Hà Nội là thủ đô cả nước trong đó Ba Đình là một trong 4 quận trung tâm của thủ đô. Long Biên là quận có diện tích lớn nhất của thủ đô Hà Nội, là quận nổi bật về tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ trong những năm trở lại đây 10. Tình trạng dinh dưỡng của học sinh trung học cơ sở giữa 2 quận có sự khác biệt hay không? Cùng với đó là kiến thức, thực hành của học sinh về vấn đề này như thế nào? Đã phù hợp để tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý hay chưa. Với mong muốn cung cấp những bằng chứng khoa học giúp chính quyền, các tổ chức y tế địa phương và gia đình có kế hoạch chăm sóc sức khỏe học sinh hợp lý, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Tình trạng dinh dưỡng, kiến thức thực hành dinh dưỡng của học sinh tại trường THCS Giảng Võ và Thạch Bàn, Hà Nội năm 20212022” với các mục tiêu sau: 1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại trường THCS Giảng Võ và Thạch Bàn, Hà Nội. 2. Mô tả kiến thức, thực hành về dinh dưỡng của học sinh tại trường THCS Giảng Võ và Thạch Bàn, Hà Nội.
D INH DƯỠNG VÀ SỨC KHỎE
Khái niệm về sức khỏe
Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO- World Health Organization): "Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay thương tật" 11 Định nghĩa này vẫn còn là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân 12,13 Tuy nhiên, có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào.
Người ta ngày càng nhận ra rằng sức khỏe được duy trì và cải thiện không chỉ qua những thành tựu và ứng dụng của khoa học y tế, mà còn qua những cố gắng và những lựa chọn cách sống, tình trạng dinh dưỡng của một cá nhân hay xã hội Có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, đó là các đặc trưng cá nhân: sinh học và di truyền, tính nhạy cảm của mỗi cá nhân; trình độ học vấn; thu nhập kinh tế; lối sống lành mạnh hay buông thả; sự tác động của môi trường sống, môi trường làm việc;mạng lưới tổ chức y tế và khả năng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; và một nhân tố không kém phần quan trọng đó là dinh dưỡng Sức khỏe con người thường xuyên thay đổi trong suốt cuộc đời, nhưng giai đoạn phát triển từ sơ sinh đến trưởng thành là giai đoạn chứa đựng hàng loạt các biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong thời kỳ dậy thì 11
Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể 14 Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực.
Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng 14 Sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng tốt của học sinh góp phần vào thành tích học tập, sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em 15
L ỨA TUỔI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
Khái niệm trẻ vị thành niên
Theo WHO, vị thành niên là giai đoạn của cuộc đời giữa thời thơ ấu và trưởng thành, nằm trong độ tuổi từ 10 – 19 chia làm 2 giai đoạn : giai đoạn đầu từ 10 – 14 tuổi, giai đoạn sau từ 15 – 19 1 Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt của con người và là thời điểm quan trọng đặt nền móng cho một sức khỏe tốt Ở giai đoạn này, lứa tuổi vị thành niên phải trải qua những thay đổi, sự phát triển về thể chất, nhận thức và tâm lý xã hội Những chuyển biến đột ngột và to lớn này có thể gây ra nhiều sức ép lớn, có thể ảnh hưởng đến trẻ trong hiện tại và tương lai Vì thế, ở lứa tuổi này, các em cần nhiều thông tin, sự hướng dẫn cụ thể cho phù hợp với lứa tuổi tại từng giai đoạn phát triển.
Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ vị thành niên
Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng gấp ba về dinh dưỡng gồm suy dinh dưỡng thấp còi, thừa cân béo phì và thiếu vi chất dinh dưỡng 4 Chương trình can thiệp dinh dưỡng ở Việt Nam hiện nay mới tập trung ưu tiên cho hai đối tượng là bà mẹ và trẻ em Trong những năm gần đây, các nhà dinh dưỡng đã quan tâm đến trẻ vị thành niên, để giúp cơ thể trẻ phát triển hoàn thiện trước khi làm mẹ và đó là một phần của vấn đề “dinh dưỡng sớm” Chế độ can thiệp dinh dưỡng trong giai đoạn trẻ vị thành niên hết sức quan trọng, vì lứa tuổi này có tốc độ phát triển rất nhanh cả về chiều cao và cân nặng, các biến đổi về tâm, sinh lý, nội tiết, sinh dục
Cân nặng trung bình trẻ vị thành niên tăng từ 3 - 5kg/năm, chiều cao tăng từ 4 - 7cm/năm, trẻ trai phát triển nhiều hơn trẻ gái 16 Vi vậy, cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý, giúp trẻ vị thành niên có cơ thể khỏe mạnh và tăng trưởng nhanh chóng là điều kiện để trẻ lao động, học tập tốt.
