1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đồ án môn học kinh tế quản lý công nghiệp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

65 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án môn học kinh tế quản lý công nghiệp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Quản Lý Công Nghiệp
Thể loại Đồ án
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 355,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, xảy ra các khả năng: Một là giá bán ở thị trường nước xuất khẩu được sử dụng để so sánh là giá của sản phẩm 3 Luật quốc tế và các nước không đề cập đến phá giá đối với thị trường

Trang 1

1.3 Chống bán phá giá trong thương mại quốc tế 32

1.3.1 Quy định về chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại

1.3.2 Giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá trong

1.3.3 Sử dụng quy chế kinh tế phi thị trường trong thương mại

Trang 2

Mở đầu

1 Sự cần thiết

Cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc có nên sử dụngchính sách chống bán phá giá hay không và ngay cả trong số những quanđiểm ủng hộ việc sử dụng chính sách này cũng tồn tại những lập luận khácnhau về những nội dung cụ thể như việc xác định biên độ bán phá giá, xácđịnh ngành sản xuất trong nước, xác định thiệt hại hay rà soát áp dụng biệnpháp chống bán phá giá,v.v Mặc dù quan điểm lý thuyết như thế nào, trênthực tế của thương mại thế giới có thể thấy rõ mặc dù các nước tham gia vàoWTO và các hiệp định thương mại tự do luôn ủng hộ tự do hóa thương mại,song mặt khác cũng luôn tìm cách bảo hộ sản xuất trong nước Trong bốicảnh các hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị dỡ bỏ đáng kể thì các công

cụ phòng vệ thương mại càng trở nên quan trọng

Chống bán phá giá hay một công cụ phòng vệ thương mại khác cũng

có tính hai mặt đối với lợi ích kinh tế của một quốc gia Nếu như không sửdụng thì ngành sản xuất trong nước có nguy cơ bị đe dọa, nhưng nếu lạmdụng quá mức cũng có thể gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước vìphải trả chi phí cao cho sản phẩm nhập khẩu Chính vì vậy, việc sử dụngcông cụ này như thế nào cần phải được tính toán kinh tế để đưa ra chínhsách phù hợp Bên cạnh đó, việc sử dụng chính sách chống bán phá giá làmột việc hết sức phức tạp, để sử dụng được cần phải đáp ứng những điềukiện nhất định Trong đó, xây dựng cụ thể về mặt nội dung chính sách, bêncạnh điều kiện chuyên môn và nguồn lực, là một nội dung cốt yếu

Để có thể thực hiện xây dựng một chính sách có chủ trương, chiếnlược rõ ràng và có công cụ cụ thể để thực hiện, cần thiết phải nghiên cứu cơ

sở kinh tế và nội dung chính sách, tính đến bối cảnh Việt Nam đã trở thànhthành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO

Trang 3

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của chuyên đề này là tìm hiểu và phân tíchnhững vấn đề cơ bản và cốt lõi của chính sách chống bán phá giá trên cơ sởphân tích từ mục đích kinh tế của hành động bán phá giá của doanh nghiệpđến chính sách phản hồi của chính phủ trong bối cảnh phải tuân thủ quyđịnh của WTO Nội dung này nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng một chínhsách chống bán phá giá có cơ sở lý luận, ngoài cơ sở tham khảo kinh nghiệmcủa các nước được nghiên cứu ở Chuyên đề 2

3 Nội dung chính

Chuyên đề này nghiên cứu các nội dung sau:

- Giải thích nguyên nhân hành động bán phá giá;

- Phân tích nội dung cơ bản và vai trò cảu chính sách chống bán phágiá

- Phân tích quy định của WTO về chống bán phá giá và cơ chế giảiquyết tranh chấp

Trang 4

1.1 Bán phá giá

1.1.1 Bán phá giá

a) Bán phá giá và định giá thấp

Khái niệm có nội hàm bán phá giá lần đầu tiên được quy định trong

hệ thống pháp luật của Canada ban hành năm 19041 với thuật ngữ “định giáchiếm đoạt” (predatory pricing) nhằm bảo vệ các doanh nghiệp nước nàykhỏi các công ty sản xuất thép của Hoa Kỳ [4] Sau đó khái niệm này đượccác nước khác sử dụng và quy định trong luật quốc gia khác2 Khái niệmđịnh giá chiếm đoạt được cho là một khái niệm mượn trong lĩnh vực chínhsách cạnh tranh nội địa vì chính sách cạnh tranh được xây dựng để hạn chếnhững hành vi phi cạnh tranh chủ yếu do các công ty trong nước thực hiệntrong đó có hành vi định giá thấp hơn chi phí để loại các đối thủ cạnh tranhkhỏi thị trường nhằm duy trì vị trí thống lĩnh [12] Việc định giá chiếm đoạt

để thực hiện đạt được và khai thác vị thế độc quyền, hạn chế cạnh tranh ở thịtrường nội địa và làm tổn hại quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc địnhgiá độc quyền trong thời gian dài Do đó, “bán phá giá” (dumping) đượcđịnh nghĩa trong kinh tế học là “định giá chiếm đoạt” theo nghĩa là hànhđộng của doanh nghiệp bán hàng hóa với mức giá thấp để cạnh tranh mangtính loại bỏ hàng hóa của đối thủ cạnh tranh trên thị trường [23] Như vậy,bán phá giá là thuật ngữ kinh tế có nguồn gốc chỉ hành động định giá thấpcủa doanh nghiệp (không phân biệt thị trường nội địa hay thị trường quốctế) Luật pháp các nước do đó cũng có quy định về bán phá giá cho cả thịtrường trong nước và bán phá giá quốc tế áp dụng đối với hàng nhập khẩu

Với nghĩa là định giá thấp, các nghiên cứu kinh tế học chia bán phágiá thành hai loại: bán phá giá theo giá (price dumping) và bán phá giá theo

1 Trong Luật sửa đổi Luật thuế quan 1897.

2 New Zealand ban hành năm 1905, Australia năm 1906, Mỹ năm 1916, các nước châu Âu, thập niên 1920, Nam Phi năm 1921.

Trang 5

chi phí (cost dumping) Bán phá giá theo giá đề cập đến sự phân biệt giáquốc tế (international price discrimination), bán phá giá theo chi phí là việcbán hàng hóa ở mức giá thấp hơn chi phí để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm Theo phân tích về quy định của WTO trong các phần dưới đây có thểthấy, WTO đề cập đến bán phá giá theo giá vì bán hàng dưới chi phí khôngđược coi là “trong điều kiện thương mại thông thường” và do đó việc xácđịnh bán phá giá trên cơ sở so sánh với chi phí chỉ được thực hiện nếu việcbán hàng là không thực hiện trong “điều kiện thương mại thông thường”

Trong thương mại quốc tế thì giá hàng hóa nhập khẩu không chỉ phụthuộc vào giá bán của nhà xuất khẩu mà còn phụ thuộc vào tỷ giá của đồngtiền nước xuất khẩu và đồng tiền nước nhập khẩu Chính vì vậy, giá củahàng hóa nhập khẩu có thể bị hạ thấp nếu như nước xuất khẩu áp dụng chínhsách tỉ giá thấp nghĩa là hạ thấp tỉ giá của đồng tiền nước mình Trongtrường hợp đó, giá của tất cả hàng hóa xuất khẩu của nước đó quy đổi rađồng tiền nước nhập khẩu sẽ giảm xuống và tạo ra lợi thế cạnh tranh củahàng hóa đó trên thị trường nước nhập khẩu Do vậy, việc phá giá tiền tệ này

có thể dẫn đến việc bán phá giá theo giá đối với tất cả các mặt hàng xuấtkhẩu Trong các nghiên cứu kinh tế, trường hợp bán phá giá này thườngđược gọi là “phá giá tiền tệ”

Như vậy phá giá tiền tệ có khác biệt cơ bản với bán phá giá (thôngthường) ở chỗ, một hành vi là của nhà nước, một hành vi là của doanhnghiệp và tác động tạo ra của phá giá tiền tệ là đối với tất cả hàng hóa xuấtkhẩu chứ không chỉ riêng hàng xuất khẩu của một doanh nghiệp

Tuy vậy, trong điều kiện các nước đều theo đuổi mục tiêu phát triểnnền kinh tế thị trường, trong đó chính sách tỉ giá được điều tiết trên cơ sởcung cầu của thị trường (mặc dù có sự can thiệp nhất định của nhà nước)nên việc bán phá giá tiền tệ (trong thời gian đủ dài) là rất khó xảy ra trênthực tế Chính vì vậy, ngày nay khi nói đến bán phá giá – dumping – là nói

Trang 6

đến hành vi bán phá giá của doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường nướcnhập khẩu.

