Nghiên cứu giải pháp cải thiện chất lượng thức ăn bổ sung dựa vào nguồn nguyên liệu địa phương ở một vùng nông thôn tỉnh Quảng Nam
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ y tế
trường đại học y hμ nội
phạm văn phú
nghiên cứu giải pháp cải thiện chất lượng thức ăn bổ sung Dựa vμo nguồn nguyên liệu địa phương
ở một vùng nông thôn tỉnh quảng nam
Chuyên ngμnh : Vệ sinh học x∙ hội và tổ chức y tế Mã số : 3.01.12
Tóm tắt luận án tiến sĩ y học
Hμ nội - 2007
Trang 2Công trình được hoàn thành tại :
trường đại học y hμ nội
Người hướng dẫn khoa học : PGS TS Phạm Duy Tường
PGS TS Nguyễn Công Khẩn
Phản biện 1 : GS TS Trương Việt Dũng
Phản biện 2 : GS TS Phan Thị Kim
Phản biện 3 : PGS TS Lê Thị Hợp
Luận án đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước tổ
chức tại Trường Đại học Y Hà Nội
Vào hồi: 14 giờ, ngày 14 tháng 3 năm 2007
Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Thông tin Y học Trung ương
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
Danh mục các công trình nghiêncứu liên quan đến luận án đ∙ công bố
Treche (2004), “Thay đổi cân nặng và chiều dài của trẻ dưới 12
tháng được ăn bổ sung bằng bột sản xuất từ nguyên liệu địa phương có tăng cường vi chất tại một vùng nông thôn Quảng
Nam”, Tạp chí Y học thực hành, số 496, Bộ Y Tế xuất bản
2 Phạm Văn Phú, Nguyễn Xuân Ninh, Phạm Duy Tường, Nguyễn Công Khẩn, Serge Treche (2005), “Thực hành nuôi
dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 1-24 tháng tuổi tại 2 huyện Núi Thành và Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam”, Tạp chí Y học thực hành, số 3 (505), Bộ Y Tế xuất bản
Công Khẩn, Serge Treche (2006), “Giá trị dinh dưỡng và một số
yếu tố liên quan tới khẩu phần ăn bổ sung của trẻ 4-9 tháng tuổi ở
một xã thuộc huyện Thăng Bình, Quảng Nam”, Tạp chí Y học thực
hành, số 4 (538), Bộ Y Tế xuất bản
4 Mourad Moursi, Pham Van Phu, Tran Thi Ngoc Ha, Bertrand Salvignol, Chantal Monvois, Serge Treche (2003), “Feeding
practices and nutritional status of infants and young children in two provinces (Ha Tinh, Quang Nam) of Viet Nam”, IRD/NIN/GRET - Nutridev
Trang 3Mở đầu
Thiếu vi chất dinh dưỡng hiện đang là vấn đề lớn, ảnh hưởng đến
sức khoẻ cộng đồng, trong đó đối tượng có nguy cơ cao nhất cũng
chính là trẻ em đang ở độ tuổi ăn bổ sung ở những nước đang phát
triển, các bà mẹ rất khó có thể tự mình cải thiện chất lượng thức ăn bổ
sung cho trẻ tại gia đình bởi thành phần thực phẩm chính là ngũ cốc,
hàm lượng các yếu tố vi chất có trong thực phẩm này rất thấp Trong
khi đó, những sản phẩm dùng làm thức ăn bổ sung có giá trị dinh
dưỡng cao thường đắt, khó tiếp cận
Chiến lược cải thiện sự sẵn có và dễ tiếp cận đối với thức ăn bổ
sung có tăng cường vi chất giá rẻ có thể góp phần rất lớn vào cải thiện