Lượng kcalo 1 ngày Để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển lứa tuổi này, trước hết là vấn đề năng lượng, cần cung cấp từ 2.000-2.300kcalo/ngày/nữ và 2.100- 2.800kcalo/ngày/nam tùy theo từng độ tuổi mà nhu cầu khác nhau Để đáp ứng đủ nhu cầu, trẻ cần ít nhất ăn 3 bữa/ngày, ăn đủ no và đủ chất dinh dưỡng 16
Protein rất cần thiết để phát triển chiều cao, cân nặng, vì chất đạm giúp tạo nên cấu trúc của tế bào, tạo nên các nội tiết tố (hoóc môn) và đáp ứng khả năng miễn dịch cơ thể Nhu cầu Protein từ 70-100gam/ngày tuỳ vào thể trạng của mỗi trẻ Tỷ lệ Protein động vật chiếm từ 35-40%, năng lượng từ protein chiếm 15% năng lượng của khẩu phần 16
Trẻ cần ăn đủ lượng chất bột để cơ thể được phát triển toàn diện và tinh thần thoải mái Tinh bột có nhiều trong gạo, bột mì, khoai, các loại củ… 16
Nhu cầu Lipid được tính theo tuổi, tuổi càng bé nhu cầu lipid tính theo trọng lượng cơ thể càng cao Hàng ngày nhu cầu Lipid từ 60 - 70 gam, chất béo từ nguồn gốc động vật và thực vật với tỷ lệ cân đối là 70% và 30% Năng lượng do lipid cung cấp trong khẩu phần khoảng 25% Lipid cũng là nguồn cung cấp năng lượng, giúp hoà tan và hấp thu các loại vitamin tan trong dầu: vitaminA, D, K 16
Thực tế hiện nay, các bậc cha mẹ thường tập trung vào các nhóm Protein và Lipid mà không biết đến vai trò to lớn của các vi chất dinh dưỡng Tình trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng đang là một trong ba gánh nặng dinh dưỡng tại Việt Nam Do vậy trẻ vị thành niên cần bổ sung cả vi chất dinh dưỡng cho sự phát triển toàn diện.
Có khoảng 90 các vi chất dinh dưỡng khác nhau cần thiết cho cơ thể, bao gồm các vitamin tan trong nước như: nhóm B, C; các vitamin tan trong chất béo như: A, D, E, K và các chất khoáng sắt, kẽm, iode, đồng, mangan, magiê
Vitamin A: cần cho sự tăng trưởng, giúp sáng mắt, bảo vệ các biểu mô giác mạc, da, niêm mạc, tăng cường hệ thống miễn dịch giúp phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng Khi thiếu vitamin A sẽ gây quáng gà, khô mắt, loét giác mạc gây mù lòa, chậm tăng trưởng, dễ bị các bệnh nhiễm trùng như: viêm hô hấp, tiêu chảy, nhiễm trùng da Vitamin A có trong thức ăn động vật: gan, trứng, sữa ngoài ra thức ăn thực vật như rau có màu xanh sẫm, quả có màu vàng, đỏ (gấc, cà rốt, bí đỏ, xoài, đu đủ) có nhiều beta caroten (tiền vitamin A) Nhu cầu vitamin A lứa tuổi vị thành niên là 600mcg/ngày 17
Sắt: chất quan trọng tham gia vào quá trình tạo máu và một phần cấu trúc của bộ não cho nên khi trẻ bị thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt làm giảm phát triển thể chất, trí tuệ, giảm sức đề kháng của cơ thể đối với nhiễm trùng và giảm khả năng hoạt động thể lực Sắt được cung cấp cho cơ thể từ hai nguồn thức ăn, thức ăn động vật: thịt bò, lòng đỏ trứng gà, tim, gan, bầu dục, cá, và thức ăn thực vật: đậu, đỗ, rau lá xanh, mộc nhĩ, nấm hương… Để tăng hấp thu sắt nên ăn hoa quả chín để cung cấp nhiều vitamin C Nhu cầu sắt của trẻ vị thành niên được đáp ứng thông qua chế độ ăn giàu sắt, sắt có giá trị sinh học cao Tuy nhiên, ở nước ta khả năng được tiếp cận các nguồn thức ăn động vật có lượng sắt giá trị sinh học cao từ khẩu phần là rất thấp Vì vậy, ngay từ khi bước vào tuổi vị thành niên cần uống bổ sung thêm viên sắt hoặc viên đa vi chất hàng tuần Nhu cầu sắt của trẻ vị thành niên là 12 - 18mg/ngày/trai và 20mg/ngày/gái 17
