nhiều hơn ở Trung Quốc
4.2.2 Tỷ lệ các thể tiêu thực
Bệnh nhân đang bị cảm mạo hoặc đã có tiền sử ít nhất một lần bị cảm mạo trong quá trình bệnh tương đối phổ biến chiếm 76,25% Thủy thấp chiếm tỷ lệ cao nhất (88,75%), chứng tỏ tình trạng thủy