tình trạng dinh dưỡng của trẻ Cho đến nay, trên thế giới cũng đã có
nhiều nghiên cứu tăng cường vi chất vào thức ăn bổ sung, nhưng
dường như còn rất ít các nghiên cứu bổ sung vi chất có dựa vào những
bằng chứng thiếu hụt cụ thể của trẻ ở từng khu vực, từng cộng đồng
Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về các giải pháp nâng cao
chất lượng thức ăn bổ sung, nhưng các nghiên cứu này cũng mới chỉ
dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm hoặc còn gặp các trở ngại về kỹ thuật,
qui mô sản xuất hoặc vấn đề giá cả
Từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
giải pháp cải thiện chất lượng thức ăn bổ sung dựa vào nguồn
nguyên liệu địa phương ở một vùng nông thôn tỉnh Quảng Nam” với
ba mục tiêu sau đây:
1 Điều tra thực trạng vấn đề ăn bổ sung, tình trạng dinh dưỡng,
thiếu máu của trẻ dưới 24 tháng tuổi tại Quảng Nam
2 Xây dựng công thức bột từ nguyên liệu địa phương có tăng
cường vi chất dùng làm thức ăn bổ sung cho trẻ từ 5-11 tháng tuổi
3 Đánh giá hiệu quả của những loại bột này thông qua những
thay đổi về tình trạng dinh dưỡng và một số chỉ số hoá sinh liên quan
đến các yếu tố vi lượng sắt, kẽm của trẻ
Những đóng góp mới của luận án: Đã xây dựng được công thức
bột ăn bổ sung phù hợp với tình hình thực tế Quảng Nam Chứng minh
được đây là một giải pháp có khả năng góp phần hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng, thiếu hụt vi chất (đặc biệt là phòng chống thiếu máu do thiếu sắt) và giảm mức độ bệnh tật cho trẻ trong độ tuổi
dưới 12 tháng
Bố cục của luận án: Luận án gồm 117 trang, bố cục như sau:
Mở đầu: 3 trang; Tổng quan: 40 trang; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 15 trang; Kết quả nghiên cứu: 35 trang; Bàn luận: 21 trang; Kết luận và kiến nghị: 3 trang; Có 34 bảng, 11 biểu đồ, 168 tài liệu tham khảo và 2 phụ lục
Chương 1
Tổng quan 1.1 Suy dinh dưỡng (SDD), thiếu máu thiếu sắt, thiếu kẽm
1.1.1 Nguyên nhân và ảnh hưởng của SDD
Nguyên nhân trực tiếp: Thiếu ăn là một trong những nguyên
nhân trực tiếp của SDD, nói rộng hơn đó cũng chính là hậu quả của
đói nghèo Những đứa trẻ được sinh ra trong những gia đình nghèo thường có nguy cơ cao đối với bệnh tật Bệnh tật, nhiễm trùng ảnh hưởng xấu lên sự tăng cân của trẻ, đặc biệt là vào thời điểm 6 tháng tuổi khi trẻ bắt đầu được cho ăn bổ sung Trong các bệnh nhiễm trùng, tiêu chảy đứng hàng đầu kể về cả thời gian mắc và tần xuất mắc
Nguyên nhân tiềm tàng: Trong đó thực hành nuôi dưỡng không
đúng là một nguy cơ rất cao đối với SDD ở trẻ nhỏ Do nuôi dưỡng không
đúng, ở giai đoạn từ 6-18 tháng tỷ lệ mắc mới SDD tăng rất nhanh
ảnh hưởng của SDD: Trẻ bị SDD, thiếu các vi chất cần thiết như
sắt, kẽm, vitamin A có khả năng chống đỡ các bệnh nhiễm trùng kém Suy dinh dưỡng có thể gây ra những ảnh hưởng xấu tức thời cũng như lâu dài đến sức khoẻ, khả năng học tập, tiềm năng phát triển của trẻ và