Vitamin D và canxi: có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển xương và răng Thiếu vitamin D và canxi sẽ làm cho trẻ chậm mọc răng, ngủ không yên giấc, hay vặn mình, ra nhiều mồ hôi trộm, nhất là mồ hôi đầu Canxi có nhiều trong: tôm, cua, trai, ốc Vitamin D được cung cấp chủ yếu qua việc tiếp xúc với ánh nắng và các thực phẩm như: dầu cá, trứng, gan. Can xi rất cần thiết cho lứa tuổi dậy thì, vì giai đoạn này tốc độ phát triển chiều cao rất nhanh Nhu cầu can xi cùng với phospho nhiều để duy trì và hình thành bộ xương, răng vững chắc Vitamin D giúp chuyển hóa can xi. Nhu cầu vitamin D tuổi vị thành niên là 5mcg/ngày, canxi là 1000 mg/ngày 17
Bảng 1.1 Bảng tóm tắt nhu cầu dinh dưỡng trẻ vị thành niên
STT Nhu cầu Hàm lượng
5 Sắt 12-18mg/ngày 20 mg/ngày
Chế độ dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên là yếu tố quyết định để trẻ phát triển cả về chiều cao, cân nặng và phát triển đạt mức tối ưu khi trưởng thành.
Khi trưởng thành có sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng tốt (cân nặng và chiều cao đạt mức tối ưu) là điều kiện để trở thành các ông bố, bà mẹ sau này sinh ra những đứa trẻ khoẻ mạnh trong tương lai
Thiếu hoặc thừa dinh dưỡng trong giai đoạn học đường đều có thể ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe của trẻ Thiếu dinh dưỡng trong giai đoạn này sẽ dẫn tới trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu sức mạnh cơ bắp, giảm mật độ xương, tăng trưởng chậm 18 Ngược lại, thừa dinh dưỡng gây thừa cân –béo phì sẽ dẫn tới nguy cơ rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp, đái tháo đường typ2 những bệnh mãn tính xuất hiện sớm sẽ ảnh hưởng xấu tới sự phát triển thể chất của trẻ sau này 19,20
T ÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
Suy dinh dưỡng/Thiếu protein năng lượng
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng các chức năng sinh lí của trẻ bị suy giảm, đứa trẻ không duy trì được tốc độ phát triển, giảm khả năng chống đỡ và vượt qua những tác động của bệnh tật, giảm hoạt động thể lực và quá trình tăng cân 21
Trong độ tuổi này, nguyên nhân gây ra SDD có thể là do:
- Chế độ ăn thiếu về số lượng và kém về chất lượng
- Tình trạng sức khỏe: bệnh tật, và các trạng thái tâm lý như stress
- Do cơ địa bản thân kém hấp thu các chất dinh dưỡng
- Trẻ sợ béo, ăn kiêng không đúng chế độ
- Do điều kiện kinh tế khó khăn
- Do không có kiến thức hoặc hiểu biết không đầy đủ về chế độ ăn hợp lý
- Do vệ sinh kém dẫn đến việc dễ mắc các bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến sự thu nạp và hấp thu dinh dưỡng
- Do sự thiếu hiểu biết về các vấn đề dinh dưỡng hoặc thực hành không tốt, không đúng của người chuẩn bị bữa ăn cho trẻ.
Một nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của 3 nhóm đối tượng là học sinh tiểu học, học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông Kết quả cho thấy, tỉ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi và thể gầy còm ở học sinh tiểu học lần lượt là 3,5% và 4,0%) Đối với học sinh THCS, tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi và gầy lần lượt là 6,6% và 7,4% 22
SDD ảnh hưởng tới sự phát triển tổng thể: hạn chế về chiều cao, suy giảm về thể lực còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh để lại những hậu quả nặng nề SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, khả năng học hành của trẻ và khả năng lao động ở tuổi trưởng thành.
