Nghiên cứu giá trị của Interleukin-6 và Protein phản ứng C trong đánh giá mức độ nặng nhẹ của viêm tuỵ cấp
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo bộ y tế
Trường đại học y hμ nội
-
Nguyễn trọng hiếu
Nghiên cứu giá trị của interleukin- 6 vμ
protein phản ứng c trong đánh gía mức độ
nặng nhẹ của viêm tụy cấp
Chuyên ngành: bệnh học nội khoa
M∙ số: 3.01.31
Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hà nội - 2009
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: trường đại học y hμ nội
Người hướng dẫn khoa học: gs.ts nguyễn khánh trạch
Phản biện 1: PGS.TS Phạm Thị Thu Hồ
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Quang Cử
Phản biện 3: PGS.TS Mai Hồng Bàng
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Nhà nước
Họp tại Trường Đại học Y Hà Nội
Vào hồi: 14 giờ 00 ngày 20 tháng 3 năm 2009
Có thể tìm hiểu luận án tại các thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
- Thư viện Thông tin Y học Trung ương
Trang 3Các công trình nghiên cứu đ∙ công bố
có liên quan đến đề tμi luận án
1 Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Khánh Trạch (2006), Nồng độ
Interleukin-6 (IL-6) huyết thanh theo mức độ nặng nhẹ của viêm tụy
cấp, Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, tập I, số 3, trang 75- 81
Bài đã được báo cáo tại Hội nghị Tiêu hóa các nước Đông Nam á lần thứ VI và Hội nghị khoa học Tiêu hóa toàn quốc lần thứ XII (Hà Nội, 10/2006)
2 Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Khánh Trạch (2006), Nghiên cứu
giá trị của Interleukin-6 và Protein phản ứng C trong đánh giá mức
độ của bệnh nhân viêm tụy cấp, Tạp chí Y học thực hành, số 11
(558), trang 2-5
3 Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Khánh Trạch (2007), Giá trị của
Protein phản ứng C (CRP) và bảng điểm Imrie trong tiên lượng viêm
tụy cấp, Tạp chí Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, tập II, số 7, trang
437-441
Bài đã được báo cáo tại Hội nghị khoa học Tiêu hóa toàn quốc lần thứ XIII (TP Hồ Chí Minh, 11/2007)
Trang 4đặt vấn đề
Viêm tụy cấp (VTC) là một bệnh cấp tính thường gặp trên
lâm sàng và có xu hướng ngày càng tăng Trong thực hành lâm sàng,
sau khi chẩn đoán VTC được khẳng định, việc đánh giá về mức độ
(MĐ) bệnh trong thời gian sớm nhất sẽ có lợi ích rất lớn, nó quyết
định việc lựa chọn cách thức điều trị thích hợp, từ đó có thể ngăn
chặn sự phát triển của các biến chứng và làm giảm tỷ lệ tử vong
Có nhiều phương pháp đã được sử dụng để đánh giá MĐ
nặng nhẹ và tiên lượng (TL) của VTC như đánh giá dựa vào lâm sàng,
dựa vào các bảng điểm Ranson, Imrie (Glasgow) và dựa vào chụp
cắt lớp vi tính (CCLVT) Tuy nhiên, không có phương pháp nào trên