Trong pháp luật quốc tế, vấn đề bán phá giá (và chống bán phá giá)lần đầu được quy định trong Hiệp định GATT năm 1947 và dần trở thànhmột trong những chủ đề gây tranh cãi trong WTO cũng như các diễn đànkinh tế, thương mại Quan điểm chính sách trong ứng xử với hành vi bánphá giá, cũng như quan điểm coi thế nào là bán phá giá (cần phải chống) củacác nước cũng khác nhau, phát triển qua trên cơ sở bị chi phối bởi quanđiểm chính sách kinh tế, chính sách kinh tế chính trị của từng nước trongtừng thời kỳ Vấn đề này sẽ được nghiên cứu trong các phần tiếp theo

b) Khái niệm bán phá giá hiện đại

Một định nghĩa có thể được dùng để giải thích tính cạnh tranh khônglành mạnh của hành vi bán phá giá là định nghĩa trong Từ điển kinh tế họccủa Đại học Oxford, theo đó, bán phá giá có nghĩa là bán hàng hóa ở mộtnước khác ở một mức giá mà các nhà sản xuất địa phương cho là mức giáthấp không lành mạnh (unfairly low) [17, trg 131] Để cụ thể hóa thànhđịnh nghĩa mang tính quy phạm, luật quốc tế và luật các nước ngày nay đềuđịnh nghĩa bán phá giá là trường hợp phân biệt giá quốc tế3 mà ở đó, giá củamột sản phẩm bán sang thị trường nước nhập khẩu thấp hơn giá của sảnphẩm đó bán ở thị trường nước xuất khẩu

Mặc dù vậy, nếu như giá xuất khẩu của một mặt hàng có thể dễ dàngxác định thì giá của hàng hóa đó ở thị trường nước xuất khẩu có thể khôngxác định được vì lý do có thể hàng hóa đó không được bán ở thị trườngnước xuất khẩu Trong trường hợp này bắt buộc phải lấy một mức giá thamchiếu “hợp lý” nhất để so sánh Do đó, xảy ra các khả năng: Một là giá bán

ở thị trường nước xuất khẩu được sử dụng để so sánh là giá của sản phẩm

3 Luật quốc tế và các nước không đề cập đến phá giá đối với thị trường nội địa.

Trang 7

tương tự; Hai là, giá tại thị trường nước xuất khẩu được tham chiếu đến giáxuất khẩu của sản phẩm đó (hoặc sản phẩm tương tự) sang thị trường nướcthứ ba Ba là giá được sử dụng để so sánh được tính dựa trên chi phí sảnxuất của hàng hóa đó ở nước xuất khẩu

Rõ ràng, về mặt khoa học, mỗi phương pháp xác định đều có những

ưu và nhược điểm riêng Do đó cũng tồn tại nhiều quan điểm về việc ưu tiênphương pháp nào Đối với hai phương pháp đầu tiên thì việc xác định sảnphẩm tương tự sẽ là vấn đề phức tạp Phương pháp thứ ba sẽ cần có đủ dữliệu về chi phí sản xuất của nhà sản xuất ở nước xuất khẩu

Xuất phát từ thực tế đó, Hiệp định AD định nghĩa “một sản phẩm bịcoi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nướckhác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giáxuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nướckhác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự đượctiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”(Điều 2.1) Khi xảy ra trường hợp này, hành vi bán hàng hóa của nhà xuấtkhẩu được cho là hành vi thương mại không công bằng (cạnh tranh khônglành mạnh).Đây chính là cơ sở để áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Luật pháp và thông lệ quốc tế thừa nhận bán phá giá có thể dẫn đếnthương mại không công bằng vì ngành sản xuất trong nước nhập khẩu cóthể chịu thiệt hại từ việc bán phá giá đó Trong trường hợp đó, và khi một sốyêu cầu được đáp ứng, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có thểthực thi các hành động chống lại việc bán phá giá (chống bán phá giá – anti-dumping)

1.1.2 Mục đích của việc bán phá giá

Trang 8

Xuất phát từ định nghĩa bán phá giá, các nghiên cứu đã chỉ ra rằngbán phá giá trong phạm vi định nghĩa là bán hàng hóa với giá thấp hơn giátrị thông thường, có thể xuất phát từ mục đích nhằm giải quyết khó khăntrong kinh doanh và bán phá giá để thực hiện chiến lược thị trường Việcphân loại theo động cơ hay mục đích bán phá giá nhằm giải thích bản chấtkinh tế của hành vi bán phá giá là hành vi cạnh tranh lành mạnh hay khônglành mạnh để có thể xây dựng chính sách chống bán phá giá phù hợp Trongtrường hợp bán phá giá để thực hiện chiến lược thị trường có tính chất cạnhtranh không lành mạnh thì cần bị ngăn chặn

(i) Bán phá giá để giải quyết khó khăn trong kinh doanh

Giải thích bán phá giá để giải quyết khó khăn trong kinh doanh đượcchia thành ba loại chính Một là bán phá giá do sản xuất dư thừa; bán phágiá để thực hiện mục tiêu cạnh tranh; và phân biệt giá để tăng lợi nhuận

- Bán phá giá do sản xuất dư thừa (sporadic/over-capacity

dumping) là trường hợp nhà sản xuất bán sản phẩm ở mức giá thấp để nhằmmục tiêu giải phóng năng lực dư thừa [24, tr 8,9] Cụ thể, một doanhnghiệp đang trong tình trạng ứ đọng hàng hóa sẽ có ba lựa chọn: một là,dành hàng hóa cho kỳ bán hàng sau; hai là, giảm giá bán chung nhằm tăngdoanh số; ba là, bán phá giá ở thị trường nước ngoài Trong trường hợp thứnhất, doanh nghiệp phải chịu đựng các chi phí lưu kho và rủi ro do thay đổithị hiếu của thị trường Trong trường hợp giảm giá chung, doanh nghiệp sẽrất khó thiết lập lại mức giá cao trong tương lai, nhất là trong trường hợpmức cầu không co dãn thì giải pháp này là không hiệu quả Do đó, bán phágiá trên thị trường nước ngoài, nếu thực hiện được, sẽ là giải pháp tối ưu

- Bán phá giá để cạnh tranh là nguyên nhân mang bản chất của kinh

tế thị trường do giá phải thay đổi theo quan hệ cung cầu Trong nhiềutrường hợp, để có thể cạnh tranh trên một thị trường, nhà xuất khẩu buộc

Trang 9

phải thực hiện giảm giá đến mức ngang bằng với các nhà cung cấp khácmới có thể duy trì được thị trường Rõ ràng, do chi phí sản xuất của mỗi nhàcung cấp là khác nhau, đặc biệt là nhà cung cấp từ các nước khác nhau, dẫnđến “giá trị thông thường” ở các thị trường nội địa khác nhau, và do đó cóthể việc giảm giá để cạnh tranh của một nhà xuất khẩu là hành vi bán phágiá Trong trường hợp phải bán giá thấp để cạnh tranh, doanh nghiệp vẫn cóthể phải duy trì vì nếu ngừng sản xuất thì có thể còn chịu thiệt hai nhiều hơn

do đã bỏ ra chi phí cố định Phân tích sau đây chứng minh trường hợp giáxuất khẩu thấp hơn chi phí trung bình nhưng doanh nghiệp duy trì thì sẽ ítthiệt hại hơn

MC: Đường chi phí biên AVC: Đường chi phí biến đổi trung bình MR: Đường thu nhập biên ATC: Đường chi phí trung bình

Trong thời kỳ ngắn hạn, công ty tối đa hoá lợi nhuận của mình bằngcách lựa chọn đầu ra q* mà tại đó chi phí biên của công ty bằng với giá cả Pcủa sản phẩm và bằng thu nhập biên MR Lợi nhuận của công ty chính làhình chữ nhật ABCD Mức sản lượng q1 thấp hơn q* hay mức sản lượng q2cao hơn q* đều dẫn tới việc hạ thấp lợi nhuận Vùng xám cho thấy mức giảmlợi nhuận tương ứng với việc lựa chọn sản lượng q1 và q2