Vấn đề SDD hiện nay đang phổ biến tại các nước nghèo và đang phát triển, cộng đồng có điều kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số Kèm theo đó là hậu quả của việc thiếu năng lượng trường diễn, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe tâm thần
Thừa cân – béo phì
Thừa cân béo phì được định nghĩa là tình trạng tích tụ mỡ bất thường hoặc quá mức có thể làm suy giảm sức khỏe 23
Thừa cân và béo phì được biết như một bệnh mạn tính không lây và là một trong những vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng bậc nhất hiện nay.Hiện tại tỷ lệ thừa cân và béo phì rất cao và đang tiếp tục gia tăng nhanh trong thời gian gần đây Trên thế giới có khoảng hơn 1,5 tỷ người mắc bệnh thừa cân, trong đó hơn 300 triệu người mắc bệnh béo phì 24 Căn nguyên của sự gia tăng này là thay đổi lối sống trong thời kỳ "chuyển tiếp dinh dưỡng" đặc trưng bởi việc tiêu thụ quá nhiều thực phẩm, gia tăng tiêu thụ tổng số chất béo, các chất béo nguồn gốc động vật và protein, và giảm các hoạt động thể lực.Những yếu tố kinh tế xã hội cơ bản liên quan chặt chẽ đến thừa cân và béo phì là quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá của các quốc gia, dẫn đến thay đổi trong thói quen ăn uống và lối sống của cộng đồng dân cư 25
Số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ cho thấy khoảng 17% (12,5 triệu) trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 2-19 tuổi ở Hoa Kỳ bị béo phì 26 Trong số trẻ em ở độ tuổi đi học, số liệu từ các cuộc điều tra NHANES được thực hiện trong giai đoạn 1976-1980 và 2007-
2008 cho thấy tỉ lệ béo phì đã thay đổi từ 6,5% lên 19,6% đối với trẻ em 6-11 tuổi và từ 5,0% lên 18,1% đối với trẻ từ 12-19 tuổi 27
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự tại thành phố
Hồ Chí Minh năm 2012 về tình trạng dinh dưỡng học sinh trung học cơ sở thì tỷ lệ thừa cân – béo phì là 22,5% (trong đó 15,7% thừa cân và 6,8% béo phì) 22
Thừa cân – béo phì ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của trẻ Những trẻ béo sẽ ngừng tăng trưởng sớm, trước dậy thì chúng thường cao hơn so với tuổi nhưng khi dậy thì, chiều cao ngừng phát triển và trẻ có xu hướng thấp hơn bạn bè Sự mặc cảm về hình dáng cơ thể ở độ tuổi này cũng gây không ít khó khăn cho các em Vì vậy cần phải theo dõi chiều cao, cân nặng của trẻ thường xuyên để phát hiện sớm SDD hoặc thừa cân, béo phì để xử lý kịp thời.
Và đối với trẻ VTN, cách tốt nhất là tăng cường hoạt động thể lực với các loại hình và mức độ thích hợp (như thể dục nhịp điệu, đi bộ, chạy nhảy, bơi lội ).Cùng với việc đảm bảo một khẩu phần ăn hợp lý, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, khuyến khích ăn rau và hoa quả, hạn chế sử dụng các thực phẩm giàu năng lượng, nghèo vi chất dinh dưỡng và đồ uống có đường, sẽ làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính sau này như bệnh tim mạch, tăng huyết áp,đái tháo đường hay các rối loạn dạ dày, ruột
C ÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI DINH DƯỠNG TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
Yếu tố kinh tế xã hội
Trong năm 2020, trên toàn cầu có 149,2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi, 45,4 triệu trẻ gầy còm và 38,9 triệu trẻ thừa cân Số lượng trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi đang giảm ở tất cả các khu vực, ngoại trừ Châu Phi Hơn một nửa số trẻ em bị ảnh hưởng bởi tình trạng gầy cũm sống ở Nam Á, và Chõu Á là nơi sinh sống của hơn ắ tổng số trẻ em bị gầy còm trầm trọng 28 Số liệu trên cho thấy suy dinh dưỡng tập trung số lượng lớn ở các nước nghèo và chậm phát triển Trên toàn thế giới, nguyên nhân phổ biến nhất của suy dinh dưỡng chủ yếu liên quan đến nghèo Nghiên cứu mới đây tại Brazil cho thấy tỷ lệ trẻ thiếu cân và thấp còi cao hơn trong các hộ gia đình tình trạng kinh tế xã hội thấp và trong hộ gia đình có điều kiện vệ sinh kém 29 Một nghiên cứu khác ở Việt Nam cho thấy trẻ em ở gia đình giàu có trọng lượng cao hơn trẻ em ở gia đình nghèo 30 Tương tự, theo Ahmed và cộng sự, tại Banglades tình trạng kinh tế xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến xự phát triển của trẻ trong độ tuổi học đường, đó là: trẻ từ các gia đình có thu nhập cao có cân nặng và chiều cao theo tuổi cao hơn so với trẻ từ các gia đình có thu nhập thấp 31
Một thực tế trong xã hội là quy mô hộ gia đình cũng ảnh hưởng đến việc tiếp cận lương thực – thực phẩm, vì số người không hợp lý với thu nhập thì bình quân thấp sẽ dẫn đến chế dộ dinh dưỡng kém Do đó, kích cỡ gia đình cũng ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là một mước đang phát triển, như Việt Nam ta Các tác giả còn cho thấy tình trạng học vấn của cha mẹ có liên quan đến chất lượng bữa ăn của trẻ.