đây có khả năng đánh giá TL của VTC một cách chính xác ngay
trong giai đoạn sớm của bệnh Gân đây, các nhà nghiên cứu trên thế
giới đang tập trung vào việc tìm kiếm các xét nghiệm (XN) để có thể
sử dụng độc lập trong TL MĐ nặng nhẹ của VTC Cho đến nay, định
lượng Protein phản ứng C (CRP) vẫn là XN duy nhất được khuyến
cáo sử dụng trong đánh giá TL của VTC và Interleukin- 6 (IL-6) là
XN được cho là có nhiều hứa hẹn nhất trong tương lai gần
ở Việt Nam, việc xác định MĐ nặng nhẹ của VTC chủ yếu
dựa vào đánh giá lâm sàng và một số XN cổ điển Để hiểu rõ hơn về
bệnh và nghiên cứu lựa chọn phương pháp xác định MĐ nặng nhẹ của
VTC phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài này nhằm 2 mục tiêu sau:
1 Khảo sát mối liên quan của Protein phản ứng C và
Interleukin- 6 với tình trạng nặng nhẹ của VTC
2 Đối chiếu giá trị của Protein phản ứng C và Interleukin- 6
với lâm sàng và một số chỉ tiêu cận lâm sàng trong đánh giá MĐ
nặng nhẹ của VTC
Những đóng góp mới của luận án:
- Ghi nhận sự thay đổi nồng độ (NĐ) IL-6 huyết thanh của các
BN VTC theo thời gian diễn biến của bệnh Xác định mối tương quan
chặt chẽ về NĐ của IL-6 và CRP huyết thanh của các BN VTC
- Phát hiện mối liên quan giữa nồng độ của IL-6 và CRP trong huyết thanh với MĐ nặng nhẹ của bệnh VTC
- Chứng minh được lợi ích và giá trị tin cậy của XN IL-6 và CRP trong việc dự báo (tiên lượng) MĐ của bệnh VTC Có so sánh với một số phương pháp đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới là bảng TL Imrie và chụp cắt lớp vi tính (bảng điểm CTSI)
- Góp phần đưa ra những khuyến cáo về áp dụng XN IL-6 và CRP trong việc TL MĐ nặng nhẹ của các BN VTC trong điều kiện thực tế Việt Nam
Cấu trúc luận án: Luận án được trình bày trên 117 trang
giấy khổ A4 không kể tài liệu tham khảo và các phụ lục
- Đặt vấn đề: 2 trang
- Chương 1: Tổng quan tài liệu, 28 trang
- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu, 14 trang
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu, 33 trang
- Chương 4: Bàn luận, 38 trang
- Kết luận: 1 trang
- Kiến nghị: 1 trang
Luận án gồm 4 hình, 48 bảng và 16 biểu đồ Phần đầu có lời cảm ơn, mục lục và danh mục chữ viết tắt Phần tài liệu tham khảo gồm
175 tên tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng Anh Phần phụ lục gồm
có danh sách các bệnh nhân nghiên cứu, một số hình ảnh minh họa và mẫu bệnh án nghiên cứu
Chương 1: tổng quan tμi liệu 1.1 Đánh giá MĐ và tiên lượng của viêm tụy cấp
Có rất nhiều phương pháp được đưa ra và áp dụng để đánh giá MĐ nặng nhẹ và TL của VTC, nhưng cho đến nay chưa có phương pháp nào tỏ ra tối ưu và đây là vấn đề còn nhiều tranh cãi Có thể chia các phương pháp TL VTC thành 6 loại sau:
- Đánh giá dựa vào lâm sàng
