LỜI MỞ ĐẦU LỜI MỞ ĐẦU Thị trường tài chính là một sản phẩm bậc cao của nền kinh tế thị trường hay nói chính xác hơn,là nền kinh tế tiền tệ, ở đó,bên cạnh các thị trường khác,thị trường tài chính hoạt[.]
Những vấn đề lý luận về tài chính và thị trường tài chính
Tài chính và thị trường tài chính
1.1.1.1 Bản chất của tài chính:
Lịch sử xã hội cho thấy tài chính ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời của nhà nước và sản xuất hang hoá.
Tài chính là hệ thống quan hệ kinh tế biểu hiện trong quá trình hình thành,phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.
Trong kinh tế, cần phân biệt rõ ràng giữa quan hệ hàng hóa-tiền tệ và quan hệ tài chính Quan hệ hàng hóa-tiền tệ thể hiện quá trình tiền đóng vai trò như vật ngang giá, vật trung gian và biểu hiện giá trị chuyển đổi từ hàng hóa sang tiền đối với người bán, đồng thời ngược lại đối với người mua.
Trong ngành kinh tế, cần phân biệt rõ mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ với mối quan hệ tài chính Quan hệ hàng hoá-tiền tệ thể hiện vai trò của tiền như vật ngang giá và vật trung gian, giúp chuyển đổi từ hàng hóa sang tiền và ngược lại, phù hợp với lợi ích của người bán và người mua Trong khi đó, mối quan hệ tài chính liên quan đến các hoạt động đầu tư, vay mượn và quản lý nguồn lực tài chính nhằm tối ưu hóa giá trị và đảm bảo hiệu quả kinh doanh.
Trong quan hệ tài chính, giá trị thực sự thường dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, thể hiện rõ qua các hoạt động như doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nước Khi doanh nghiệp nộp thuế, giá trị tài chính chuyển từ quỹ doanh nghiệp sang ngân sách nhà nước, làm rõ rằng quan hệ về thuế chính là một dạng quan hệ tài chính.
Trong thơì kỳ quá độ,quan hệ tài chính biểu hiện qua các quan hệ dưới đây:
Quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp, dân cư và các tổ chức xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế quốc gia Đây là nhóm mối quan hệ có tính bắt buộc, tập trung vào ngân sách nhà nước, đảm bảo phân phối giá trị hợp lý để các hoạt động của nhà nước diễn ra bình thường Trong quan hệ này, giá trị được chuyển dịch theo hai chiều, từ dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội vào ngân sách nhà nước và ngược lại, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
-Quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, dân cư với hệ thống ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần,hệ thống các ngân hàng, các tổ chức tín dụng ngày càng giữ vị trí quan trọng trong việc tài trợ vốn cho các hoạt động xã hội nói chung, sản xuất kinh doanh nói riêng, tạo thuận lợi phát triển mạnh mối quan hệ tài chính-quan hệ tín dụng-giữa các doanh nghiệp, các tổ chức dân cư với ngân hàng.
Mối quan hệ tài chính giữa các chủ thể kinh tế với thị trường thể hiện qua hoạt động mua bán các quỹ tiền tệ dưới nhiều hình thức khác nhau, với hầu hết các chủ thể kinh tế đều tham gia vào thị trường này Nhà nước cũng đóng vai trò trong quan hệ tài chính bằng cách mua bán quỹ tiền tệ, chẳng hạn như phát hành công trái để bán ra trên thị trường Trong đó, quan hệ mua bán vốn giữa doanh nghiệp và nhân dân đặc biệt quan trọng, đòi hỏi Nhà nước phải tạo ra các điều kiện và biện pháp hiệu quả nhằm hướng dẫn, điều tiết sự phát triển của thị trường tài chính theo chiến lược đã định.
-Quan hệ tài chính trong nội bộ mỗi chủ thể (doanh nghiệp, tổ chức xã hội, dân cư…) :
Quan hệ này thể hiện qua sự dịch chuyển giá trị trong quá trình hoạt động của các tổ chức, thông qua việc chi trả lương và thưởng cho viên chức, công nhân, người lao động Nó còn đề cập đến quá trình phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ mỗi chủ thể, góp phần đảm bảo công bằng và ổn định trong hoạt động kinh tế.
Qua hướng dẫn và điều tiết, nhà nước đảm bảo các quan hệ tài chính không phát triển tự phát như trong chủ nghĩa tư bản, mà phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy nền kinh tế công bằng và ổn định Tài chính có hai chức năng chính, trong đó chức năng điều tiết và hướng dẫn quan trọng giúp duy trì sự cân bằng tài chính quốc gia và đảm bảo các nguồn lực được phân bổ hợp lý phù hợp với chính sách xã hội và phát triển bền vững.
Thứ nhất, chức năng phân phối
Tài chính tham gia vào cả phân phối lần đầu và phân phối lại Phân phối lần đầu diễn ra trong lĩnh vực sản xuất vật chất giữa các doanh nghiệp với người lao động và nhà nước Cụ thể là sau khi các doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm, số doanh thu này sẽ được phân phối cho các quỹ: quỹ bù đắp tư liệu sản xuất, quỹ trả công cho người lao động, khoản nộp thuế cho ngân sách nhà nước, khoản trả lợi tức cổ phần,phần còn lại là lợi nhuận của các doanh nghiệp để mở rộng sản xuất và nâng cao phúc lợi của doanh nghiệp Phân phối lại nhằm đáp ứng nhu cầu chung cho xã hội như: duy trì bộ máy nhà nước, phát triển văn hoá, xã hội, y tế, thể thao… Quá trình phân phối lại thông qua ngân sách nhà nước và các tổ chức tài chính trung gian(công ty tài chính, ngân hàng thương mại, hợp tác xã tín dụng, công ty bảo hiểm…)
Thứ hai, chức năng giám đốc
Chức năng giám đốc của tài chính thể hiện qua vai trò kiểm soát, đôn đốc và điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp để đảm bảo sự ổn định và hiệu quả kinh doanh Cơ sở của chức năng này dựa trên sự thống nhất giữa dòng chảy của các quỹ tiền tệ và quá trình hoạt động của nhà nước cùng các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế quốc dân Thông qua sự vận động của các quỹ tiền tệ, chúng ta có thể đánh giá chính xác tình hình thực hiện hoạt động của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp nhằm thúc đẩy phát triển bền vững.