là nguy cơ cho sự phát sinh những bệnh mạn tính sau này
Trang 41.1.2 Thiếu máu thiếu sắt
ở Việt Nam, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi được ước tính từ
30-50% tuỳ theo vùng và thiếu sắt là nhân tố quan trọng nhất Thiếu máu
phổ biến ở tất cả các vùng, đặc biệt cao ở vùng Tây Nguyên, ven biển
Miền Trung, Nam Miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Đối tượng
có nguy cơ thiếu máu do thiếu sắt cao nhất là trẻ em 6-24 tháng tuổi
1.1.3 Thiếu kẽm
1/3 trẻ em trước tuổi đi học ở những nước có thu nhập thấp bị
SDD thể còi cọc - một thể SDD mà nguyên nhân chắc chắn có liên
quan đến thiếu kẽm Đối tượng có nguy cơ cao thiếu kẽm là trẻ em,
đặc biệt trẻ em trong giai đoạn ăn bổ sung Thiếu kẽm đứng hàng thứ
5 trong số 10 yếu tố nguy cơ cao nhất, trên cả thiếu sắt và vitamin A
Mức độ thiếu kẽm ở Việt Nam được xếp vào loại cao
1.1.4 Các giải pháp phòng chống SDD, thiếu hụt vi chất
Phòng chống nhiễm trùng-ký sinh trùng, giáo dục dinh dưỡng, nâng
cao chất lượng chăm sóc dinh dưỡng, tạo nguồn thực phẩm, đa dạng hoá
bữa ăn, cải thiện giá trị sinh học của các chất dinh dưỡng có trong thực
phẩm thông qua chế biến, tăng cường vi chất vào thực phẩm…là những
cách tiếp cận để phòng chống SDD ở trẻ em nói chung Riêng với trẻ ở độ
tuổi ăn bổ sung, cải thiện chất lượng thức ăn bổ sung có tăng cường vi
chất là một giải pháp đang được nhiều người quan tâm
1.2 Cải thiện chất lượng thức ăn bổ sung có tăng cường vi chất
1.2.1 Những tồn tại hiện nay về thực hành cho ăn bổ sung
Thời gian cho ăn bổ sung quá sớm: Trẻ thường được cho ăn bổ
sung quá sớm, khi mới được 2-3 tháng tuổi hoặc thậm chí ngay từ
tháng đầu tiên
Chất lượng bữa ăn bổ sung nghèo nàn: Chủ yếu là gạo, đường,
muối, nước mắm, thiếu các thực phẩm giàu đạm, dầu mỡ, rau xanh Số
lượng thức ăn bổ sung không đủ, đậm độ chất dinh dưỡng: năng
lượng, protid, vitamin và khoáng thấp
1.2.2 Các tiếp cận cải thiện
Cho ăn đúng thời điểm: Sữa mẹ không thể đáp ứng được nhu cầu
khi trẻ được 6 tháng tuổi ở cả những nước giàu và nước nghèo Do đó, cần phải cho ăn đúng thời điểm Gần đây, WHO/UNICEF đã khuyến cáo cho ăn bổ sung vào 6 tháng tuổi thay vì 4-6 tháng như trước đây
Cho ăn với số lượng phù hợp: Theo tính toán, nếu lượng sữa mẹ
ăn vào ở mức thấp, đậm độ nhiệt lượng thức ăn bổ sung là 0,8kcal/g thì số bữa được khuyến nghị cho trẻ 6-8 tháng tuổi: 2-3 bữa/ngày; trẻ 9-11 tháng tuổi: 3-4 bữa/ngày
Đảm bảo các chất dinh dưỡng cân đối hợp lý: Những năm gần
đây, việc chú ý đến những thiếu hụt vi chất từ thức ăn bổ sung là sự phản ánh những thay đổi trong hiểu biết khoa học về nhu cầu dinh dưỡng của trẻ
Phòng chống SDD và thiếu hụt vi chất chắc chắn sẽ hiệu quả hơn
đối với trẻ ở độ tuổi ăn bổ sung nếu chất lượng và sự tiếp cận thức ăn