Trang 53
- Dựa vào các XN liên quan đến MĐ của phản ứng viêm như
yếu tố hoại tử u alpha (TNF-α), IL-6, IL-8 và CRP …
- Dựa vào các XN liên quan đến những sản phẩm được giải
phóng bởi tụy như peptide hoạt hóa trypsinogen (TAP) …
- Dùng các bảng tính điểm như Ranson, Imrie (Glasgow)…
- Dựa vào CCLVT: Bảng điểm CTSI của Balthazar
- Dựa vào một số phương pháp khác: dựa vào dịch ổ bụng
1.2 Vai trò của IL-6 và CRP trong đánh giá TL của VTC
1.2.1 Vai trò của Interleukin- 6 trong VTC
1.2.1.1 Vài nét về cytokine và Interleukin- 6 (IL- 6)
IL- 6 là một cytokine đa hướng (pleiotropic) với rất nhiều tác
dụng sinh học, được sản xuất bởi các bạch cầu và một số loại tế bào
khác IL- 6 lại tồn tại trong huyết thanh lâu hơn các cytokine khác,
do đó IL- 6 là một marker rất có giá trị phản ánh hoạt động viêm
1.2.1.2 Sự sản xuất cytokine trong VTC
NĐ các cytokine được phát hiện tăng cao có ý nghĩa ở các
BN VTC nặng ngay trong ngày đầu của bệnh Do đó, các cytokine
được xem là marker tin cậy giúp TL sớm các trường hợp VTC nặng
1.2.1.3 Vai trò của IL-6 trong VTC
Các nghiên cứu lâm sàng đều nhận thấy NĐ IL-6 tương quan
chặt chẽ với MĐ nặng nhẹ của VTC và đây một trong những phương
pháp tốt nhất có thể giúp phát hiện các trường hợp VTC nặng ngay từ
ngày đầu của bệnh với độ nhạy 82- 100%, độ đặc hiệu 71- 91% và tỷ
lệ chẩn đoán chính xác đạt 80-94% Người ta khuyến cáo nên XN IL-6
cho tất cả BN VTC ngay khi BN vào viện
1.2.2 Vai trò của Protein phản ứng C (CRP) trong VTC
1.2.2.1 Các protein pha cấp và Protein phản ứng C (CRP)
Protein phản ứng C (CRP) là một protein thuộc loại pentraxin
chỉ được sản xuất bởi tế bào gan dưới sự kiểm soát chủ yếu bởi IL-6
1.2.2.2 Vai trò của CRP trong VTC
ở BN VTC, mức sản xuất CRP tương quan chặt chẽ với MĐ
bệnh ở ngày thứ 2-3 của bệnh, xét nghiệm CRP có khả năng xác
4
định các trường hợp VTC nặng với độ nhạy 83-90% và độ đặc hiệu 74-84% Hiện nay, CRP đã được khuyến cáo sử dụng thường quy trong đánh giá MĐ của VTC trong lâm sàng Với mức CRP > 150 mg/L được coi là dấu hiệu của VTC nặng
Chương 2: Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các BN được chẩn đoán và điều trị VTC tại các khoa Tiêu hóa, khoa Điều trị tích cực, khoa Ngoại- BV Bạch Mai và khoa Phẫu thuật Gan mật- BV Việt- Đức (Hà Nội), từ 03/2004- 11/2005
2.1.1 Chẩn đoán xác định VTC
Chẩn đoán xác định VTC theo khuyến cáo của Hội nghị Tiêu hóa Thế giới 2002
* Triệu chứng lâm sàng: Đau thượng vị đột ngột, đau dữ dội
* Xét nghiệm: Amylase máu tăng > 3 lần so với bình thường
* Có hình ảnh VTC trên siêu âm hoặc CCLVT
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