1.1.1.3 Vai trò của tài chính
Một là, điều tiết kinh tế
Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế thông qua hai chức năng chính là phân phối và giám sát, dựa trên kiểm tra và giám sát bằng đồng tiền để nắm bắt thực tế hoạt động kinh tế Nhà nước can thiệp và điều tiết nền kinh tế theo kế hoạch đã đề ra bằng các chính sách phân phối, như đầu tư bổ sung vốn để thúc đẩy các ngành phát triển kém hoặc các lĩnh vực trọng yếu, hoặc giảm vốn đầu tư để hạn chế phát triển những ngành chưa cần thiết Đồng thời, nhà nước còn điều chỉnh hoạt động kinh tế thông qua việc thay đổi mức thuế suất nhằm cân đối hoạt động đầu tư và kinh doanh giữa các ngành, hỗ trợ sự phát triển cân đối và hướng tới các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.
Để làm lành mạnh hoá quan hệ tài chính, nhà nước cần có các biện pháp cấp bách điều chỉnh quan hệ tài chính, trong đó bao gồm yêu cầu các doanh nghiệp thanh toán nợ nần trong thời gian ngắn Đồng thời, nhà nước cũng cần chủ động tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các thị trường vốn trung hạn và dài hạn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, nhằm hướng dẫn thị trường phát triển đúng hướng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội bền vững.
Ba là, tích tụ và tập trung vốn, cung ứng vốn cho các nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong nền kinh tế, quá trình di chuyển nguồn tài chính hai chiều giữa lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất là hiện tượng phổ biến, bao gồm cả chuyển dịch trong nước và ra nước ngoài, cũng như ngược lại Chính sách nhà nước hiệu quả có thể điều chỉnh các quan hệ tài chính này nhằm thúc đẩy tập trung vốn cho đầu tư phát triển, giảm thiểu chi phí không cần thiết và thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài.
Bốn là, tăng cường tính hiệu quả của sản xuất, kinh doanh
Việc điều chỉnh các quan hệ thu-chi tài chính và phân phối thu nhập theo nguyên tắc khuyến khích vật chất giúp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh Tài chính giữ vai trò giám đốc, duy trì kỷ luật tài chính để xử lý chính xác mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Nhờ đó, tài chính góp phần đẩy lùi lãng phí, tham ô và tăng cường hiệu quả quản lý tài chính trong nền kinh tế.
Năm là, hình thành quan hệ tích luỹ, tiêu dung hợp lý
Nhà nước cần thường xuyên thực hiện phân phối lại thu nhập và điều chỉnh sự phân phối hàng bước để đảm bảo công bằng xã hội Điều này có thể thực hiện thông qua việc đánh thuế thu nhập cao, hỗ trợ người có thu nhập thấp hoặc thành lập các quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ hỗ trợ tạo việc làm cho người nghèo Đồng thời, nâng lương cho người lao động ở các ngành có thu nhập thấp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm bất bình đẳng trong xã hội.
Sáu là, củng cố liên minh công-nông, tăng cường vai trò của nhà nước và an ninh quốc phòng.
Cấu thành của thị trường tài chính
Trong thị trường tài chính hiện đại, ba thành phần chính đóng vai trò then chốt gồm Người sử dụng cuối cùng, các định chế tài chính trung gian, và các nhà đầu tư Những yếu tố này phối hợp với nhau để tạo nên sự hoạt động bền vững và hiệu quả của hệ thống tài chính Hiểu rõ vai trò của từng thành phần giúp nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững, đồng thời tối ưu hóa quy trình chuyển vốn và quản lý rủi ro trong thị trường.
1.2.1 Người sử dụng cuối cùng
Doanh nghiệp và tư nhân có thể huy động vốn để đầu tư cho kế hoạch kinh doanh của mình thông qua các hình thức đa dạng trên thị trường tài chính Họ sử dụng các nguồn vốn này bằng cách hợp tác với các định chế tài chính trung gian để tiếp cận các phương thức huy động vốn phù hợp và hiệu quả nhất.
Họ là những người sử dụng nguồn vốn để thực hiện các kế hoạch kinh doanh nhằm tạo ra lợi nhuận bền vững Bên cạnh đó, họ còn có nghĩa vụ của người vay nợ đối với người cho vay, đảm bảo trả nợ đúng hạn và duy trì mối quan hệ tín dụng tin cậy.
1.2.2 Các định chế tài chính trung gian
Các tổ chức nhận ký gửi
Các tổ chức nhận ký gửi bao gồm ngân hàng thương mại và các hợp tác xã tín dụng, có đặc điểm chung là nhận tiền gửi rồi cho vay trực tiếp cho cá nhân, tổ chức cần vốn hoặc đầu tư vào chứng khoán Thu nhập của các tổ chức này chủ yếu đến từ hai nguồn chính: lãi cho vay và lợi nhuận từ đầu tư chứng khoán, cùng với các khoản phí dịch vụ cung cấp.
Các tổ chức không nhận ký gửi
Loại tổ chức này bao gồm các tổ chức như: công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư [ 14 , web ]
Nhà đầu tư là những người sẵn sàng bỏ vốn để đầu tư vào các dự án và kế hoạch kinh doanh nhằm tăng trưởng tài chính Trong lĩnh vực tài chính, họ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn vốn qua các loại chứng khoán như cổ phiếu và trái phiếu Mong muốn chính của các nhà đầu tư là sinh lời từ số vốn bỏ ra, hướng tới lợi nhuận bền vững và an toàn cho khoản đầu tư của mình.