Trang 10

Các đường MR và MC cũng cắt nhau tại E, tương ứng với mức sảnlượng q0 Tuy nhiên ở mức sản lượng q0 lợi nhuận chưa được tối đa hoá.Tăng sản lượng vượt quá q0 sẽ tăng được lợi nhuận vì chi phí biên vẫn thấphơn thu nhập biên Do đó điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của một công ty

là thu nhập biên bằng chi phí biên ở điểm mà ở đó chi phí biên đang đi lên chứ không đi xuống

Trong ngắn hạn, khi thị trường suy thoái bất cứ công ty nào dù làcạnh tranh hoàn hảo hay không hoàn hảo cũng có thể bán sản phẩm với giáthấp hơn chi phí trung bình chỉ cần mức giá này cao hơn giao điểm của chiphí biên và chi phí biến đổi trung bình Hành vi này của nhà sản xuất chính

là để bù đắp chi phí cố định Nhà sản xuất có thể hy vọng rằng sau một thờigian suy giảm tạm thời, thị trường sẽ hồi phục và công ty có thể tăng giá;hoặc chỉ đơn giản là nhà sản xuất đang cố gắng bán hàng nhằm giảm thiểuthua lỗ trước khi rút khỏi thị trường. 

Mô hình dưới đây cho ta thấy rõ hơn hiện tượng này

MC: Đường chi phí biên AVC: Đường chi phí biến đổi trung bình

Trang 11

MR: Đường thu nhập biên ATC: Đường chi phí trung bình

Trong thời gian ngắn công ty có thể chịu lỗ nếu nó vẫn tạo ra thu nhập

đủ để bù đắp chi phí biến đổi Với mức giá P thấp hơn ATC như hình vẽ,công ty vẫn tiếp tục tiến hành sản xuất mức sản lượng q* Tại mức sản lượngnày, công ty sẽ bị lỗ phần hình chữ nhật ABCD do giá bán thấp hơn chi phísản xuất trung bình Tuy nhiên công ty vẫn duy trì sản xuất vì nếu đóng cửathì nó thậm chí còn phải chịu thua thiệt lớn hơn, biểu diễn bằng hình chữnhật CBEF Sở dĩ như vậy vì số chênh lệch giữa chi phí trung bình ATC vàchi phí biên đổi trung bình là chi phí cố định trung bình Đoạn BE chính làbiểu thị chi phí cố định trung bình tại mức sản lượng q* và hình chữ nhậtCBEF biểu thị tổng chi phí cố định của sản xuất Khi hãng không sản xuấtmột đầu ra nào thì hãng vẫn phải chịu mất phần chi phí cố định đã đầu tưCBEF

Tuy xuất phát từ lý do cạnh tranh, song ADA và luật các nước

“không ủng hộ” việc bán phá giá “vì mục tiêu cạnh tranh”

- Phân biệt giá để tăng lợi nhuận

Phân biệt giá quốc tế xảy ra khi thị trường bị phân biệt giá là thịtrường của các nước khác nhau Mặc dù giá xuất khẩu thường bao gồm cảcác chi phí xuất khẩu như vận chuyển, bảo hiểm… song một công ty đượchưởng lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa do được bảo hộ bởi các ràocản thương mại tự nhiên và phi tự nhiên có thể bán sản phẩm trong nướcvới mức giá khá cao và nếu chi phí xuất khẩu hàng hóa tương đối thấp, mứcgiá xuất khẩu do công ty đặt ra có thể sẽ thấp hơn nhiều so với giá bán ở thịtrường trong nước [1, tr.5] Trong trường hợp này, bản chất của sự phân biệtgiá không phải là do công ty đặt giá thấp ở thị trường xuất khẩu mà do công

ty đã bán giá cao ở thị trường trong nước Chính sức mạnh độc quyền ở thịtrường trong nước đã làm giảm lợi ích của toàn xã hội Nguyên tắc này vẫn

Trang 12

đúng trong trường hợp công ty có sức mạnh độc quyền ở cả hai thị trường.Khi đó, công ty sẽ đặt giá thấp hơn ở thị trường có sức mạnh độc quyền yếuhơn

Nhưng cho dù có thể lập luận như vậy, thì câu hỏi được đặt ra là tạisao có thể duy trì sự phân biệt giá quốc tế nếu như chi phí xuất khẩu thấp và

do đó có thể xảy ra trường hợp hàng xuất khẩu (ở mức giá thấp) sẽ quay lạithị trường nội địa nước xuất khẩu (đang ở mức giá cao)? Như vậy, để chiếnlược phân biệt giá thành công thì khả năng hàng xuất khẩu quay lại thịtrường xuất xứ phải không xảy ra Theo tác giả Reem A.A.R thì tách biệt thịtrường4 là một nhân tố quan trọng để thực hiện phân biệt giá [22, tr 9] Cácyếu tố mang đến sự tách biệt thị trường là chi phí vẩn chuyển cao, sự khácnhau về chỉ tiêu chất lượng, độ dãn cầu và hàng rào thuế và phi thuế quan.Bên cạnh đó, cũng có thể thấy sự cạnh tranh không hoàn hảo ở thị trườngxuất xứ luôn luôn là nhân tố không thể thiếu cho phân biệt giá [19, tr 82-84] Theo lý thuyết, trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, một công

ty không thể bán được nhiều sản phẩm mà nó mong muốn tại mức giá thịtrường Doanh số bán ra của công ty phụ thuộc vào giá của sản phẩm [1,tr.17]

(ii) Bán phá giá để thực hiện chiến lược thị trường

Nếu như bán phá giá vì lý do kinh doanh đề cập đến các trường hợpbán phá giá từ những nguyên do bản chất kinh tế tự nhiên, nhà xuất khẩuhành động như để giải quyết công việc kinh doanh thông thường thì bán phágiá để thực hiện chiến lược thị trường hoàn toàn xuất phát từ ý định chủquan của nhà xuất khẩu Để thực hiện chiến lược có chủ đích của mình, nhàxuất khẩu có thể thực hiện bán phá giá để giành thị phần hoặc chiến lượcbán phá giá để độc chiếm thị trường (loại bỏ đối thủ cạnh tranh)

4 Market segregation

Trang 13

- Bán phá giá nhằm giành thị phần

Một số công ty xuất khẩu hàng với mức giá thấp nhằm mục tiêuchiếm được thị phần cao hơn trên thị trường nhập khẩu Trong một sốtrường hợp, công ty có thể thực hiện sản xuất ở mức công suất cao và bánphá giá sản phẩm dư thừa ở nước ngoài Đây chính là sự khác biệt với chiếnlược bán phá giá nhằm độc chiếm thị trường vì đây là phương pháp thôngthường để tăng thị phần [24, tr 27-28] Bên cạnh yếu tố giá còn có rất nhiềuyếu tố chi phối doanh thu của một công ty như hoạt động marketing, thiết

kế sản phẩm, bao gói, bán hàng v.v Khi bán hàng ở mức giá thấp, công tytin tưởng rằng thị phần tăng lên ở hiện tại sẽ làm giảm chi phí sản xuất hoặctăng giá trong tương lai và do đó, chi phí bỏ ra ngày hôm nay để tiến hànhhoạt động marketing sẽ được hoàn lại bằng lợi nhuận trong tương lai [1,tr.17]

Trên thực tế, đây là hành vi thường gặp của nhiều công ty bởi vì sảnphẩm nhập khẩu mới không dễ gì được chấp nhận ngay mà phải được côngnhận dần thông qua quá trình dùng thử Do đó, nhà xuất khẩu phải hạ giánhằm khuyến khích khách hàng dùng thử với tin tưởng rằng sau đó họ cóthể tăng giá lên khi người tiêu dùng đã chấp nhận sản phẩm Sau một thờigian trải hàng hóa đã được người tiêu dùng chấp nhận, công ty có thể tănggiá5

Trong trường hợp khi thị trường nội địa nước xuất khẩu đã bão hòahoặc công ty đã có vị thế thống lĩnh trên thị trường đối với một sản phẩmnhất định, công ty có thể sử dụng vị trí thuận lợi của mình để hỗ trợ xuấtkhẩu Hỗ trợ xuất khẩu (trên cơ sở bù giá cho sản phẩm xuất khẩu) có thểxảy ra giữa những sản phẩm khác nhau6 cũng như giữa các thị trường khácnhau [22, tr 11]

5 Đối với hàng hóa cần sự trải nghiệm để tạo thói quen cho người tiêu dùng (“experience goods”).