Nguyên nhân về xã hội gây ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe, và tình trạng dinh dưỡng của trẻ nói riêng rất đa dạng Ngoài việc khống chế tốt các bệnh nhiễm trùng, thì sự phát triển về giáo dục và các dịch vụ y tế, những chuyển biến tích cực của xã hội cũng là điều cần thiết.
Khẩu phần ăn
Để đảm bảo cho cơ thể một sự phát triển đầy đủ và cân đối, yếu tố quan trọng hàng đầu là chế độ dinh dưỡng Ăn uống hợp lý là yếu tố căn bản nhất cho sự tăng trưởng và phát triển Tăng cân ở tuổi vị thành niên chiếm khoảng
50% trọng lượng của người trưởng thành và khoảng 45% khối lượng xương của người trưởng thành và 15 % chiều cao của người trưởng thành đạt được trong giai đoạn này Năng lượng, protein, chất béo, vitamin và các yếu tố vi lượng cần được cung cấp đầy đủ và cân đối để trẻ em, nhất là lứa tuổi vị thành niên phát triển đầy đủ và tăng cường dự trữ các chất trong cơ thể Ở mức độ dinh dưỡng vĩ mô, trẻ ăn quá nhiều hoặc quá ít kéo dài các chất sinh nhiệt gây nên tình trạng SDD protein năng lượng, trong khi đó mức độ vi mô, sự thiếu canxi, sắt và các yếu tố vi lượng khác cũng như vitamin trong chế độ ăn có thể gây nên một số bệnh như quáng gà, thiếu máu ở phụ nữ
Tình trạng thiếu dinh dưỡng (cả về chất lượng và số lượng) cũng như sự mất cân đối trong khẩu phần ăn dẫn đến sự tăng trưởng chậm hoặc có thể gây nên SDD cấp hay mạn và nhiều dạng thiếu dinh dưỡng khác Nói chung, mức độ thiếu cân tỉ lệ thuận với mức độ thiếu năng lượng
Nhu cầu dinh dưỡng đã có liên quan tương đối chặt chẽ với trọng lượng cơ thể và sự phát triển cơ thể ở từng thời kì Trong giai đoạn dậy thì, chiều cao tăng khoảng 25%, còn trọng lượng cơ thể tăng 50% so với người trưởng thành Chế độ ăn uống là một yếu tố không nhỏ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển vị thành niên
Một nghiên cứu cho thấy chế độ ăn của nữ vị thành niên còn nghèo nàn, thiếu về số lượng, không đáp ứng đủ nhu cầu khuyến nghị và mất cân đối về cơ cấu năng lượng cũng như tỷ lệ các chất dinh dưỡng Khi khẩu phần năng lượng bị hạn chế, protein từ chế độ ăn sẽ được huy động để đáp ứng nhu cầu năng lượng Lúc đó, protein không được sử dụng cho việc tổng hợp các mô mới, hoặc cho việc sửa chữa các mô cũ Điều này làm giảm mức tăng trưởng và khối cơ 32
Kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và tập quán ăn uống của trẻ
Ở lứa tuổi vị thành niên, trẻ ít nhiều đã tự chăm lo cho sức khỏe do vậy gia đình ít quan tâm hơn Vì vậy, trẻ có những kiến thức, hiểu biết khác nhau về dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự lựa chọn thực phẩm, cách ăn uống của trẻ. Đồng thời, giai đoạn này xã hội ngày càng phát triển, con người luôn bận rộn, đặc biệt là giới trẻ ngày càng sử dụng nhiều các thực phẩm, món ăn chế biến sẵn chứa nhiều dầu, mỡ, đường, muối như các món ăn nhanh với khoai tây chiên, gà rán, pizza, sandwich… nước ngọt có ga và không có ga, các loại bánh kẹo, xúc xích, thịt xông khói, giò, chả, bim bim…