* Không đưa vào nghiên cứu các trường hợp VTC nhưng có kèm theo những bệnh khác mà có thể gây ảnh hưởng đến sự sản xuất IL- 6 và CRP như: Nhồi máu cơ tim cấp, viêm khớp, Lupus ban đỏ,
có nhiễm khuẩn ở các cơ quan khác, lao tiến triển, xơ gan
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả- Nghiên cứu tiến cứu
* Các bước tiến hành nghiên cứu
- Bước 1: Phân loại MĐ viêm tụy cấp theo tiêu chuẩn phân loại Atlanta 1992
- Bước 2: Định lượng IL- 6 và CRP huyết thanh của BN Nghiên cứu sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP ở nhóm VTC nặng và nhóm VTC nhẹ theo thời gian
Trang 6- Bước 3: Tính các tỷ lệ có giá trị chẩn đoán (Độ nhạy, độ đặc
hiệu…) của xét nghiệm IL- 6 và CRP trong dự báo VTC MĐ nặng
So sánh giá trị của IL- 6 và CRP với giá trị của bảng TL Imrie và
bảng điểm CTSI trong TL VTC
2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu
- Chọn mẫu thuận tiện theo chủ đích
- Dự kiến số lượng BN là 100 (bao gồm VTC nhẹ và nặng)
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
2.2.4.1 Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng:
2.2.4.2 Cận lâm sàng:
* Các XN huyết học và sinh hóa được làm tại khoa Sinh hóa
của bệnh viện Bạch mai và bệnh viện Việt- Đức
* XN định lượng IL- 6 và CRP huyết thanh BN VTC
* Chụp cắt lớp vi tính: CCLVT được thực hiện tại khoa Chẩn
đoán hình ảnh BV Bạch Mai và BV Việt - Đức (Hà Nội)
2.2.5 Phân loại VTC theo tiêu chuẩn Atlanta 1992
Đây được coi là tiêu chuẩn vàng, được sử dụng rộng rãi trong
các nghiên cứu quốc tế, để phân loại VTC là nặng hay nhẹ
2.2.5.1 VTC nặng: Là VTC có biến chứng suy tạng và/hoặc
có biến chứng tại chỗ (hoại tử, apxe hoặc nang giả tụy)
2.2.5.2 VTC nhẹ: Là các trường hợp VTC chỉ có rối loạn
chức năng tạng ở mức tối thiểu và hồi phục nhanh chóng
2.2.6 Đánh giá MĐ nặng nhẹ và TL của viêm tụy cấp
2.2.6.1 Đánh giá dựa vào bảng yếu tố TL Glasgow (Imrie)
Tất cả các BN đều được đánh giá MĐ theo bảng điểm này
Việc đánh giá hoàn thành sau khi BN vào viện 48 giờ theo 8 tiêu
chuẩn sau:
LDH > 600 U/L
* Đánh giá: 0- 2 yếu tố → VTC nhẹ; ≥ 3 yếu tố → VTC nặng
2.2.6.2 Đánh giá MĐ nặng nhẹ của VTC dựa vào CCLVT:
Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng bảng CTSI (CT Severity Index) của Balthazar: Điểm CTSI= MĐ viêm + MĐ hoại tử
C Viêm lan ra xung quanh tụy 2
MĐ hoại tử Điểm
D Hoại tử > 1/2 tụy 6
Đánh giá: 0-2 điểm: Không có biến chứng nặng; 3- 6 điểm:
Biến chứng không rõ ràng; 7- 10 điểm: VTC nặng, tỷ lệ tử vong cao
2.2.6.3 Đánh giá MĐ nặng nhẹ của VTC dựa vào định lượng CRP và IL-6 huyết thanh
- Các XN định lượng NĐ IL-6 và CRP huyết thanh được thực hiện tại Labo Y sinh học- Trường Đại học Y Hà Nội
- Định lượng CRP huyết thanh với kit CRP- hs của hãng Human (CHLB Đức) Định lượng IL-6 huyết thanh với kit Interleukin- 6 [(h)IL- 6] Human, Biotrak ELISA System của hãng Amersham Bioscienes (Anh)