6 Doanh thu từ sản phẩm này bù đắp cho doanh thu từ sản phẩm khác.

Trang 14

Như vậy trong các trường hợp trên, khi thị trường nội địa nước xuấtkhẩu bị cách ly khỏi yếu tố cạnh tranh, ngành hàng xuất khẩu đó sẽ không

bị bán phá giá lại7 bởi các công ty nước ngoài và cũng không xảy ra trườnghợp tái xuất khẩu sản phẩm xuất khẩu được bán phá giá ở thị trường nướcngoài

- Bán phá giá nhằm độc chiếm thị trường

Bán phá giá nhằm độc chiếm thị trường (Predatory dumping) là kháiniệm chỉ chiến lược phân biệt giá nhằm loại đối thủ cạnh tranh ra khỏi thịtrường [20, tr 253-256] Để thực hiện chiến lược này, công ty phải thựchiện trong một thời gian đủ dài để các đối thủ khác không “chịu nổi” sứccạnh tranh và phải đi khỏi thị trường Sau khi đạt được điều này, công ty sẽtăng giá lên cao nhằm thu lợi nhuận độc quyền Có thể thấy rằng, trongtrường hợp này công ty đã hy sinh lợi nhuận ngắn hạn để tối đa hóa lợinhuận dài hạn

Hành vi độc quyền của công ty rõ ràng sẽ gây thiệt hại lớn cho nướcnhập khẩu Do đó, các nước nhập khẩu thường tỏ ra khá kiên quyết trongviệc đối phó với hành vi bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trường này

Tuy nhiên, thực hiện chiến lược này gặp nhiều khó khăn Thứ nhất,ngoài việc đẩy các công ty cạnh tranh khác ra khỏi thị trường, công ty cònphải tìm cách ngăn cản sự quay trở lại của các đối thủ cạnh tranh khi giá bịđẩy lên cao Thứ hai, trên phạm vi quốc tế, hiếm khi xảy ra hiện tượng mộtcông ty có thể độc quyền trên toàn bộ thị trường Việc kiểm soát giá trên thịtrường sẽ do một số công ty lớn nắm giữ Do đó, ngay cả khi nhà xuất khẩuthành công trong việc loại bỏ tất cả các công ty nội địa thì họ vẫn phải dànxếp với các công ty quốc tế khác để thống nhất về việc định giá Thứ ba,nước nhập khẩu có thể triệt tiêu sức mạnh độc quyền của công ty bằng cách

7 Counter-dumping

Trang 15

đánh thuế đối với lợi nhuận độc quyền8 sau khi công ty đã tăng giá chứkhông cần phải đánh thuế chống bán phá giá ngay trong giai đoạn đầu Nếukhông làm như vậy, nước nhập khẩu sẽ phải chịu mất đi một lượng hàngnhập khẩu rẻ chỉ vì sợ bị thôn tính thị trường

Do đó, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phá giá nhằm độc chiếm thịtrường rất khó có thể xảy ra Trong các nghiên cứu khảo nghiệm về cáccuộc điều tra chống bán phá giá ở Châu Âu (giai đoạn 1987 – 1997) và Mỹ(giai đoạn 1980 – 1989) thì cơ sở kết luận có bán phá giá độc chiếm thịtrường chỉ chiếm 2% trong số 461 vụ điều tra của Châu Âu và 10% số vụđiều tra của Hoa Kỳ [22, tr 11,12] Trong một nghiên cứu của Tổ chức Hợptác kinh tế và Phát triển (OECD) khảo sát 1031 cuộc điều tra chống bán phágiá từ năm 1988 đến 1991 thì chỉ có 63 trường hợp liên quan đến bán phágiá nhằm độc chiếm thị trường [21, tr 17]

1.2 Chính sách chống bán phá giá

1.2.1 Chính sách chống bán phá giá

Chính sách là một phạm trù rộng có nhiểu cấp độ khác nhau chỉ thái

độ của nhà nước hay chính phủ một nước trong một lĩnh vực, vấn đề nhấtđịnh Trong lĩnh vực kinh tế, cấp độ rộng nhất là chính sách kinh tế vĩ mô,trong đó có các chính sách ở cấp độ hẹp hơn như chính sách tài chính, chínhsách thương mại, chính sách cạnh tranh, v.v Chính sách thương mại(commercial policy), xét trong bối cảnh kinh tế thế giới, được định nghĩa làchính sách của chính phủ ảnh hưởng đến ngoại thương [17 trg 65] Từ điểnKinh tế học của Đại học Oxford cũng định nghĩa chính sách thương mại baogồm việc sử dụng (the use) thuế quan, trợ cấp, hạn ngạch, thỏa thuận hạnchế số lượng và các hàng rào phi thuế quan khác, hạn chế về quyền thànhlập hiện diện thương mại của thương nhân nước ngoài và quy định về

8 Việt Nam chưa có quy định về sắc thuế này.

Trang 16

thương mại quốc tế về dịch vụ Trong những vấn đề của chính sách thươngmại là những chính sách trong những phân ngành cụ thể hơn, chẳng hạnchính sách thuế quan, chính sách trợ cấp, chính sách phòng vệ thương mại,v.v Theo quy định của WTO, phòng vệ thương mại (trade remedies) baogồm: tự vệ (safeguard); chống trợ cấp (countervailing); và chống bán phágiá (anti-dumping) Các chính phủ sử dụng các biện pháp phòng vệ thươngmại khác nhau và do đó hình thành những chính sách khác nhau (chính sáchphòng vệ thương mại) Do các nước sử dụng khác nhau các biện phápphòng vệ thương mại, bao gồm chống bán phá giá, xuất phát từ quan điểmkinh tế chính trị khác nhau, nên hình thành nên những chính sách chống bánphá giá khác nhau Các nước theo đuổi chính sách bảo hộ (protectionism) sẽ

đề cao việc áp dụng các chính sách phòng vệ thương mại Do đó, chính sáchchống bán phá giá thực sự tồn tại Trên cơ sở đó, chính sách chống bán phágiá (anti-dumping policy) được định nghĩa là một chính sách phòng vệthương mại của chính phủ sử dụng biện pháp chống bán phá giá áp dụng đốivới hàng hóa nhập khẩu

Chính sách cạnh tranh các nước thường ngăn chặn hành vi định giáchiếm đoạt của các doanh nghiệp trong nước để bảo vệ cạnh tranh và bảo vệngười tiêu dùng [12] Việc thực hiện chính sách thương mại tự do hóa cũngluôn nhằm những mục tiêu này Trong điều kiện đó, chính sách chống bánphá giá được xem là một công cụ chính sách thương mại (trade policyinstrument) để ngăn chặn hành vi phi cạnh tranh (hay cạnh tranh không lànhmạnh) thông qua việc định giá chiếm đoạt Trong thương mại quốc tế, bánphá giá là chiến lược mà nhà xuất khẩu thực hiện để loại bỏ đối thủ cạnhtranh trên thị trường nước xuất khẩu nhằm đạt được vị trí thống lĩnh hay độcquyền Trong ngắn hạn, việc định giá thấp của nhà xuất khẩu sẽ có lợi chongười tiêu dùng song lại có thể gây thiệt hại cho nhà sản xuất trong nướcnhập khẩu Tuy nhiên về dài hạn, khi đã đạt được vị trí thống lĩnh nhà xuấtkhẩu sẽ áp đặt giá bán độc quyền và do đó sẽ bất lợi cho người tiêu dùng

Trang 17

Chính vì lý do này, chính sách chống độc quyền (antitrust policy) và chínhsách chống bán phá giá được xây dựng nhằm mục đích hạn chế thiệt hại nóichung trên cơ sở cho rằng việc lạm dụng vị trí độc quyền hay việc định giáthấp để đạt vị trí độc quyền sẽ có tác hại cho việc vận hành nền kinh tế thịtrường.