Vai trò của thị trường tài chính
Thị trường tài chính có 3 chức năng kinh tế cơ bản sau:
Thứ nhất, hình thành giá các tài sản tài chính
Giá của tài sản tài chính (chứng khoán) được xác định qua tác động qua lại giữa người mua và người bán Lợi tức yêu cầu từ các nhà đầu tư đóng vai trò chính trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp huy động vốn Thị trường tài chính cung cấp tín hiệu về cách phân bổ vốn trong nền kinh tế dựa trên mức lợi tức kỳ vọng Quá trình xác định giá của tài sản tài chính chính là quá trình hình thành giá, phản ánh giá trị thực của các tài sản dựa trên cung cầu và kỳ vọng lợi nhuận.
Thứ hai, cung cấp một cơ chế để cho các nhà đầu tư bán một tài sản tài chính.
Với đặc tính này, thị trường tài chính là thị trường tạo ra tính thanh khoản.
Thiếu tính thanh khoản khiến các nhà đầu tư phải giữ tài sản tài chính cho đến khi đáo hạn hoặc chờ công ty tự thu hồi cổ phiếu, hoặc nếu không, phải chờ thanh lý tài sản để thoát khỏi vị thế đầu tư Trong tất cả các thị trường tài chính, mức độ thanh khoản luôn tồn tại nhưng sẽ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng thị trường.
Thứ ba, giảm bớt chi phí tìm kiếm và chi phí thông tin là yếu tố quan trọng để thúc đẩy các giao dịch diễn ra thuận lợi hơn Người mua và người bán cần tìm thấy nhau để thực hiện giao dịch, nhưng quá trình này đòi hỏi họ phải tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc, ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng Vì vậy, giảm chi phí tìm kiếm giúp tăng hiệu quả và thúc đẩy hoạt động thương mại ngày càng phát triển.
Để thực hiện đầu tư thành công, nhà đầu tư cần nắm rõ các thông tin về giá trị đầu tư, bao gồm khối lượng và tính ổn định của dòng tiền dự kiến Thị trường tài chính, với tính trung lập cao, đóng vai trò là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán, cung cấp thông tin một cách công khai và đầy đủ Nhờ vậy, thị trường có lượng giao dịch lớn và giá trị giao dịch cao, giúp giảm thiểu tối đa các khoản chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư.
Thị trường tài chính phát triển song song với sự tiến bộ của nền kinh tế, từ mức độ đơn giản đến phức tạp Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, các trung gian tài chính tham gia vào thị trường ngày càng nhiều và đa dạng hơn Các trung gian tài chính không ngừng tạo ra các sản phẩm tài chính phong phú, nhằm đáp ứng đầy đủ và đa dạng nhu cầu của các bên tham gia thị trường.
Thực trạng hoạt động của thị trường tài chính ở nước ta thời
Quá trình hình thành và phát triển của thị trường tài chính 1990 tới nay
Với sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 7 năm
2000 Ta có thể dựa vào cột mốc đó để chia ra làm hai giai đoạn hình thành và phát triển của thị trường tài chính
2.1.1 Giai đoạn từ 1990 đến 2000 Đây là giai đoạn đầu, phôi thai cho một thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế thị trường Do chịu ảnh hưởng của một thời kỳ chiến tranh lâu dài, và thời kỳ trước đổi mới, nền kinh tế ta hoạt động một cách quan liêu và bao cấp kém hiệu quả Sau đổi mới năm 1986, một thị trường tài chính Việt Nam đã dần dần thành hình Điển hình là qua những sự kiện như:
Vào tháng 5 năm 1990, Hội đồng Nhà nước đã công bố hai pháp lệnh quan trọng về ngân hàng: Pháp lệnh ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, cùng với công ty tài chính Những văn bản pháp lý này đã đặt nền móng vững chắc cho việc đổi mới toàn diện cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng, mở ra nhiều cơ hội phát triển và điều chỉnh chính sách tiền tệ, tín dụng trong giai đoạn 1990-2000.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm thu hút nguồn vốn mới, tạo động lực phát triển, ngăn chặn tiêu cực và nâng cao hiệu quả hoạt động Văn kiện đại hội Đảng VII nhấn mạnh cần thực hiện các hình thức cổ phần hoá phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước.
Hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam chính thức ra đời và đi vào hoạt động từ ngày 1/10/1995, đánh dấu bước tiến quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất nước Sự kiện này thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội vững mạnh, bảo vệ quyền lợi người lao động và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Các chính sách và quản lý thuế được đưa ra và sửa đổi liên tục nhằm đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của đất nước
Trong những năm gần đây, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống thị trường tiền tệ bao gồm thị trường tiền gửi, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường trái phiếu kho bạc và các nghiệp vụ mở, góp phần cải thiện lưu thông, thanh toán, phân phối vốn và điều chỉnh nguồn vốn Mặc dù hệ thống này vẫn chưa phát triển mạnh, nhưng đã đóng vai trò quan trọng trong việc giảm bớt tình trạng ách tắc tài chính và tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các chủ thể kinh tế.
Trong giai đoạn này, thị trường tài chính đã có những bước đột phá và thành công quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, mức độ huy động vốn từ dân cư và nguồn vốn nước ngoài vẫn còn chiếm tỷ lệ chưa cao, đặt ra thách thức cần tăng cường các hoạt động huy động vốn hiệu quả hơn.