- Kết quả IL- 6 và CRP được làm mù với MĐ VTC trên lâm sàng
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Các giá trị về NĐ của IL- 6 và CRP được trình bày dưới
dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn Test t- Student và test số hạng Mann- Whitney U được dùng để so sánh sự khác biệt về NĐ của IL-6
và CRP ở các nhóm VTC
- Đường cong nhận dạng (ROC Curve) và diện tích dưới đường cong nhận dạng (AUC) tương ứng được tính để đánh giá khả năng của các phương pháp trong việc phân biệt VTC nặng với VTC nhẹ
* Số liệu được tính toán thống kê với phần mềm Medcalc phiên bản 8.1.0.0 (Medcalc, Mariakerke- Bỉ) và phần mềm SPSS phiên bản 13.0
Trang 77
Chương 3: kết quả nghiên cứu 3.1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
* Nghiên cứu của tôi được tiến hành ở 100 BN VTC; nam
chiếm 67%, nữ chiếm 33% Nguyên nhân thường gặp nhất là do rượu
(26%), sỏi mật (15%), giun (10%)
* Theo tiêu chuẩn phân loại Atlanta 1992: Có 57% BN được
xác định là VTC nhẹ, 43% BN là VTC nặng
3.2 Sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP ở BN VTC phân loại
theo Atlanta 1992
3.2.3 Sự thay đổi nồng độ IL- 6 và CRP theo MĐ của VTC
được phân loại theo Atlanta 1992
Bảng 3.11: Nồng độ IL- 6 (pg/mL) huyết thanh ở nhóm VTC
nặng và VTC nhẹ được phân loại theo tiêu chuẩn Atlanta 1992
VTC nhẹ (n=22) 9,06 ± 2,25 Ngày 1
VTC nặng (n=11) 185,83 ± 75,82 < 0,001
VTC nhẹ (n=43) 6,69 ± 1,54 Ngày 3
VTC nặng (n=31) 105,57 ± 32,68 < 0,001
VTC nhẹ (n=41) 4,88 ± 1,14 Ngày 5
VTC nặng (n=27) 40,55 ± 17,60 < 0,001
VTC nhẹ (n=34) 3,60 ± 1,04 Ngày 7
VTC nặng (n=27) 20,91 ± 7,02 < 0,001
VTC nhẹ (n=4) 1,34 ± 1,17 Tuần thứ 2
Nhận xét: Bất kể là VTC nhẹ hay nặng, NĐ IL- 6 huyết thanh
đều tăng cao nhất ngay trong ngày đầu của bệnh sau đó giảm dần, NĐTB
IL- 6 ở nhóm VTC nặng tăng rất cao so với ở nhóm VTC nhẹ, sự khác biệt
rất có ý nghĩa thống kê được nhận thấy trong suốt tuần đầu của bệnh
8
Biểu đồ 3.3: Sự thay đổi NĐ IL- 6 huyết thanh theo MĐ VTC
Bảng 3.12: Nồng độ CRP (mg/L) ở nhóm VTC nặng và VTC nhẹ được phân loại theo tiêu chuẩn Atlanta 1992
Ngày 1
Ngày 3
Ngày 5
Ngày 7
Tuần thứ 2
Nhận xét: NĐ CRP trong huyết thanh của BN VTC tăng cao
ngay từ ngày đầu của bệnh và đều tăng cao nhất ở ngày thứ 3 cho dù
là thể nhẹ hay nặng Cũng tương tự như với IL- 6, NĐ CRP của nhóm VTC nặng cao hơn có ý nghĩa so với nhóm VTC nhẹ ở các ngày 1- 7,
sự khác biệt không có ý nghĩa ở tuần thứ 2
nồng Độ il-6 huyết thanh ( pg/mL) theo mức độ vtc
185.83
105.57
1.34
20.91 40.55
0 25 50 75 100 125 150 175 200
Ngày 1 Ngày 3 Ngày 5 Ngày 7 Tuần 2
VTC nhẹ VTC nặng