Vấn đề chống bán phá giá tuy đã được Hiệp hội các quốc gia (League

of Nations) nghiên cứu từ đầu những năm 1920, nhưng chỉ đến năm 1947, với sự thành lập của tổ chức GATT (General Agreement of Tariffs and Trade – Hiệp định chung về thuế quan và thương mại), chống bán phá giá

mới được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế Khi vòng đàm phán KennedyRound kết thúc vào năm 1967 thì những qui tắc về chống bán phá giá trongĐiều VI của GATT được triển khai thành một hiệp định riêng: Hiệp định vềviệc thực hiện Điều VI (Agreement on the Implementation of Article VI,thường gọi tắt là “Anti-dumping Code” – Bộ luật chống bán phá giá)

Hiệp định này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung trong các vòng đàmphán Tokyo Round và Uruguay Round Sau vòng đàm phán Uruguay, cácnước đã thỏa thuận Hiệp định chống bán phá giá có hiệu lực đến ngày naytrong khuôn khổ WTO, Hiệp định về việc thực hiện Điều VI của GATT

1994 (gọi tắt là Hiệp định chống bán phá giá – Hiệp định AD)

Trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới WTO, ba hiệpđịnh: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được coi là ba cột trụ của hệ

thống các biện pháp phòng vệ thương mại (trade remedies/defences), được

áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hoá nướckhác Khi sử dụng chính sách chống bán phá giá, kết luận có thể đi đến cáctrường hợp (i) không áp dụng (nghĩa là không đủ điều kiện áp dụng) hoặc(ii) áp dụng biện pháp chống bán phá giá (anti-dumping measures) bao gồmcác biện pháp tạm thời, biện pháp cam kết giá, biện pháp thỏa thuận đình chỉhay biện pháp thuế chống bán phá giá

Trang 18

Trong những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của WTO, chính sách, phápluật quốc gia một nước thành viên phải phù hợp với các hiệp ước và quiđịnh của WTO Tuy vậy, do Hiệp định này cũng chỉ là các quy định chung,mang tính hướng dẫn và nguyên tắc nên các nước muốn sử dụng chính sáchchống bán phá giá phải đưa ra các quy định cụ thể trong luật quốc gia

1.2.2 Vai trò của chính sách chống bán phá giá

Chống bán phá giá là một trong những chính sách phòng vệ thươngmại quan trọng để thực hiện hạn chế nhập khẩu

Về khía cạnh kinh tế chính trị, cũng tồn hại hai luồng quan điểm vềviệc sử dụng chính sách chống bán phá giá Quan điểm ủng hộ cho rằngphân biệt giá xảy ra trong một khoảng thời gian sẽ không có ý nghĩa về mặtkinh tế nếu như không có sự trợ cấp của chính phủ, không có một thị trườngđóng ở nước xuất xứ hay sự ủng hộ của các công ty lớn ở nước xuất khẩu

Vì vậy, pháp luật chống bán phá giá là cần thiết để sắp đặt sân chơi giữa thịtrường xuất khẩu và thị trường nhập khẩu [19, tr 93-95] Tác giả ReemA.A.R chỉ ra trường hợp giữa công ty Eastman Kodak và Fuji Film làm ví

dụ cho lập luận trên [22 tr 13] Công ty Eastman Kodak có trụ sở tại Mỹ lànhà sản xuất film có vị trí thống lĩnh trên thị trường thế giới, ngoại trừ thịtrường Nhật Bản, ở thị trường này Fuji Film là công ty chiếm vị trí thốnglĩnh Trong nỗ lực nhằm tăng thị phần trên thị trường toàn cầu, Fuji Film bắtđầu thực hiện bán phá giá trên thị trường Mỹ Chiến lược của Fuji buộcKodak phải giảm giá để bảo vệ thị phần trên thị trường nội địa cũng nhưtoàn cầu Kodak không thể đáp trả bằng việc bán phá giá lại vì gặp phảihàng rào phi thuế tại thị trường film Nhật Bản Do đó, Kodak khởi kiệnchống bán phá giá đối với Fuji Vụ kiện được giải quyết đạt được kết quả làmột thỏa thuận đình chỉ bán phá giá vào năm 1994 cho phép Kodak bảo vệthị phần và lợi nhuận của mình ở Mỹ và trên toàn cầu Vụ việc này được

Trang 19

nhìn nhận là một ví dụ biện minh cho việc luật chống bán phá giá được sửdụng để bảo vệ các công ty trong nước

Tuy nhiên, quan điểm phản đối sử dụng chính sách chống bán phá giáxuất phát từ các nhà kinh tế học ủng hộ tự do hóa thương mại cho rằng, bánphá giá là có lợi cho nước nhập khẩu vì người tiêu dùng và ngành sản xuất

sử dụng hàng hóa đó được mua sản phẩm với giá rẻ Vì vậy, mặc dù ngànhsản xuất sản phẩm cạnh tranh với sản phẩm được bán phá giá nhưng nềnkinh tế nói chung vẫn hưởng lợi từ việc bán phá giá đó Một nghiên cứutổng kết của Ủy ban Thương mại quốc tế Mỹ (USITC) về “ảnh hưởng đếnnền kinh tế của việc dỡ bỏ các lệnh áp dụng thuế chống bán phá giá và thuếđối kháng vào năm 1991” đã chỉ ra rằng việc dỡ bỏ các loại thuế này đãmang lại lợi ích cho nền kinh tế Mỹ khoảng 1,9 tỉ USD và nếu như dỡ bỏhết các lệnh tương tự thì nền kinh tế sẽ đạt lợi ích cao hơn nhiều [25] Bêncạnh đó, quan điểm phản đối sử dụng công cụ chống bán phá giá còn chorằng luật chống bán phá giá không tính đến yếu tố cấu trúc của chi phí nênkhông thể có kết quả chính xác Cụ thể, khi doanh thu biên9 thu được từxuất khẩu vượt quá chi phí biên10 thì nhà xuất khẩu đang hành động hợp lý

về mặt kinh tế và không thể bị áp dụng chế tài [14, tr 14]

Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loạichi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ cómột phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi.Chính chi phí biên là yếu tố quyết định trong việc định giá của một công tytrong ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập thị trường.Điều này giải thích tại sao một công ty vẫn chấp nhận bán hàng với mức giáthấp (kể cả thấp hơn chi phí trung bình11) dù biết rằng đang bị lỗ vì nếu

9 Là doanh thu thu được từ đơn vị sản phẩm sản xuất thêm.

10 Là chi phí tăng thêm khi sản xuất một đơn vị đầu ra.

11 Là chi phí bình quân tính trên một đơn vị sản phẩm.

Trang 20

công ty không tiếp tục sản xuất thì công ty có thể sẽ bị lỗ nhiều hơn do vẫnphải chịu chi phí cố định [1, tr 14]. 

Tuy vậy, trên thực tế, các nhà hoạch định chính sách các nước vẫncho rằng chống bán phá giá là một trong những công cụ quan trọng để hạnchế hay, nói cách khác là, kiểm soát nhập khẩu Do đó, các cuộc điều trachống bán phá giá không đi tìm câu trả lời là hành vi thương mại “côngbằng” hay “không công bằng” mà tập trung vào những tổn thất thị trường12(thực chất là ảnh hưởng đến thị phần) do việc bán phá giá mang lại Lịch sửhình thành các quy định pháp luật về chống bán phá giá thể hiện rõ ý chí đócủa các nhà làm luật và trên thực tế, nội dung quy định về điều tra chốngbán phá giá của AD và luật tất cả các nước đều thể hiện rõ điều này Dự luậtquốc tế về thủ tục và thực thi chống bán phá giá13 do Anh Quốc dự thảothay mặt nhóm chính sách chống bán phá giá của Vòng đàm phán Kennedy

viết: bán phá giá tự nó không vi phạm, nhưng nó gây tổn hại cho ngành sản

xuất trong nước và do đó cần phải bị loại bỏ [22, tr 17]