2.1.2 Giai đoạn từ năm 2001 đến 2006
Thị trường chứng khoán là cột mốc đánh dấu quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất và tự hào của thị trường tài chính Việt Nam Sự ra đời của thị trường chứng khoán đã mở ra một kênh huy động vốn hiệu quả nhất cho nền kinh tế quốc gia Kể từ khi chính thức hoạt động, thị trường chứng khoán đã thúc đẩy những bước chuyển đổi và phát triển vượt bậc của nền kinh tế, góp phần làm cho thị trường tài chính ngày càng lớn mạnh hơn Điều này đã giúp đất nước đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tạo nền tảng phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.
Thị trường chứng khoán TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội đã trở thành trung tâm giao dịch quan trọng, thúc đẩy sự bùng nổ của thị trường tài chính Việt Nam Sự xuất hiện của nhiều quỹ đầu tư trong nước và quốc tế cùng với ngân hàng thương mại cổ phần nhiều hơn đã tạo ra lực đẩy lớn cho nền kinh tế Hiện nay, vốn hóa thị trường chứng khoán đã chiếm gần 40% GDP, con số dự kiến sẽ tăng trong tương lai gần Có thể nói, chưa bao giờ thị trường tài chính Việt Nam phát triển mạnh mẽ và sôi động đến vậy.
2.1.3 Giai đoan từ 2007 đến nay
Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu đang đối mặt với nhiều “bong bóng”, thị trường Việt Nam không nằm ngoài xu hướng đó Thị trường mới nổi của châu Á này đang chứng kiến sự phát triển quá nóng, đi kèm với những rủi ro và thách thức đáng kể Điều này cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng nhanh chưa chắc đã phản ánh sự ổn định và bền vững của hệ thống tài chính Nguy cơ bong bóng tài chính tại khu vực châu Á ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu phải có các biện pháp quản lý và kiểm soát chặt chẽ hơn Các nhà đầu tư cần cảnh giác trước đà phát triển nóng của thị trường để tránh rủi ro không lường trước.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển, đặc biệt sau một thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng Hiện tại, thị trường chứng khoán Việt Nam đang ngày càng mở rộng và sôi động, nhờ sự đổ bộ của nhiều nguồn vốn toàn cầu Các nhà đầu tư nước ngoài đang rót vốn mạnh mẽ vào thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng trưởng gấp đôi kể từ tháng 11 năm ngoái và gấp bốn lần từ đầu năm 2006, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế Mặc dù trong những ngày gần đây, thị trường có dấu hiệu lắng dịu, nhưng các cổ phiếu hàng đầu vẫn duy trì giao dịch với mức giá cao hơn nhiều so với mệnh giá, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư vào tiềm năng phát triển của thị trường.
Trong những năm qua, nền kinh tế Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng cao liên tục, thể hiện sự phát triển vượt bậc của quốc gia Tuy nhiên, đồng thời cũng đối diện với nhiều thách thức như đầu tư quá mức, ô nhiễm môi trường và tình trạng mất cân đối thu nhập nghiêm trọng Việc gia nhập WTO đã mở ra cơ hội thúc đẩy tiến trình cải cách kinh tế sâu rộng, giúp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững trong tương lai.
Việt Nam có nhiều lợi thế nổi bật như đội ngũ lãnh đạo chính trị mới và vị trí địa lý thuận lợi thúc đẩy phát triển thương mại Cơ cấu dân số trẻ trung và tiềm năng cùng với hệ thống tài chính phát triển hơn cả Trung Quốc ở giai đoạn tăng trưởng hiện tại tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế dài hạn Trong năm 2007, nhiều công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán sơ khai của Việt Nam, đồng thời nhiều doanh nghiệp lớn khác đang chuẩn bị gia nhập sàn giao dịch, cho thấy thị trường tài chính quốc gia ngày càng sôi động và tiềm năng thu hút đầu tư.
Dòng vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán có thể gây ra những nguy hiểm lớn, giống như các vụ sụp đổ kinh tế ở Thái Lan và Malaysia vào thập kỷ 1990 Trong khi giá cổ phiếu giảm chỉ ảnh hưởng đến các nhà đầu tư, thì các sự kiện như sụp đổ thị trường chứng khoán Trung Quốc năm 2001 không gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế Tuy nhiên, tại Việt Nam, cường độ của các làn sóng đầu tư đang tăng mạnh có thể dẫn đến thiệt hại lớn đối với hệ thống tài chính quốc gia khi làn sóng này giảm mạnh.
Hiện có khoảng 2-3 tỷ USD vốn đầu tư từ nước ngoài chờ đổ vào thị trường chứng khoán Việt Nam, vượt xa tổng vốn FDI đăng ký khoảng 10 tỷ USD năm 2006, trong đó 2 tỷ USD đã được thực hiện Ngoài ra, nhiều nguồn vốn khác hướng vào thị trường bất động sản của Việt Nam, gây áp lực tăng cung tiền trong nước Cơn sốt chứng khoán tại TP.HCM đã thu hút nhiều người dân tham gia, làm tăng mức độ rủi ro và lo ngại về sự phát triển nóng của thị trường tài chính Việt Nam.
Vai trò thị trường tài chính trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta những năm qua
Thị trường tài chính là kênh dẫn vốn hiệu quả từ người tiết kiệm đến doanh nghiệp, facilitating the transfer of capital from savers to investors with profit-making opportunities Hiện nay, nguồn vốn đầu tư đóng góp khoảng 50% - 55% vào tăng trưởng kinh tế hàng năm, cho thấy vai trò quan trọng của vốn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do đó, huy động vốn để thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế - xã hội là một nhiệm vụ then chốt của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, vốn tự có của doanh nghiệp và người sản xuất còn ít ỏi, phần lớn nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh đều phụ thuộc vào vốn tín dụng ngân hàng Các ngân hàng thương mại huy động vốn từ xã hội, dân cư và nguồn vốn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu vay vốn; đồng thời, họ sử dụng các phương thức đa dạng như giải tỏa vốn đọng từ nợ xấu, phát hành cổ phiếu và trái phiếu để tăng vốn điều lệ, thu hút tiền gửi tiết kiệm và mở rộng dịch vụ ngân hàng.