bổ sung có tăng cường vi chất được cải thiện thông qua việc sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, kỹ thuật chế biến không quá phức tạp, vi chất được bổ sung dựa trên những bằng chứng thiếu hụt cụ thể của cộng đồng
Chương 2
Đối tượng vμ PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
2.1 Thiết kế nghiên cứu: Đây là một nghiên cứu thử nghiệm can
thiệp tại cộng đồng, được tiến hành theo 3 bước
Bước 1: Điều tra ban đầu, đánh giá thực trạng vấn đề ăn bổ sung, tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu của trẻ dưới 24 tháng tại Quảng Nam
Bước 2: Xây dựng công thức bột dùng làm thức ăn bổ sung Bước 3: Nghiên cứu can thiệp, đánh giá hiệu quả của bột
2.1.1 Bước 1: Được tiến hành tại 2 huyện Núi Thành và Thăng Bình
với đối tượng là các cặp mẹ-con trẻ dưới 24 tháng
Trang 5Bảng 2.3 Mẫu cho điều tra ban đầu
Số bữa bột được điều tra về sử dụng thực phẩm 239
<24 tháng
Trẻ được phân tích thành phần khẩu phần bổ sung 29 6-9 tháng
2.1.2 Bước 2: Xây dựng công thức bột dùng làm thức ăn bổ sung
Cơ sở để xây dựng công thức bột: Từ kết quả điều tra của bước
1; thành phần và nhu cầu các chất dinh dưỡng từ thức ăn bổ sung thực
tế ở Quảng Nam Hai loại bột đã được xây dựng:
Favina: Bột dinh dưỡng ăn liền, vị ngọt
Favilase: Bột tăng cường dinh dưỡng, khi nấu phối hợp với bột
hoặc cháo gạo (cho một hỗn hợp gọi là Favila)
Nguồn nguyên liệu chính để sản xuất bột : Gạo, đậu nành,
vừng, đường, sữa bột cung cấp từ địa phương
2.1.3 Bước 3: Được tiến hành các xã ngoại thị Tam Kỳ, đối tượng là
trẻ 5 tháng ± 15 ngày tuổi; không sinh đôi; không dị tật; đang được bú
mẹ; cân nặng sơ sinh >2500 gam; Hb ≥70g/L; HAZ-score >-3,0
Cỡ mẫu: áp dụng công thức:
Cỡ mẫu được tính toán dựa trên: thay đổi chiều dài nằm và hàm
lượng Hb của trẻ trong thời gian 6 tháng can thiệp Chiều dài: ước
lượng sự khác biệt tăng chiều dài (d) của trẻ ăn bột so với đối chứng là
1cm, SD (δ) được ước lượng là 2,2cm (Simodon, 1996) Lực mẫu
2 2
d
] ) Z [(Z
α+ β δ
=
N
90%; e=0,05 Cỡ mẫu mỗi nhóm cần: 102 trẻ Hb: ước lượng sự tăng khác biệt Hb (d) là 5g/L, SD (δ) là 10g/L (từ kết quả Bước 1) Lực mẫu 90%; e=0,05 Cỡ mẫu cần cho mỗi nhóm: 84 trẻ Tính chung và
dự phòng 20% bỏ cuộc, mỗi nhóm cần 120 trẻ
Lấy mẫu: Trẻ mới sinh được theo dõi để có kế hoạch đưa vào
mẫu Khi trẻ 3 tháng ± 15 ngày tuổi: điều tra về tình hình kinh tế-xã hội Khi được 5 tháng ± 15 ngày tuổi: trẻ có đủ điều kiện đều được tham gia 144 trẻ 6-9 tháng tuổi trong 3 nhóm Favina, Favila(se), đối chứng được phân tích thành phần dinh dưỡng khẩu phần bổ sung bằng các kỹ thuật phòng thí nghiệm
Bảng 2.4 Số liệu và thời điểm thu thập số liệu ở nghiên cứu can thiệp
Thời điểm T
(Tuổi của trẻ tại thời điểm thu thập số liệu)
Các số liệu thu thập1
T3 (3tháng
±15ngày)