Nếu như với lập luận như vậy thì các nước đang phát triển cần sửdụng biện pháp này hơn các nước phát triển vì họ cần bảo hộ ngành sảnxuất non trẻ Trên thực tế, các nước phát triển lại áp dụng biện pháp nàynhiều hơn Sở dĩ như vậy là vì hàng hóa sản xuất từ các nước đang pháttriển thường có chi phí thấp và do đó giá bán thấp ở nước phát triển Bêncạnh đó, việc có sử dụng được công cụ chống bán phá giá hay không cònphụ thuộc vào năng lực điều tra của nước nhập khẩu và điều này là một cảntrở không nhỏ với các nước đang phát triển Tuy nhiên, có thể thấy rõ, số vụkiện chống bán phá giá do các nước đang phát triển tiến hành ngày càngnhiều là một minh chứng cho quan điểm chính sách ngoại thương có sửdụng công cụ chống bán phá giá để bảo vệ ngành sản xuất non trẻ

12 Market disruption

13 International Code on Antidumping Procedure and Practice

Trang 21

Mặc dù vậy, mục tiêu bảo vệ ngành sản xuất non trẻ cũng chỉ là mộtyếu tố, bên cạnh đó còn là vấn đề hiệu quả của chính sách Sự thật là nếunhư một ngành công nghiệp được bảo hộ bằng hàng rào thuế quan nhưngngành đó hoạt động không hiệu quả và không phát triển thì chính sách đókhông mang lại lợi ích cho nền kinh tế mà còn làm thiệt hại cho người tiêudùng vì phải gánh chịu mức giá cao Do vậy, vấn đề suy cho cùng là phảitrả lời được câu hỏi nếu áp dụng (hoặc không áp dụng) chính sách chốngbán phá giá thì ai là người hưởng lợi, ai là người chịu thiệt và toàn bộ nềnkinh tế hưởng lợi hay bị thiệt hại như thế nào Nhiều nghiên cứu phân tíchhơn thiệt14 cũng đã được tiến hành trong đó lợi ích của tất cả các bên củanền kinh tế phải được tính đến, bao gồm cả lợi ích công cộng (lợi ích ngườitiêu dùng) Luật chống bán phá giá của EU và Canada cũng đưa ra các quyđịnh về lợi ích công cộng, tuy nhiên các quy định này không có nhiều ảnhhưởng trên thực tế vì việc tính toán lợi ích của người tiêu dùng là rất phứctạp và tốn kém Do đó, một số giải pháp được đề xuất Một là, cần phải bổsung tiêu chí hiệu quả của ngành sản xuất trong nước vào luật chống bánphá giá, theo đó ngành sản xuất trong nước phải chứng minh được hiệu quảnếu như được bảo hộ bằng thuế chống bán phá giá Rõ ràng khi áp dụngthuế quan thì người tiêu dùng phải gánh chịu chi phí tính vào giá do việcđánh thuế Do đó, nếu như ngành sản xuất được bảo hộ hoạt động khônghiệu quả và không thể “bù đắp” cho người tiêu dùng bằng việc đa dạng sựlựa chọn, giá cả thấp và việc làm thì chi phí xuất phát từ việc đánh thuế sẽlớn hơn lợi ích có thể mang lại Do việc tính toán lợi ích xã hội là khôngthực tế nên các nhà hoạch định chính sách thường chỉ nghĩ đến việc ngànhsản xuất bị thiệt hại và cần phải bảo vệ Nên yếu tố hiệu quả không phải làtất cả Do đó, giải pháp thứ hai được các nghiên cứu đề cập, đó là tiến hànhmột thử nghiệm “thiệt hại của sự cạnh tranh”15 Thử nghiệm này không chỉkhảo sát thiệt hại của ngành sản xuất trong nước mà còn khảo sát thiệt hại

14 Cost benefit analysis

15 Injury to competition

Trang 22

của những ngành sử dụng sản phẩm đó và của người tiêu dùng Trên cơ sở

đó quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá sẽ được xem xét là có lợi haykhông

1.2.3 Biện pháp chống bán phá giá

Chính sách chống bán phá giá sẽ quyết định các biện pháp được sửdụng để ngăn chặn hành vi chống bán phá giá và điều kiện, trường hợp sửdụng biện pháp cụ thể Có bốn loại biện pháp chống bán phá giá, bao gồm:biện pháp tạm thời, cam kết giá, thỏa thuận đình chỉ và biện pháp cuối cùng(thuế chống bán phá giá) Việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá bịgiới hạn bởi “độ lớn” của hàng nhập khẩu bị xác định là bán phá giá, cónghĩa là nước nhập khẩu không thể áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩuhàng loạt xuất phát từ một vụ việc và hơn nữa, thời gian áp dụng cũng bịgiới hạn

1.2.3.1 Biện pháp tạm thời

Biện pháp tạm thời có thể được áp dụng dưới các hình thức thuế hoặcđặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến;hoặc cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuếnhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến sẽ áp dụng

Trên thực tế, biện pháp tạm thời hay được áp dụng nhất là đặt cọc.Các điều kiện áp dụng biện pháp tạm thời bao gồm:

 i) Cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo đúng thủ tục, gửi thôngbáo và tạo điều kiện cho các bên quan tâm cung cấp thông tin và trình bày ýkiến;

ii) Có kết luận sơ bộ về việc xảy ra bán phá giá và dẫn đến thiệt hạicho ngành sản xuất trong nước; và

Trang 23

iii) Cơ quan điều tra kết luận rằng biện pháp tạm thời là cần thiết đểngăn chặn thiệt hại trong quá trình điều tra.

Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sớm nhất là 60 ngày sau khi bắtđầu điều tra và sẽ được duy trì càng ngắn càng tốt, không được quá 4 thánghoặc trong trường hợp cần thiết thì cũng không được quá 6 tháng Trườnghợp cơ quan điều tra xác định được rằng khoản thuế thấp hơn biên độ phágiá đã đủ để khắc phục thiệt hại thì thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời cóthể là 6 tháng hoặc 9 tháng

1.2.3.2 Cam kết giá

Theo quy định của Hiệp định AD, trong quá trình xử lý, xem xét vàđiều tra vụ việc chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền và các nhà sảnxuất/xuất khẩu nước ngoài của sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá

có thể thoả thuận với nhau về cam kết về giá (price undertaking) Cam kếtgiá chỉ có thể đưa ra khi cơ quan có thẩm quyền đã đưa ra kết luận sơ bộkhẳng định có việc bán phá giá, biên độ phá giá được xác định cụ thể vàviệc bán phá giá này là nguyên nhân gây thiệt hại Khi có kết luận sơ bộnày, cơ quan điều tra có thể đề xuất, gợi ý cho các bên liên quan đến vụ kiệnđưa ra cam kết giá, nhưng nhà xuất khẩu không bắt buộc phải cam kết

Cam kết giá là việc nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài cam kết sửa đổi mức giá bán (tăng giá lên) hoặc cam kết ngừng xuất khẩu phá giá hàng hoá Cam kết là một thoả thuận tự nguyện giữa các nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài và ngành công nghiệp nước nhập khẩu Thông thường, cơ quan

có thẩm quyền của nước nhập khẩu sẽ chấp thuận cam kết giá do các nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài đưa ra nếu thấy rằng cam kết đó đủ để loại bỏcác thiệt hại do việc bán phá giá gây ra

Trang 24

Khi một cam kết giá được chấp thuận, quá trình điều tra sẽ chấm dứttrừ khi các nhà xuất khẩu có yêu cầu tiếp tục điều tra hoặc nếu cơ quan cóthẩm quyền quyết định như vậy Nếu việc điều tra vẫn được tiếp tục và kếtluận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền là không có việc bán phá giáhoặc không có thiệt hại đáng kể thì cam kết giá tự động chấm dứt hiệu lực.Trường hợp ngược lại, việc thực hiện cam kết giá được thực hiện bìnhthường Nếu nhà xuất khẩu không thực hiện đúng cam kết, nước nhập khẩu

có quyền áp dụng các hành động cần thiết

Mức giá tăng không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơnbiên độ phá giá nếu như đã đủ để khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuấttrong nước

Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà xuất khẩu cam kếtgiá nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn như khi số lượng nhàxuất khẩu thực tế quá lớn Trong trường hợp này, cơ quan điều tra sẽ giảithích rõ lý do không chấp nhận cam kết giá với các nhà xuất khẩu

Nếu cơ quan điều tra chấp nhận việc cam kết giá thì cuộc điều tra phágiá và thiệt hại vẫn có thể được hoàn tất nếu nhà xuất khẩu muốn như vậy

và cơ quan điều tra đồng ý Trong trường hợp này, nếu điều tra đi đến kếtluận là không có phá giá hoặc không gây thiệt hại thì việc cam kết giá sẽđương nhiên chấm dứt, trừ khi kết luận trên được rút ra trong bối cảnh đãcam kết giá rồi Trường hợp này, cam kết giá sẽ được duy trì trong thời hạnhợp lý

Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhàxuất khẩu nào đã chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về việcthực hiện cam kết giá Trường hợp nhà xuất khẩu vi phạm cam kết giá, cơquan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở các thôngtin mà họ có (best information)

Trang 25

1.2.3.3 Thỏa thuận đình chỉ

Thoả thuận đình chỉ (Suspension Agreement - SA) là một thoả thuận

do Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) đàm phán hoặc với chính phủ nước ngoài trong trường hợp của nước có nền kinh tế bị coi là nền kinh tế phi thị trường (NME); hoặc là với các nhà sản xuất nước ngoài trong trường hợp nước có nền kinh tế thị trường (ME) Nếu thoả thuận đình chỉ được ký kết, cuộc điều tra chống bán phá giá sẽ bị đình chỉ để đổi lấy những cam kết nhấtđịnh của nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài liên quan đến giá của hàng hoá xuất khẩu tới Hoa Kỳ và/hoặc số lượng của hàng hoá xuất khẩu tới Hoa

Kỳ.16 Lệnh áp thuế chống bán phá giá không được ban hành trong thời gian thỏa thuận đình chỉ vẫn còn có hiệu lực Nói cách khác, thỏa thuận đình chỉ ngăn chặn việc áp thuế chống bán phá giá trong thời gian của thỏa thuận và DOC sẽ giữ quyền giám sát và theo dõi việc tuân thủ thỏa thuận đó Các thỏa thuận đình chỉ được đàm phán riêng cho từng vụ kiện cụ thể và cơ chế thực hiện thỏa thuận được quy định riêng đối với mỗi loại thỏa thuận

Trên quan điểm pháp lý thuần túy, đàm phán về một thỏa thuận đình chỉ sẽ không ràng buộc chính phủ các nước NME hoặc nhà sản xuất tại ME dưới bất cứ hình thức nào phải chấp nhận các điều khoản của thỏa thuận đình chỉnh cho đến khi thoả thuận đình chỉ được ký kết Một bên vẫn có thể yêu cầu DOC hoặc ITC tiếp tục điều tra vụ việc chống bán phá giá Thậm chí, ngay khi đã thỏa thuận đình chỉ, DOC và ITC vẫn có thể điều tra và đưa

ra kết luận cuối cùng

Nếu các quyết định cuối cùng của ITC và DOC là khẳng định - có bánphá giá và có thiệt hại - thì thỏa thuận đình chỉ vẫn có hiệu lực áp dụng Tuynhiên, nếu các quyết định cuối cùng của ITC và DOC là phủ định - không

16 Các thoả thuận đình chỉ là tương đối hiếm so với các quyết định chống bán phá giá của DOC Tính đến ngày 31/12/2003 chỉ có 12 thoả thuận đình chỉ có hiệu lực Hầu hết các thoả thuận đình chỉ là với các nước XHCN cũ (Liên bang Nga, Trung Quốc, Ucraina), hoặc các nước đang phát triển (Braxin và Mehico) Có tới 7 thoả thuận chỉ riêng với Liên bang Nga.

Trang 26

bán phá giá và không có đe dọa hoặc không gây thiệt hại - thỏa thuận đình chỉ sẽ không có hiệu lực áp dụng.

Theo quy định của DOC, một đề nghị về thỏa thuận đình chỉ phải được chính phủ NME (trong đó có Việt Nam) gửi cho DOC không muộn hơn 15 ngày sau khi có quyết định sơ bộ Nếu DOC chấp thuận thỏa thuận, DOC phải thông báo, tham vấn và chấp nhận các lý lẽ và thông tin thực tế từcác bên khác có lợi ích liên quan (kể các nguyên đơn và tổ chức đại diện người tiêu dùng) không muộn hơn 50 ngày sau khi có Quyết định sơ bộ

Các loại thỏa thuận đình chỉ bao gồm: thỏa thuận hạn chế số lượng nhập khẩu và thỏa thuận để loại trừ hoàn toàn việc bán hàng dưới giá trị hợp

lý và thoả thuận loại trừ các ảnh hưởng gây thiệt hại

(i) Thỏa thuận hạn chế số lượng nhập khẩu 17

Đối với các vụ điều tra chống bán phá giá liên quan đến các nước NME, các bên có thể đồng ý với một SA nhằm hạn chế khối lượng hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ (ví dụ một hạn ngạch nhập khẩu) Sự lựa chọn này chỉ có thể sử dụng trong các cuộc điều tra liên quan đến các nước NME Trong các vụ như vậy, (1) thỏa thuận phải vì lợi ích công cộng; (2) việc kiểm tra giám sát thỏa thuận phải là khả thi; và (3) thỏa thuận sẽ ngăn cản việc sản phẩm trong nước bị chèn ép hoặc phải bán dưới giá do việc nhập khẩu hàng hoá là đối tượng điều tra Lưu ý rằng do điều kiện thứ 3 này - để

“ngăn cản việc bị chèn ép hoặc bán dưới giá” của hàng hoá sản xuất trong

nước - các thỏa thuận như vậy thường bao gồm cả điều khoản về giá tối thiểu (giá sàn)

Theo luật chống bán phá giá, DOC có quyền linh hoạt rất lớn trong việc làm thế nào để xây dựng các SA như vậy, bao gồm việc xác định khối lượng nhập khẩu lớn nhất ứng với mức giá sàn của hàng hoá nhập khẩu Các

17 19 U.S.C.Đ1673 c(1)

Trang 27

yêu cầu thu thập thông tin sẽ ít gây phiền toái nhất cho DOC, vì họ sẽ chỉ phải thu thập thông tin về số lượng và giá nhập khẩu, mặc dù họ sẽ vẫn phải chỉ đạo các cuộc thẩm tra tại chỗ ở Việt Nam.

(ii) Thỏa thuận để loại trừ hoàn toàn việc bán hàng dưới giá trị hợp lý (hoặc để đình chỉ hẳn việc xuất khẩu hàng hoá là đối tượng điều tra) 18

Các thỏa thuận loại trừ hoàn toàn việc bán hàng dưới giá trị hợp lý

(fair value) là loại thông thường nhất trong các SA chống bán phá giá trong

các cuộc điều tra đối với các nước ME, và thường liên quan đến việc các nhà xuất khẩu đồng ý xem xét lại các mức giá của họ kể từ ngày SA có hiệu lực để loại trừ bất cứ khối lượng hàng hoá nào khiến cho giá trị thông

thường của hàng hoá là đối tượng điều tra vượt quá giá của hàng hoá đó ở Hoa Kỳ Nói cách khác, các nhà xuất khẩu sẽ phải thừa nhận rằng họ đã bán phá giá và do vậy phải tăng mức giá xuất khẩu của họ để ngừng việc phá giá DOC có thể cũng đình chỉ cuộc điều tra chống bán phá giá bằng việc đạtđược một SA với các nhà xuất khẩu hàng hoá là đối tượng điều tra đồng ý ngừng việc xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong vòng 180 ngày sau khi công bố thông báo đình chỉ (đương nhiên các nhà xuất khẩu sau đó sẽ không còn được quyền bán hàng hoá đó sang Hoa Kỳ nữa)

DOC do vậy sẽ có ít quyền linh hoạt hơn so với SA với các nước NME đã trình bày ở trên bởi vì trong một thỏa thuận kiểu này họ sẽ không thể kiểm soát số lượng nhập khẩu Các yêu cầu thu thập số liệu cho một thỏathuận như vậy cũng sẽ rộng hơn so với thỏa thuận NME, vì các chi phí và giá sẽ được báo cáo và phân tích bởi DOC

18 19 U.S.C Đ1673 c(b)