Trong 5 năm qua, tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng trên cả nước tăng trung bình từ 20% đến 25% mỗi năm, cao gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế Cụ thể, năm 2000, vốn huy động của hệ thống ngân hàng tăng 26,5% so với năm trước, năm 2001 tăng 25,53%, năm 2002 tăng 17,7%, năm 2003 tăng 24,94%, năm 2004 tăng 30,39%, năm 2005 tăng 18%, và trong 6 tháng đầu năm 2006, tăng hơn 12%.
Hệ thống ngân hàng đóng vai trò chủ đạo trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, với các Ngân hàng Thương mại Nhà nước chiếm hơn 70% thị phần huy động vốn Mặc dù thị phần của các ngân hàng cổ phần còn khiêm tốn, nhưng đang có xu hướng tăng nhanh Ngoài các kênh huy động vốn truyền thống, hệ thống ngân hàng còn là trung tâm đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức tiếp nhận vốn và cho vay nhiều dự án lớn từ các tổ chức quốc tế như World Bank và ADB, đặc biệt trong các lĩnh vực điện lực, giao thông nông thôn, bảo vệ môi trường và xóa đói giảm nghèo.
Ngân sách chủ yếu huy động vốn thông qua phát hành tín phiếu Kho bạc Nhà nước qua đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước, có sự tham gia của các ngân hàng, tổ chức bảo hiểm và quỹ đầu tư Ngoài ra, còn có nguồn vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ trong và ngoài nước, phát hành công trái và vốn từ Công ty dịch vụ tiết kiệm Bưu điện, cùng với vốn của Bảo hiểm xã hội chuyển cho Quỹ hỗ trợ phát triển (hiện nay là Ngân hàng Phát triển) Thêm vào đó, nguồn vốn ODA do Ngân hàng Phát triển cho vay lại cũng đóng góp đáng kể vào nguồn vốn ngân sách.
Trong giai đoạn 2001-2005, Chính phủ Việt Nam đã phát hành gần 60.000 tỉ đồng trái phiếu, trong đó 50.000 tỉ đồng qua Kho bạc Nhà nước và 8.000 tỉ đồng qua đấu giá tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Năm 2005, Chính phủ lần đầu tiên phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 750 triệu USD với kỳ hạn 10 năm, giá bán cuối cùng là 98,223% mệnh giá, lãi suất 6,875%/năm, thấp hơn các nước có mức độ tín nhiệm tương đương như Philippines (8,075%) và Indonesia (7,75%) Toàn bộ số vốn huy động này được Bộ Tài chính sử dụng để cho Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy vay đầu tư dự án đóng tàu Tới cuối năm 2005, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã tham gia gần 6.600 dự án với tổng vốn hợp đồng khoảng 160.000 tỉ đồng, giải ngân gần 110.000 tỉ đồng, dư nợ hơn 79.578 tỉ đồng Ngoài các hình thức hỗ trợ trực tiếp, Chính phủ còn đẩy mạnh các hình thức bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ lãi suất, với 1.846 dự án được hỗ trợ lãi sau đầu tư và 5 dự án được bảo lãnh tín dụng, tạo điều kiện huy động hàng chục ngàn tỉ đồng từ các nhà đầu tư và tổ chức tín dụng để thúc đẩy phát triển kinh tế.
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã huy động gần 7.000 tỉ đồng qua phát hành trái phiếu địa phương, trong đó Hà Nội đã huy động hàng trăm tỷ đồng từ trái phiếu xây dựng cầu Thanh Trì, đây là giải pháp quan trọng giúp huy động vốn cho đầu tư phát triển và giảm áp lực từ hệ thống ngân hàng Để giảm sự phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng, một số loại trái phiếu doanh nghiệp như của Tổng công ty Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Dầu khí cũng được phát hành rộng rãi trong xã hội, với tổng số vốn phát hành lên tới hàng nghìn tỷ đồng, phù hợp với các thông lệ quốc tế trong huy động vốn phát triển hạ tầng.
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thông qua bán đấu giá và bán cổ phần là một kênh huy động vốn quan trọng, đặc biệt từ các cổ phiếu có tính thanh khoản cao và lợi nhuận hấp dẫn như Vinamilk, Công ty Cao su miền Nam, và một số nhà máy điện, đã góp phần thu về hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước Ngoài ra, các doanh nghiệp tư nhân cũng đã huy động hàng chục nghìn tỷ đồng thông qua các hình thức thu hút vốn đầu tư.
Thành tựu và những vấn đề cần đặt ra
Việt Nam đã có những bước đi quan trọng trong việc mở cửa hội nhập kinh tế toàn cầu, trong đó việc gia nhập WTO mở ra nhiều cơ hội phát triển mới cho đất nước Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các chính sách về tài chính và ngân hàng phát triển phù hợp với yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Chính sách cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đặc biệt là việc thực thi Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư từ tháng 7 năm 2006, đã tạo ra nhiều cơ hội mới cho cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước, đồng thời mở rộng thị trường hàng hóa và dịch vụ với các quy định rõ ràng, minh bạch Việt Nam đã mở cửa kinh tế mạnh mẽ, thu hút dòng vốn từ các nền kinh tế lớn, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam vào tháng 7 năm 2000 đánh dấu bước ngoặt quan trọng, khi thị trường ngày càng phát triển với các trung tâm giao dịch như Hồ Chí Minh và Hà Nội, góp phần nâng cao quy mô vốn hóa, hiện chiếm 40% GDP Tuy nhiên, để phát huy tối đa tiềm năng phát triển, việc xây dựng cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả là điều cần thiết để hỗ trợ sự bền vững của nền kinh tế đất nước.