T5 (5tháng
±15ngày)
T8 (8tháng
±15ngày)
T11 (11tháng
±15ngày)
T17 (3tháng
±15ngày) Kinh tế-xã hội *2
Số ngày mắc bệnh trong tuần
- Từ thời điểm T3 đến T11, hμng tuần - vμo một ngμy
cố định - ĐTV tới thăm vμ phỏng vấn bμ mẹ2
- Trường hợp cần thiết, việc khám vμ xác định bệnh
được hỗ trợ bởi nhân viên y tế xã vμ thôn
Mẫu thức ăn để
định lượng TP
1 Dưới sự giám sát của NCS, số liệu được thu thập bởi các ĐTV và Kỹ thuật viên
(KTV) đã được đào tạo kỹ năng chuyên môn Mỗi ĐTV hoặc KTV chỉ làm một công việc và phụ trách một địa bàn cố định trong suốt thời gian nghiên cứu
2 Số liệu được thu thập tại gia đình
3 Số liệu được thu thập tại Khoa nhi Bệnh viện tỉnh Quảng Nam vào các buổi sáng
4 Số liệu được thu thập tại điểm ăn
2.2 Các phương pháp định lượng sinh hoá, khẩu phần
Hemoglobin: định lượng bằng phương pháp Drabkin
Trang 6Ferritin và transferrin receptor: định lượng bằng phương pháp
hấp phụ miễn dịch gắn engyme
Kẽm huyết thanh: định lượng theo phương pháp hấp phụ nguyên tử
Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần bổ sung: Theo Phương
pháp phân tích theo AOAC International-1997
2.3 Xử lý số liệu: bằng phần mềm Stata 8.0 với các test: One-way
ANOVA, Bonferroni, Kruskal-Wallis , χ2 , hiệu quả can thiệp
Chương 3
Kết quả nghiên cứu 3.1 Thực trạng vấn đề ăn bổ sung, tình trạng dinh dưỡng, thiếu
máu của trẻ dưới 24 tháng tuổi tại Quảng Nam
3.1.1 Một số thực hành nuôi dưỡng trẻ
Bảng 3.6 Thực phẩm được sử dụng trong bữa bột 24 giờ qua
Bột ( 239 bữa) Tên thực phẩm
Cá, tôm, cua, các loại hải sản, trứng, sữa, rau quả 0 0,0
Trong 239 bữa bột được điều tra có 173 (72,4%) bữa là bột dinh
dưỡng ăn liền, 66 (27,6%) bữa là bột gạo do gia đình tự chế biến
Không có bữa bột nào có cá, tôm, cua, hải sản, trứng sữa và rau quả
3.1.2 Khẩu phần bổ sung thực tế của nhóm trẻ 6-9 tháng
Bảng 3.9 Mức đáp ứng nhu cầu từ thức ăn bổ sung so với đề nghị
Thành phần dinh dưỡng
Khẩu phần thực tế: Χ(SD)
Nhu cầu
đề nghị
% đạt được
so với nhu cầu
Năng lượng (Kcal)
Khẩu phần ăn của trẻ đáp ứng so với nhu cầu: năng lượng đạt 71,5%; sắt đạt 12,6%; canxi đạt 20%; kẽm đạt 23,6%
3.1.3 Tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu của trẻ dưới 24 tháng
Bảng 3.10 Tỷ lệ SDD và thiếu máu theo nhóm tuổi
(n=248)
Nhóm tuổi (tháng)
n 342 37 332 47 375 4 76 37 1-12
n 245 185 238 192 399 31 47 88 13-24
n 587 222 570 239 774 35 123 125 1-24
Nhóm tuổi 13-24 tháng: 43,0% SDD Cân nặng/Tuổi; 44,7% Chiều dài/Tuổi Cho cả 2 năm: 27,4% SDD Cân nặng/Tuổi; 29,5% Chiều dài/Tuổi
Tỷ lệ trẻ bị thiếu máu trong năm đầu: 67,3%
Trang 73.2 Xây dựng công thức bột
Bảng 3.12 Thành phần dinh d−ỡng cần có trong 100g bột khô
Thành phần
Favilase
(Ch−a phối hợp bột gạo)
Favila
(Đã phối hợp
bột gạo)
Các công thức bột đ−ợc xây dựng với yêu cầu l−ợng các chất dinh