Trang 8Biểu đồ 3.4: Sự thay đổi nồng độ CRP huyết thanh theo MĐ
VTC được phân loại theo tiêu chuẩn Atlanta 1992
3.2.4 Sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP theo một số biểu hiện lâm
sàng và cận lâm sàng
Bảng 3.13: Sự thay đổi NĐ (ở ngày 3) của IL- 6 (pg/mL) và CRP
(mg/L) theo một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của BN VTC
IL- 6
Sốt
CRP
IL- 6
Tràn dịch
màng
IL- 6
Cổ
trướng
CRP
IL- 6
Sốc
CRP
nồng độ crp huyết thanh (mg/L) theo mức độ vtc
57.82
97.44
58.33
30.32
135.15
199.92
147.45
93.31
43.62
16.62 0
50
100
150
200
250
VTC nhẹ VTC nặng
IL- 6
Suy hô
hấp
CRP
IL- 6
Suy thận
CRP
IL- 6
SLBC
>15000
CRP
Nhận xét: NĐ IL- 6 và CRP thường tăng cao hơn đồng thời
với sự biểu hiện của một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng mà thường xuất hiện trong các trường hợp VTC nặng như: sốt, tràn dịch màng phổi, cổ trướng, suy hô hấp, suy thận, tăng bạch cầu > 15000/mm3 Sự khác biệt là rất có ý nghĩa thống kê (Không có sự khác biệt rõ rệt về CRP giữa nhóm BN có sốc so với BN không sốc)
3.4 Sự thay đổi nồng độ IL- 6 và CRP ở các nhóm VTC nhẹ và VTC nặng được xác định bằng bảng TL Imrie
Bảng 3.21: Nồng độ IL- 6 (pg/mL) ở nhóm VTC nặng và VTC nhẹ được xác định bằng bảng Imrie
Ngày bệnh Điểm Imrie Nồng độ IL- 6 (X SEM± ) p
Ngày 1
Ngày 3
Ngày 5
Ngày 7
Tuần thứ 2
Trang 911
Nhận xét: NĐ IL- 6 tăng cao nhất trong ngày đầu, NĐ IL- 6
ở nhóm VTC có điểm Imrie ≥ 3 cao hơn rất có ý nghĩa so với nhóm
có điểm Imrie từ 0- 2
Bảng 3.22: Nồng độ CRP (mg/L) ở các nhóm VTC theo điểm Imrie
Ngày 1
Ngày 3
Ngày 5
Ngày 7
Tuần thứ 2
Nhận xét: ở nhóm VTC có điểm Imrie ≥ 3 cũng nh− nhóm có
điểm Imrie 0- 2, NĐ CRP đều tăng cao nhất ở ngày 3 rồi giảm dần NĐ
CRP ở nhóm có Imrie ≥ 3 cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có Imrie 0- 2
3.5 Sự thay đổi NĐ IL- 6 và CRP ở các nhóm VTC nhẹ và
VTC nặng đ−ợc xác định bằng chụp cắt lớp vi tính (Điểm CTSI)
Bảng 3.24: NĐ IL- 6 (pg/mL) ở các nhóm VTC theo điểm CTSI
Ngày 1
Ngày 3
Ngày 5
Ngày 7
Tuần thứ 2
12
Nhận xét: NĐ IL- 6 tăng cao nhất ngay từ ngày đầu ở các BN
có điểm CTSI ≥ 4 và ở ngày 3 đối với nhóm có điểm CTSI 0- 3, sau
đó đều giảm dần Sự khác biệt chỉ thực sự có ý nghĩa ở ngày 5
Bảng 3.25: NĐ CRP (mg/L) ở nhóm VTC nặng và VTC nhẹ
đ−ợc xác định bằng CTSI
Ngày 1
Ngày 3
Ngày 5
Ngày 7
Tuần thứ 2
Nhận xét: NĐTB CRP của cả 2 nhóm BN đều tăng cao nhất
ở ngày 3 rồi giảm dần Nói chung, NĐ CRP ở nhóm có CTSI ≥ 4 cao hơn so với nhóm CTSI 0- 3, tuy nhiên sự khác biệt có ý nghĩa chỉ
đ−ợc ghi nhận ở ngày 5- 7
3.6 Giá trị của IL- 6 và CRP trong dự báo MĐ VTC
Bảng 3.27: Giá trị của IL- 6 trong dự báo VTC nặng (Tỷ lệ %)
Ngày bệnh
Cut- off (pg/mL)
Độ nhạy Độ đặc
hiệu
Giá trị