Việc cải thiện các yếu tố kinh tế cơ bản và thực hiện các chính sách cải cách đang thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn tại Việt Nam Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ, đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
Sự phát triển của thị trường trái phiếu và kế hoạch cổ phần hóa có tác động tích cực đến thị trường cổ phiếu, tạo nhiều cơ hội đầu tư lớn hơn cho nhà đầu tư Việc hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng nội địa một cách bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hiệu quả Trong thực tế, đã có những tiến bộ đáng kể trong hệ thống ngân hàng và hội nhập thị trường vốn quốc tế, trong đó ngành ngân hàng tiếp tục phát triển mạnh mẽ Kế hoạch cổ phần hóa các ngân hàng quốc doanh đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của thị trường tài chính, tuy nhiên cần chú trọng giải quyết các vấn đề nợ xấu và duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng Các ngân hàng nước ngoài cũng đóng vai trò ngày càng nổi bật trong việc thúc đẩy phát triển thị trường tài chính của quốc gia.
Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách nhằm đơn giản hóa thủ tục đầu tư kinh doanh và nâng cao sự lành mạnh toàn diện của hệ thống ngân hàng, góp phần xây dựng một hệ thống tài chính vững mạnh và hiện đại Để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, cần tăng cường phát triển thị trường vốn năng động, hoàn thiện hạ tầng tín dụng, xây dựng hệ thống đánh giá tín nhiệm đáng tin cậy và pháp lý phù hợp để huy động nguồn vốn hiệu quả Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và đưa chúng vào thị trường chứng khoán là chiến lược quan trọng nhằm nâng cao niềm tin của nhà đầu tư Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện khung khổ pháp lý theo chuẩn quốc tế, tăng cường phòng chống tham nhũng, rửa tiền, cải cách hành chính, và phát triển nguồn nhân lực, hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững và bình đẳng trong mọi thành phần kinh tế.
Việt Nam, đặc biệt là TPHCM, đang hướng tới một tương lai phát triển bền vững với một dân số trẻ trung và lạc quan Các tập đoàn nước ngoài đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam nhờ tiềm năng lớn của đất nước và kỳ vọng đất nước sẽ trở thành một trong những nền kinh tế năng động nhất châu Á sau WTO TPHCM đang nỗ lực xây dựng trở thành trung tâm tài chính của khu vực Đông Nam Á, đặc biệt tập trung thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng để thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế bền vững.
Giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường tài chính
Định hướng mở rộng và phát triển thị trường tài chính Việt Nam hội nhập thế giới
Dựa trên quan điểm của Đảng về phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm nhằm xây dựng nền tảng vững chắc cho một đất nước công nghiệp Định hướng phát triển tài chính được hoạch định dựa trên các nguyên tắc này để đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững của quốc gia.
Tài chính đóng vai trò quan trọng như mạch máu của nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững Nó là công cụ đắc lực giúp thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia Ngoài ra, tài chính còn là công cụ sắc bén để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Chính sách tài chính quốc gia cần tập trung vào việc khai thác tối đa các nguồn lực trong nước, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế-xã hội Đồng thời, việc xây dựng các chính sách động viên hợp lý và hiệu quả sẽ góp phần huy động mọi nguồn lực quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển toàn diện của đất nước.
Chính sách phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính cần đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả để thúc đẩy phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội Đồng thời, chính sách phải hướng đến công bằng xã hội, bảo vệ và nâng cao môi trường Việc giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia vào quá trình phân phối là rất quan trọng, kèm theo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tài chính để đảm bảo sử dụng tiết kiệm, triệt để mọi nguồn lực tài chính của quốc gia.
Trong quá trình hội nhập và hợp tác tài chính quốc tế, việc mở rộng quan hệ tài chính đối ngoại là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển nền tài chính quốc gia Chủ động hội nhập quốc tế về tài chính giúp nâng cao vị thế của quốc gia trên thị trường toàn cầu, mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn vốn và công nghệ mới Điều này góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của ngành tài chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.
Quản lý nhà nước về tài chính bằng pháp luật nhằm đảm bảo tính thống nhất, minh bạch, kỷ cương và hiện đại hóa nền tài chính quốc gia Đồng thời, xây dựng đội ngũ công thức tài chính giỏi về chuyên môn, có đạo đức nghề nghiệp, trong sạch, chí công vô tư, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
3.2 Các giải pháp mở rộng thị trường tài chính
3.2.1 Thứ nhất, khai thác và động viên cao độ đi đôi với phân phối hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển kinh tế-xã hội. Tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, hấp dẫn, thúc đẩy mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển kinh tế-xã hội Phân phối và sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả nguồn lực đầu tư của toàn xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đồng bộ các vùng, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế gắn với đảm bảo công bằng xã hội.
3.2.2 Thứ hai, đổi mới và phát triển doanh nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh Bên cạnh việc đẩy nhanh quá trình đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách tài chính doanh nghiệp ổn định, bình đẳng, minh bạch; tăng cường quyền tự chủ kinh doanh, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp trong đầu tư và huy động vốn.
3.2.3 Thứ ba, đổi mới chính sách tiền tệ, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khoá, đảm bảo an toàn tài chính và sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Mở rộng hệ thống ngân hàng về số lượng và chất lượng là yếu tố then chốt thúc đẩy hoạt động lưu thông tiền tệ hiệu quả Việc tăng cường các ngân hàng góp phần vào việc nâng cao tính thanh khoản của thị trường tài chính, giúp thị trường trở nên linh hoạt và sôi động hơn Điều này không những tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh mà còn hỗ trợ sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Hiện nay, các ngân hàng Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế, là kênh huy động và cung ứng vốn chính cho phát triển Với 30% vốn đầu tư hàng năm và 40% nhu cầu vốn của doanh nghiệp được tài trợ qua tín dụng ngân hàng, hệ thống ngân hàng là trụ cột tài chính của quốc gia Mặc dù còn thấp so với một số quốc gia khác, tổng dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã vượt quá 60% GDP vào cuối năm 2005, cao hơn mức trung bình của các nước có thu nhập thấp.