d−ỡng có trong 100g bột khô Favina và Favila (đã phối hợp bột gạo):
năng l−ợng 390-400kcal, protid 15-18g; sắt 15-18mg; kẽm 3,2-3,6mg;
vitamin nhóm B phù hợp với hàm l−ợng năng l−ợng; tỷ lệ Ca/P ≈1
Với công thức nh− trên, trẻ 5-11 tháng tuổi ăn khoảng 70-100g
bột/ngày sẽ đáp ứng đ−ợc nhu cầu các chất dinh d−ỡng từ thức ăn bổ
sung theo đề nghị
Bảng 3.14 Thành phần nguyên liệu trong bột Favina, Favilase
Tỷ lệ (%) Nguyên liệu
Favina Favilase
Với tỷ lệ các nguyên liệu đ−ợc phối hợp nh− trình bày các công thức bột sẽ đáp ứng đ−ợc yêu cầu đã đặt ra
3.3 Kết quả nghiên cứu can thiệp
3.3.1 Khẩu phần của 3 nhóm trẻ Favina, Favila(se) và đối chứng
Bảng 3.17 Giá trị dinh d−ỡng khẩu phần 3 nhóm trẻ nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu Thμnh phần
dinh d−ỡng Favina
Χ (SD)
Favila(se)
Χ (SD)
ĐC
Χ (SD)
P
(Anova) Năng l−ợng (Kcal)* 320 (161)a 340 (193)a 206 (161)b <0,001 Protid (g)* 11,5 (5,7) a 13,7 (8,4) a 8,5 (7,1)b <0,05 Lipid (g)* 6,5 (3,1) a 6,2 (4,0) a 4,2 (2,9) b <0,01 Glucid (g)* 53,8 (27,7) a 57,5 (32,3) a 33,5 (19,6) b <0,001
Fe (mg)* 15,9 (7,8) a 26,5 (17,8) b 1,9 (1,6)c <0,001
Ca (mg)* 349,2 (174,9) a 530,3 (354,1) b 79,4 (69,3) c <0,001
Zn (mg)* 4,6 (2,3) a 5,4 (3,8) b 1,5 (1,2) c <0,001
P (mg)* 385,2 (193,0) a 536,4 (343,1) b 121,8 (80,7) c <0,001
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác nhau
Trang 8Các chất dinh d−ỡng protid, lipid, glucid, khoáng trong khẩu phần
của 3 nhóm trẻ khác biệt nhau có ý nghĩa (p<0,05 đến p<0,001), trong
đó hai nhóm Favina và Favila(se) luôn cao hơn so với nhóm đối
chứng
3.3.2 Thay đổi các chỉ số nhân trắc
Bảng 3.18 Thay đổi cân nặng
Favina Favila(se) Đối chứng Giai đoạn
nghiên cứu n Χ (SD) n Χ (SD) n Χ (SD)
p
(Anova)
Cân nặng tăng thêm ở các giai đoạn nghiên cứu (kg)
T5-T8: Trai
Gái*
74
67
0,80 (0,45) 0,85 (0,44) a
53
72
0,89 (0,43) 0,75 (0,32) ab
61
71
0,75 (0,32) 0,65 (0,30) b
>0,05
<0,01 T8-T11: Trai
Gái
69
66
0,54 (0,36) 0,61 (0,31)
49
65
0,55 (0,33) 0,52 (0,23)
60
68
0,53 (0,25) 0,51 (0,28)
>0,05
>0,05 T5-T11: Trai
Gái*
69
66
1,33 (0,60) 1,47 (0,51) a
49
65
1,47 (0,52) 1,29 (0,39) ab
60
68
1,27 (0,40) 1,16 (0,39) b
>0,05
<0,001
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác
nhau
Giai đoạn T5-T8 (3 tháng đầu can thiệp): Cân nặng tăng thêm
của 3 nhóm trẻ gái khác biệt có ý nghĩa (p<0,01)
Giai đoạn T8-T11 (3 tháng can thiệp tiếp theo): Cân nặng tăng
thêm ở các nhóm theo giới ch−a thấy có sự khác biệt
Cả thời gian 6 tháng can thiệp: Cân nặng tăng thêm ở 3 nhóm
trẻ gái khác biệt có ý nghĩa (p<0,001), trong đó nhóm ăn Favina cao
hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (p<0,01)
Nhóm trẻ trai ăn Favina, Favila(se) có cân nặng tăng thêm cao
hơn nhóm đối chứng nh−ng ch−a thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 3.20 Thay đổi chiều dài