Trang 28

(iii) Thoả thuận loại trừ các ảnh hưởng gây thiệt hại

Kiểu SA này loại bỏ những ảnh hưởng gây thiệt hại của hàng xuất khẩu đang được điều tra, song không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn việc bán phá giá Nói cách khác, các nhà xuất khẩu có thể phải tăng giá tới mức độ đủcần thiết để hàng hoá của họ không gây thiệt hại nữa (chẳng hạn tăng giá lênbằng mức giá của ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ, song các nhà xuất khẩu vẫn có thể bán phá giá) Nói cách khác, các nhà xuất khẩu có thể phải thừa nhận rằng họ đã và đang tiến hành bán phá giá hàng hoá của họ và gây thiệt hại vật chất DOC chỉ có thể tiến hành các SA kiểu này khi tồn tại “những tình huống đặc biệt” “Những tình huống đặc biệt ” này xuất hiện khi: (1) việc dừng điều tra có lợi cho ngành sản xuất nội địa Hoa Kỳ hơn là việc tiếp tục điều tra, (2) việc điều tra quá phức tạp

Bên cạnh điều kiện phải có những “tình huống đặc biệt” nêu trên, trước khi tiến hành SA kiểu này, DOC còn phải chứng minh rằng SA loại này sẽ ngăn cản hàng nhập khẩu ép giá hoặc làm giảm giá các sản phẩm nội địa tương tự, và biên độ bán phá giá của mỗi lô hàng nhập khẩu từ một nhà xuất khẩu nào đó sẽ không vượt quá 15% biên độ bán phá giá bình quân được DOC xác định cho nhà xuất khẩu đó

Trong SA loại này, DOC sẽ chỉ có thể định giá xuất khẩu chứ không thể quản lý được lượng hàng hoá nhập khẩu Yêu cầu thu thập thông tin cho thoả thuận kiểu này cũng bao quát hơn so với thoả thuận về nền kinh tế phi thị trường bởi chi phí và giá sẽ được DOC báo cáo và phân tích

1.2.3.4 Biện pháp cuối cùng (thuế chống bán phá giá)

Trong các biện pháp chống bán phá giá được áp dụng, thuế chốngbán phá giá là biện pháp chủ yếu được áp dụng Thuế chống bán phá giáđược định nghĩa là khoản thuế ngoài thuế quan thông thường, được dùng để

Trang 29

chống lại những hành định giá bán (được cho là) “không công bằng” củacác công ty tư nhân, gây ra hoặc đe dọa gây ra “thiệt hại vật chất” chongành sản xuất sản phẩm cạnh tranh ở một nước nhập khẩu.

Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánhthuế tương đương hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra củanước nhập khẩu quyết định

Đối với một sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác địnhbiên độ phá giá riêng cho từng nhà xuất khẩu/sản xuất Thuế chống bán phágiá sẽ được áp dụng cho từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xửgiữa hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại, trừtrường hợp đã cam kết giá

Trị giá thuế chống bán phá giá áp dụng sẽ không được vượt quá biên

độ phá giá

Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:

Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Hoa kỳ): việc tính mức thuế được

căn cứ vào số liệu của thời điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm) Saukhi điều tra, cơ quan chức năng bắt đầu áp dụng một mức thuế chống bánphá giá Sau khi áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu cầuđánh giá lại mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽtiến hành xác định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng 12 tháng, chậm nhất

là 18 tháng ngay sau khi nhận được yêu cầu Sau đó mức thuế mới sẽ được

áp dụng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày sau khi xácđịnh lại mức thuế cuối cùng phải nộp

Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU): cơ quan điều tra lấy số liệu

của thời điểm trước khi điều tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ

này cho cả quá trình áp dụng thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng được

Trang 30

một thời gian, nếu nhà nhập khẩu đề nghị hoàn thuế với phần trị giá cao hơnbiên độ phá giá (do giá xuất khẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hànhxem xét việc hoàn thuế trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 tháng ngaysau khi nhận được đề nghị hoàn thuế kèm theo đầy đủ bằng chứng Việchoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từ khi ra quyết địnhhoàn thuế.

Thu thuế với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều tra

Trường hợp số nhà xuất khẩu/sản xuất sản phẩm bán phá giá quá lớn,

không tính riêng biên độ phá giá được thì cơ quan chức năng sẽ giới hạn

việc điều tra ở một số nhà xuất khẩu/sản xuất nhất định trên cơ sở trao

đổi với các nhà xuất khẩu/sản xuất liên quan

Mức thuế đối với hàng nhập khẩu từ các nhà xuất khẩu không điều

tra không được vượt quá bình quân gia quyền BĐPG của các nhà xuất khẩu có điều tra.

Sau mỗi đợt rà soát, hàng nhập khẩu thuộc diện không điều tra sẽđược hoàn lại khoản thuế bằng:

Bình quân gia quyền BĐPG (cũ) - bình quân gia quyền BĐPG (mới)Khi có yêu cầu từ các nhà xuất khẩu không điều tra, cơ quan chứcnăng sẽ tính lại mức thuế bằng:

Bình quân gia quyền GTTT (nhà XK có điều tra) - giá xuất khẩu (nhà XK không điều tra)

Phải loại trừ các biên độ bằng không và biên độ tối thiểu (2%) khi tính bình quân gia quyền BĐPG.

Hàng nhập khẩu mới, nghĩa là:

Trang 31

- Chưa được xuất khẩu sang nước nhập khẩu trong giai đoạn điều tra

- Nhập khẩu từ nguồn không liên quan đến các nhà xuất khẩu đang bịđánh thuế chống bán phá giá sẽ được cơ quan chức năng rà soát để xác địnhBĐPG riêng và không bị đánh thuế chống bán phá giá trong thời gian tiếnhành rà soát

Tuy nhiên, hàng nhập khẩu này có thể bị truy thu thuế kể từ ngày bắtđầu rà soát nếu cơ quan chức năng xác định được là có bán phá giá

Truy thu thuế

Các biện pháp tạm thời và thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng

với sản phẩm được đưa ra bán sau thời điểm quyết định áp dụng biện

pháp tạm thời (60 ngày sau khi điều tra) hoặc quyết định đánh thuế chống bán phá giá (1 năm - 18 tháng sau khi điều tra) có hiệu lực.

Có thể truy thu thuế trong các trường hợp sau:

(1) Quyết định đánh thuế chống bán phá giá được căn cứ vào thiệt

hại vật chất; hoặc

(2) Quyết định đánh thuế chống bán phá giá được căn cứ vào nguy

cơ gây thiệt hại và thiệt hại thực tế đã có thể xảy ra nếu không áp dụng

biện pháp tạm thời

Trong các trường hợp này có thể truy thu thuế kể từ ngày bắt đầu áp

dụng biện pháp tạm thời.

(3) Có thể truy thu thuế đến tận 90 ngày trước khi áp dụng biện

pháp tạm thời nếu cơ quan chức năng xác định được:

Trang 32

(i) Có cả một quá trình bán phá giá gây ra thiệt hại hoặc nhà nhậpkhẩu đã hoặc lẽ ra phải nhận thức được rằng nhà xuất khẩu đang bán phágiá và việc bán phá giá đó có thể gây thiệt hại; và

(ii) Thiệt hại bị gây ra bởi khối lượng rất lớn hàng nhập khẩu trongthời gian ngắn trước khi áp dụng biện pháp tạm thời (trường hợp này nhànhập khẩu được phép trình bày ý kiến)

 Tuy nhiên, không được truy thu thuế với sản phẩm được nhập khẩu

trước ngày bắt đầu điều tra.

Phải hoàn thuế trong những trường hợp sau:

1) Nếu mức thuế cuối cùng xác định được thấp hơn mức thuế tạmthời đã thu thì phải hoàn lại khoản chênh lệch cho nhà nhập khẩu, nếu caohơn thì không được thu thêm

2) Nếu kết luận điều tra cuối cùng khẳng định việc bán phá giá sẽ cóthể dẫn đến thiệt hại hoặc làm chậm sự phát triển của ngành sản xuất trongnước thì thuế chống bán phá giá chỉ được đánh từ ngày ra kết luận điều tracuối cùng và phải hoàn lại số tiền đặt cọc đã thu khi áp dụng biện pháp tạmthời

3) Nếu kết luận cuối cùng là không đánh thuế chống bán phá giá thìkhoản tiền đặt cọc khi áp dụng biện pháp tạm thời sẽ được hoàn trả

1.3 Chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

1.3.1 Quy định về chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại thế giới

Chống bán phá giá gồm hai nội dung cơ bản, đó là điều tra chống bánphá giá và quyết định biện pháp (gồm cả mức độ) trừng trị

Ngày đăng: 20/03/2023, 09:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w