Trong những năm giữa thập niên 1990, phần lớn hơn 75% nguồn vốn của các ngân hàng đổ vào các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đến cuối năm 2005, tỷ lệ này đã giảm mạnh còn khoảng 30%, phản ánh sự chuyển đổi trong hệ thống tài chính và hướng tín dụng sang các lĩnh vực khác.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng quyết liệt, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ ngân hàng bán lẻ, trở nên đa dạng và phong phú hơn, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ Để xây dựng hệ thống ngân hàng mạnh về quy mô và chất lượng, giải pháp cổ phần hóa và thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài ngày càng được xem trọng, vì họ giúp nâng cao khả năng quản trị và xây dựng chiến lược dài hạn Trên thực tế, hệ thống ngân hàng các nước Đông Âu đã phát triển mạnh mẽ nhờ sự tham gia của nhà đầu tư chiến lược, điều này cũng là lý do các ngân hàng thương mại nhà nước ngày càng cần thiết và phù hợp hơn trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.
Trung Quốc không ngần ngại bán ngay cổ phần cho những đại gia như Bank of America, HSBC, Royal Bank of Scotland
Hiện nay, các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam đã đạt được bước tiến vượt bậc nhờ vào việc thu hút nhà đầu tư chiến lược quốc tế Sự hiện diện của các nhà đầu tư này đã giúp tăng trưởng vốn hóa trên thị trường của các ngân hàng ngày càng nhanh chóng Đồng thời, trình độ quản lý của ngân hàng cũng được nâng cao, trở nên chuyên nghiệp hơn để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Từ năm 2007 đến nay, lạm phát ở Việt Nam diễn biến rất cao Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp để kiểm soát lạm phát, trong đó có kế hoạch 7 điều cuối tháng 3 gồm thắt chặt chính sách tiền tệ, cắt giảm chi tiêu công, tập trung phát triển nông nghiệp, thúc đẩy xuất khẩu, giảm tiêu dùng, kiểm soát thị trường tránh đầu cơ, và hỗ trợ xã hội cho người nghèo Trong bối cảnh lạm phát cao hiện nay, một chính sách ngân sách hợp lý là cần thiết để duy trì ổn định kinh tế, tuy nhiên quản lý giá cả và xuất khẩu có thể gây ra bất ổn và không đem lại hiệu quả lâu dài Ngân hàng Trung ương cũng đã thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ như tăng lãi suất, tăng tỷ lệ bắt buộc và nới lỏng biên độ tỷ giá để bảo vệ đồng tiền Việt Nam trước USD, nhằm kiểm soát lạm phát hiệu quả hơn.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính
Để đạt mục tiêu huy động vốn đầu tư toàn xã hội nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tập trung vào các giải pháp khai thác và huy động các nguồn lực tài chính phong phú Trong giai đoạn tới, chiến lược huy động tài chính không chỉ chú trọng vào nguồn lực nội lực mà còn mở rộng ra các nguồn vốn ngoài nước, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, nhằm đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả huy động vốn cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
3.3.1 Về chính sách tài khoá
Chính sách cải cách cơ chế xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước tập trung vào việc phát triển các kế hoạch ngân sách trung hạn và ngắn hạn khả thi, gắn kết chặt chẽ với quản lý ngân sách dựa trên kết quả đầu ra để thúc đẩy hiệu quả trong thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đồng thời, việc rà soát toàn diện các cơ chế, chính sách hiện hành nhằm đảm bảo tuân thủ nguyên tắc của WTO và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là các chính sách liên quan đến trợ cấp tài chính.
Vai trò của nguồn lực tài chính nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội ngày càng được nâng cao thông qua việc định hướng, phân bổ hiệu quả nguồn vốn đầu tư Ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung vào xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo ngân sách cho các công trình trọng điểm quốc gia và các mục tiêu chiến lược như phát triển con người, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng Chính sách tài chính quốc gia hướng tới tăng trưởng bền vững, xoá đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần định hướng phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với các mục tiêu chiến lược dài hạn.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách nhằm đảm bảo sự cân đối giữa tập trung thống nhất và phân quyền hiệu quả Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương vẫn được duy trì để điều phối ngân sách toàn quốc, đồng thời phân cấp mạnh mẽ hơn để tăng cường trách nhiệm và tính chủ động của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý tài chính Cải cách hệ thống chính sách thuế và hải quan đóng vai trò trọng yếu trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động thu ngân sách và thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế.
Triển khai có hiệu quả chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm
Năm 2010, mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, công bằng, hiệu quả, minh bạch và công khai nhằm thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế, đảm bảo nguồn lực tài chính lâu dài và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế Chính phủ đã ban hành và sửa đổi nhiều luật thuế như Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế giá trị gia tăng để đảm bảo tính công bằng, đơn giản, hoàn thiện phương pháp tính thuế và khấu trừ phù hợp quốc tế; sửa đổi Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm mở rộng đối tượng chịu thuế và đảm bảo bình đẳng giữa hàng sản xuất trong nước và nhập khẩu; đồng thời, giảm mức thuế suất, mở rộng diện miễn giảm và thống nhất ưu đãi giữa các thành phần kinh tế trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp Ngoài ra, chính sách thuế về sử dụng đất và tài nguyên cũng được hoàn thiện qua việc ban hành Luật lý thuế, kết hợp chính sách tự khai, tự nộp thuế, hiện đại hoá công tác quản lý thuế và hệ thống hải quan, đồng thời tạo điều kiện pháp lý để tham gia Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto của Hải quan Thế giới.