Favina Favila(se) Đối chứng Giai đoạn
nghiên cứu n Χ (SD) n Χ (SD) n Χ (SD)
p
(Anova)
Chiều dμi tăng thêm ở các giai đoạn nghiên cứu (cm)
T5-T8: Trai*
Gái*
74
67
4,3 (0,9) a
4,2 (0,9) ab
53
72
4,5 (1,1) a
4,4 (1,0) a
61
71
3,8 (0,9) b
3,9 (0,9) b
<0,01
<0,01
T8-T11: Trai Gái
69
66
3,9 (0,9) 4,0 (0,8)
49
65
3,8 (1,0) 3,7 (0,8)
60
68
3,7 (0,7) 3,7 (0,8)
>0,05
>0,05
T5-T11: Trai*
Gái*
69
66
8,2 (1,2) a
8,2 (1,1) a
49
65
8,3 (1,2) a
8,1 (1,1) ab
60
68
7,6 (1,1) b
7,7 (1,1) b
<0,01
<0,05
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác nhau
Giai đoạn T5-T8 (3 tháng đầu can thiệp): Các nhóm trẻ gái,
chiều dài tăng thêm khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,01) và khác biệt rõ rệt giữa nhóm Favila(se) so với nhóm đối chứng (p<0,01) Trẻ trai, chiều dài tăng thêm ở 2 nhóm ăn bột đều cao hơn so với nhóm
đối chứng có ý nghĩa thống kê (p<0,01)
Giai đoạn T8-T11 (3 tháng can thiệp tiếp theo): Chiều dài tăng
thêm ở các nhóm theo giới ch−a thấy có sự khác biệt
Chung cho cả thời gian can thiệp: Sau 6 tháng, chiều dài tăng
thêm ở các nhóm ăn Favina, Favila(se) và nhóm đối chứng khác biệt nhau (p<0,01 và p<0,05)
Trang 93.3.3 Thay đổi các chỉ số sinh hoá sắt kẽm
Bảng 3.22 Tỷ lệ thiếu máu ở các thời điểm nghiên cứu
Favina Favila(se) Đối chứng Thời điểm
p
(χ2) T5: Trai*
Gái
Cả 2 giới
82
75
157
72,0ab
52,0 62,4
57
78
135
87,7a
60,3 71,9
61
73
134
65,6b
67,1 66,4
<0,05
>0,05
>0,05 T11: Trai*
Gái
Cả 2 giới*
64
56
120
31,3a
42,9 36,7a
45
61
106
26,7a
29,5 28,3a
58
65
123
62,1b
50,8 56,1b
<0,001
>0,05
<0,001
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác
nhau
Tỷ lệ thiếu máu ở T11 giữa 3 nhóm khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p<0,001) Thiếu máu ở 2 nhóm được ăn Favina và Favila(se) giảm
rõ rệt trong khi ở nhóm đối chứng cũng có xu hướng giảm nhưng
không đáng kể
Đánh giá hiệu quả can thiệp cho thấy: So với nhóm đối chứng,
hiệu quả giảm tỷ lệ thiếu máu ở nhóm trẻ ăn Favina là 25,7%;
Favila(se) là 45,1%
Bảng 3.23 Hemoglobin ở các thời điểm và giai đoạn nghiên cứu
Favina Favila(se) Đối chứng p Giai đoạn
nghiên cứu n Χ
[CI 95%]
[CI 95%]
[CI 95%]
(Kruskal-Wallis) T5-T11:
Trai*
Gái Cả 2 giới*
64
56 120
7,2a
[4,9; 9,5]
4,4 [1,6; 7,1]
5,9a
[4,1; 7,7]
45
61 106
12,5a
[8,6; 16,4]
7,0 [3,8; 10,2]
9,3a
[6,8; 11,8]
58
65 123
2,2b
[0,6; 5,1]
2,9 [0,7; 5,2]
2,6b
[0,8; 4,4]
<0,001
>0,05
<0,001
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác nhau
Hemoglobin của nhóm Favina tăng trung bình 5,9g/L, nhóm Favila(se) tăng 9,3g/L, nhóm đối chứng tăng 2,6g/L, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 3.24 Ferritin huyết thanh ở các giai đoạn nghiên cứu
Favina Favila(se) Đối chứng p Giai
đoạn
NC
[CI 95%]
[CI 95%]
[CI 95%]
(Kruskal-Wallis) T5-T11:
Trai*
Gái
2 giới*
64
56
120
3,6a