dự báo (+)
Giá trị
dự báo (-)
Tỷ lệ chính xác
Nhận xét: XN IL- 6 đạt giá trị tốt nhất ngay trong ngày đầu
của bệnh với độ nhạy 81,8%, độ đặc hiệu 95,5% và GTDB (+) đạt tới 90% ở các ngày sau, XN có độ nhạy và độ đặc hiệu trên 80%
Trang 10Bảng 3.28: Giá trị của CRP trong dự báo VTC nặng (Tỷ lệ %)
Ngày
bệnh
Cut- off
(mg/L)
Độ nhạy Độ đặc
hiệu
Giá trị
dự báo (+)
Giá trị
dự báo (-)
Tỷ lệ chính xác
Nhận xét: XN CRP đạt giá trị tốt nhất ở ngày thứ 3 của bệnh
với độ nhạy 80,6%, độ đặc hiệu 76,7% và GTDB (+) 71,4% ở ngày
đầu và ngày thứ 5, XN CRP có độ nhạy rất cao nhưng có độ đặc hiệu
và GTDB (+) thấp, chỉ khoảng 50- 60%
Bảng 3.29: Giá trị vùng dưới đường cong nhận dạng (ROC Curve) của IL- 6 và CRP trong dự báo MĐ của VTC
Nhận xét: Nói chung, XN IL- 6 cũng như CRP đều có độ tin
cậy rất cao trong phân biệt các trường hợp VTC nặng với VTC nhẹ,
đặc biệt là XN IL- 6 Trong những ngày đầu của bệnh, giá trị AUC
của XN IL- 6 lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với của CRP
Biểu đồ 3.17: Đường cong nhận dạng (ROC Curve) của IL- 6
và CRP trong dự báo các trường hợp VTC nặng
IL6n1 CRPn1
0 20 40 60 80 100
100-Specificity
100
80
60
40
20
0
IL6n3 CRPn3
0 20 40 60 80 100 100-Specificity
100 80 60 40 20 0
IL6n5 CRPn5
0 20 40 60 80 100 100-Specificity
100 80 60 40 20 0
3.7 So sánh giá trị của IL- 6 và CRP với bảng tiên lượng Imrie và bảng CTSI trong TL MĐ của BN VTC
Bảng 3.38: So sánh AUC của IL- 6 với bảng Imrie và bảng CTSI trong dự báo MĐ VTC
AUC 0,975 0,981 0,870
p p IL- 6/ Imrie= 0,889 p IL- 6/ CTSI= 0,188
Nhận xét: Giá trị AUC của cả 3 phương pháp đều rất cao
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa IL- 6 so với Imrie cũng như với CTSI
đều không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.39: So sánh diện tích vùng dưới đường cong nhận dạng (AUC) của CRP với bảng Imrie và bảng CTSI trong dự báo MĐ VTC
AUC 0,665 0,993 0,766
P p CRP / Imrie< 0,001 p CRP / CTSI= 0,324
Nhận xét: Khi so giữa CRP với Imrie và CTSI, tôi thấy, bảng
Imrie có giá trị tốt nhất và tốt hơn có ý nghĩa so với CRP, giá trị AUC của CRP và CTSI đạt được ở mức tương đương nhau
Chương 4: bμn luận 4.1 Về đặc điểm chung của nhóm BN nghiên cứu
Theo tiêu chuẩn phân loại Atlanta 1992, là tiêu chuẩn đang
được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu quốc tế, tôi thấy có 57%
BN trong nghiên cứu là VTC thể nhẹ và 43% BN là VTC thể nặng Tỷ
lệ VTC nặng trong nghiên cứu của tôi cao hơn mức bình thường và cao hơn so với hầu hết các nghiên cứu khác ở trong và ngoài nước
Điều này có thể là do cơ sở thu thập số liệu của tôi là các các bệnh viện tuyến trung ương, nơi tiếp nhận các trường hợp VTC nặng từ các bệnh viện khác chuyển đến