Tiếp tục phát triển thị trường vốn trở thành kênh huy động vốn dài hạn an toàn, hiệu quả cao cho đầu tư phát triển và hội nhập khu vực, thế giới Đa dạng hóa các loại trái phiếu Chính phủ làm chuẩn mực cho các công cụ nợ, khuyến khích doanh nghiệp huy động vốn qua phát hành cổ phần và trái phiếu, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước kết hợp với niêm yết trên thị trường chứng khoán để tăng khả năng huy động vốn và thúc đẩy phát triển thị trường chứng khoán Hoàn thiện thể chế hoạt động của thị trường chứng khoán, phát triển hệ thống các định chế tài chính trung gian, mở rộng thị trường giao dịch chứng khoán tổ chức qua Sở Giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán và xây dựng thị trường phi tập trung để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường vốn.
Tăng cường tính công khai và minh bạch của thị trường là ưu tiên hàng đầu, với việc thực hiện giám sát và cưỡng chế thực thi nghiêm ngặt nhằm đảm bảo sự công bằng Áp dụng nguyên tắc quản trị công ty theo thông lệ quốc tế đối với các công ty niêm yết và công ty đại chúng để nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Từng bước mở rộng sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, tham gia vào thị trường vốn quốc tế nhằm đa dạng hóa nguồn vốn và phát triển bền vững.
3.3.3 Về cải cách doanh nghiệp
Để thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, cần xây dựng và hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính đảm bảo tính bình đẳng, ổn định, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khai thác mọi nguồn lực nội tại và bên ngoài Chính sách tài chính cần được đổi mới nhằm tăng cường năng lực tài chính cho các doanh nghiệp nhà nước, mở rộng đối tượng cổ phần hóa bao gồm cả các tổng công ty lớn trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông Việc đổi mới quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước cần tách rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn để nâng cao hiệu quả quản lý Cơ chế chủ quản truyền thống cần được loại bỏ, thay vào đó là áp dụng cơ chế đặt hàng của nhà nước trong sản xuất các hàng hoá, dịch vụ công ích, đồng thời tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước cần đảm nhận vai trò quản lý vốn và đầu tư tài chính Để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn, cần thực hiện các chính sách tín dụng đầu tư qua Ngân hàng phát triển Việt Nam và các quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
3.3.4 Về quản lý tài sản công
Chúng ta đang tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý tài sản công nhằm xây dựng khung pháp lý đầy đủ và đồng bộ, tạo điều kiện quản lý chặt chẽ và khai thác hiệu quả nguồn lực từ đất đai, tài nguyên và tài sản công Việc kiểm soát chặt chẽ các hoạt động đầu tư, mua sắm và sử dụng tài sản công đi cùng với việc phân cấp quản lý tài sản, gắn kết quyền lợi với trách nhiệm và kết quả với chi phí Đồng thời, phát triển thị trường bất động sản lành mạnh, đặc biệt là hoàn thiện thể chế chính sách liên quan đến hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhằm thúc đẩy các tác động tích cực tới phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
3.3.5 Về hoạt động tài chính đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế về tài chính
Xác định lộ trình hợp lý để phát triển và tự do hoá từng bước luồng vốn nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế Đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn vốn và đa phương hóa quan hệ đối tác để nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn Hoàn thiện công tác quản lý nợ nước ngoài và nguồn vốn nhằm đảm bảo an toàn tài chính quốc gia.
Chính phủ đã hỗ trợ phát triển chính thức ODA và xây dựng hệ thống giám sát nợ, cùng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các dự án sử dụng vốn vay nước ngoài Công tác thanh toán nợ đúng hạn được chú trọng nhằm đảm bảo ổn định tài chính Đồng thời, Bộ máy quản lý được hoàn thiện, nhân lực trong lĩnh vực nợ nước ngoài được tăng cường để nâng cao hiệu quả quản lý Việc hoàn thiện khung pháp lý về tài chính theo chuẩn mực quốc tế giúp thúc đẩy hội nhập thành công của quốc gia Chính sách tài chính cũng được điều chỉnh phù hợp với các cam kết song phương và đa phương, đồng thời chủ động phát triển các định chế tài chính, ngân hàng, thương mại trọng điểm, có lộ trình rõ ràng và minh bạch, góp phần củng cố nền kinh tế vững chắc.
Chúng ta cần tăng cường công khai, minh bạch trong hệ thống tài chính, đồng thời xây dựng và nâng cao hiệu quả công tác kế toán, kiểm toán, thanh tra giám sát và công bố thông tin liên quan đến hoạt động thu chi tài chính và ngân sách Việc thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc và công bố thông tin của các cấp ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách cùng các công ty nhà nước là rất quan trọng để đảm bảo minh bạch và trách nhiệm Phân định rõ trách nhiệm và đẩy mạnh phối hợp giữa cơ quan kiểm toán nhà nước, thanh tra tài chính, kiểm soát nội bộ, đồng thời mở rộng sử dụng dịch vụ kiểm toán độc lập đối với các đơn vị thu, chi tài chính, ngân sách Các cơ quan chức năng cần tổ chức triển khai hiệu quả các quy định của Luật Thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, đồng thời nâng cao năng lực giám sát của các cơ quan dân cử, tổ chức xã hội nghề nghiệp và nhân dân Cuối cùng, thực hiện chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý ngân sách, áp dụng chế tài xử phạt vi phạm hành chính để tăng cường hiệu quả thực thi và đảm bảo tuân thủ các quy định về tài chính - ngân sách.
3.3.6 Về cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính Đồng bộ hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cải cách thủ tục hành chính về tài chính; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý tài chính - ngân sách; tiêu chuẩn hoá cán bộ tài chính, xây dựng đội ngũ công chức tài chính đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao Hiện đại hoá quản lý tài chính - ngân sách, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý trước hết là lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc; tiến tới thực hiện thống nhất các quy trình nghiệp vụ quản lý, điều hành công tác tài chính theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế [7, web] [8, web]