[-3.4; 10.5]
-9,1 [-15.7; -2.5]
-2,3a
[-7.2; 2.5]
45
60 105
-6,1ab
[-13.1; 1.0]
-12,2 [-19.5;-5.0]
-9,6 ab
[-14.6;-4.5]
58
63 121
-13,3b
[-20.0; -6.6]
-16,0 [-21.9;-10.2]
-14,7b
[-19.1;-10.3]
<0,001
>0,05
<0,001
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác nhau
Sau 6 tháng can thiệp, ở các nhóm trẻ ferritin đều có xu hướng giảm với các mức độ khác nhau Favina: 2,3μg/L; Favila(se): -9,6μg/L; nhưng giảm nhiều nhất ở nhóm đối chứng: -14,7μg/L (p<0,001)
Trang 10Bảng 3.27 Thay đổi dự trữ sắt cơ thể
Giai đoạn
nghiên cứu n Χ
[CI 95%]
[CI 95%]
[CI 95%]
(Kruskal-Wallis) T5-T11:
Trai*
Gái*
Cả 2 giới*
64
56
120
1,3 [0,3; 2,2]a
-0,4 [-1,5; 0,7]a
0,5 [-0,2;1,2]a
45
60
105
0,5 [-0,8; 1,7]a
-0,9 [-1,8;0,0]b
-0,3 [-1,1; 0,4]a
58
63 121
-2,3 [-3,2;-1,5]b
-2,6 [-3,5;-1,8]c
-2,5 [-3,1;-1,9]b
<0,001
<0,01
<0,001
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác
nhau
Sau can thiệp, dự trữ sắt (mg/kg cân nặng cơ thể) của nhóm
trẻ trai Favina tăng 1,3mg/kg; trẻ trai Favila(se) tăng 0,5mg/kg Nhóm
đối chứng, sắt dự trữ giảm nhiều, trung bình giảm khoảng 2,5mg/kg
khi tính riêng từng giới cũng nh− tính chung cho cả 2 giới
các thời điểm nghiên cứu
Favina Favila(se) Đối chứng Nhóm
T5: Trai
Gái
Cả 2 giới
82
75
157
84,2 68,0 76,4
57
78
135
70,2 74,4 72,6
61
73
134
70,5 71,2 70,9
>0,05
>0,05
>0,05 T11: Trai
Gái
Cả 2 giới*
63
56
119
49,2 41,1 45,4a
44
61
105
54,6 55,7 55,2ab
58
63
121
63,8 61,9 62,8b
>0,05
>0,05
<0,05
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác
nhau
Sau can thiệp, tỷ lệ trẻ có nồng độ kẽm huyết thanh thấp (<10,7
μmol/L) đều giảm ở cả 3 nhóm và khác biệt có ý nghĩa thống kê, trong
đó nhóm đối chứng giảm ít nhất, nhóm Favina giảm nhiều nhất
So với nhóm đối chứng, hiệu quả can thiệp đối với nhóm Favina là 29,2%; nhóm Favila(se): 12,6%
3.3.4 Mức độ bệnh tật của 3 nhóm trẻ trong nghiên cứu
Bảng 3.31 Tỷ lệ trẻ mắc bệnh ở các giai đoạn nghiên cứu
Giai
mắc
% Số mắc
% Số mắc
%
p (χ2)
Tiêu chảy 36 27,3a 10 9,1b 65 50,8c <0,001
T5-T11
* So sánh 2 nhóm, khác biệt có ý nghĩa thống kê nếu các nhóm có đánh dấu với các chữ cái khác nhau
Trong thời gian can thiệp, tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy, biếng ăn ở 3 nhóm trẻ khác nhau có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Bảng 3.32 Số ngày mắc ở những trẻ bị bệnh
Giai
đoạn Bệnh Số
mắc
Trung vị [min; max]
Số mắc
Trung vị [min; max]
Số mắc
Trung vị [min; max]
Tiêuchảy 36 3 [1; 9] 10 2 [1; 4] 65 7 [1; 44]
VHHC 132 15 [1; 70] 110 17 [1; 56] 128 21 [2; 82]
Sốt 132 11 [1; 45] 110 14 [1; 36] 128 20 [1; 84]
T5-T11 Biếng ăn 6 2 [1; 3] 12 2 [1; 32] 114 13 [1; 66]
Trong thời gian can thiệp, số ngày trẻ mắc bệnh có sự khác nhau:
ở tất cả 4 bệnh đ−ợc theo dõi, hai nhóm trẻ Favina và Favila(se) đều
có số ngày mắc thấp hơn so với nhóm đối chứng