Theo Báo cáo Tình hình Trẻ em Thế giới, việc trẻ em tiếp xúc với thực phẩm không lành mạnh càng trở nên đáng báo động, chủ yếu là vì các hoạt động quảng cáo, tiếp thị không phù hợp, thực phẩm siêu chế biến tràn ngập ở các thành phố và cả những vùng sâu vùng xa, thức ăn nhanh và nước giải khát có chất tạo ngọt ngày càng sẵn có Do đó, tỷ lệ trẻ em và vị thành niên bị thừa cân và béo phì ngày càng tăng trên toàn cầu Từ năm 2000 đến 2016, tỷ lệ trẻ em thừa cân từ 5 đến 19 tuổi tăng đã gấp đôi, từ 1 trong 10 trẻ thành 1 trong 5 trẻ So với năm 1975, ngày nay số trẻ em gái ở nhóm tuổi này mắc bệnh béo phì tăng gấp 10 lần và số trẻ em trai tăng gấp 12 lần 33 Đặc biệt, hiện nay, có một số trẻ vị thành niên ở các thành phố muốn giữ vóc dáng, sợ thừa cân/béo phì ảnh hưởng đến thẩm mỹ thường ăn ít, bỏ bữa hoặc ăn một bữa cơm bằng một bữa rau, ăn ít tinh bột, nhiều đạm và rau xanh.Thói quen ăn uống, sở thích ăn uống như vậy, không đảm bảo nhu cầu hàng ngày cho sự phát triển, bữa ăn mất cân đối, mất hợp lý dẫn tới trẻ bị suy dinh dưỡng trường diễn, ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển về thể lực và trí tuệ Bên cạnh đó, kiến thức, sự hiểu biết của gia đình cũng đã ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Sự hiểu biết cũng như sự quan tâm của gia đình với trẻ và của trẻ bản thân trẻ về dinh dưỡng sẽ tránh được nguy cơ thừa và thiếu dinh dưỡng 34
Đ ÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
Phương pháp đánh giá
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin số liệu đó 14 Người ta dùng 2 phương pháp là định tính và định lượng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng:
* Phương pháp định lượng như:
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
- Các thăm khám thực thể/ dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng
- Các xét nghiệm cận lâm sàng chủ yếu là hoá sinh ở dịch thể và các chất bài tiết (máu, nước tiểu ) để phát hiện mức bão hoà chất dinh dưỡng
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìm hiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ
* Gần đây, một số phương pháp định tính cũng đã được sử dụng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Vì vậy, thu thập các kích thước nhân trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng.
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao
- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ
- Ở lứa tuổi 10-19, cân nặng và chiều cao riêng rẽ không đánh giá hết được tình trạng dinh dưỡng, mà cần phối hợp giữa cân nặng với chiều cao và các kích thước khác Một số kích thước sau đây thường được dùng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng tại thực địa cho trẻ vị thành niên: cân nặng, chiều cao, đo bề dày lớp mỡ dưới da cơ tam đầu và góc xương bả vai, đo % mỡ cơ thể 35
Bảng 1.2 Một số kích thước sử dụng điều tra dinh dưỡng
- Phần trăm mỡ cơ thể
- Nếp gấp da cơ tam đầu, dưới xương bả vai
Nhận định tình trạng dinh dưỡng trẻ vị thành niên
Dựa vào các chỉ tiêu nhân trắc để nhận định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ vị thành niên từ 11 đến 19 tuổi (WHO, 1995) có thể sử dụng chiều cao riêng rẽ để đánh giá chậm phát triển chiều cao (stunting) như trẻ em và có thể phối hợp giữa cân nặng với chiều cao- chỉ số khối cơ thể (BMI- Body mass Index) như người trưởng thành và các kích thước khác Đánh giá về phát triển chiều cao (Height-for-age) của trẻ em tuổi vị thành niên cũng sử dụng ngưỡng