1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ

26 472 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 497,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ

Trang 1

Y - lima

Hiệu quả dμi hạn việc sử dụng nước mắm

bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ

Chuyên ngμnh : Y tế công cộng Mã số : 62.72.76.01

Tóm tắt luận án tiến sỹ y tế công cộng

Hμ nội – 2007

Trang 2

Vào hồi giờ ngày tháng năm 200

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia

- Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

1 Phạm Vân Thuý, Nguyễn Công Khẩn, Y Lima (2006), “Đánh

giá cảm quan nước mắm bổ sung sắt”, Tạp chí Y học dự phòng,

Tập XVI, Số 5 (84), tr 51 - 56

2 Y Lima, Nguyễn Công Khẩn, Phạm Vân Thuý (2007), “Theo dõi

tổng quan sau ngừng can thiệp sử dụng nước mắm bổ sung sắt để

phòng chống thiếu máu, thiếu sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ”, Tạp chí Y học thực hành, số 1 (562), Bộ Y tế, tr 53 - 55

Trang 3

NaFeEDTA : Sodium Iron Ethylendiamintetaracetic (S¾t natri EDTA)

VAC : V−ên, Ao, Chuång

Trang 4

Mở đầu

Thiếu máu dinh dưỡng hiện đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng

đáng lưu ý trên thế giới hiện nay, trong đó thiếu máu thiếu sắt là loại thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến nhất ở các nước đang phát triển và ngay cả ở các nước công nghiệp phát triển Thiếu máu ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển thể lực, tâm lý, hành vi và khả năng lao

động và góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong chung có liên quan đến dinh dưỡng Thiếu máu có thể do thiếu một hoặc nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu như sắt, axít folic, vitamin B12… hoặc có thể

do sốt rét, nhiễm trùng, ký sinh trùng và khuyết tật di truyền của các phân tử hemoglobin Tuy nhiên, thiếu sắt là nguyên nhân gây thiếu máu quan trọng nhất Thiếu máu thường gặp nhất ở phụ nữ có thai (51%) sau

đến trẻ em dưới 5 tuổi (43%), học sinh 6-12 tuổi (37%) và ở nam trưởng thành ít phổ biến hơn (18%)

Có rất nhiều biện pháp can thiệp khác nhau được sử dụng để phòng chống thiếu máu và điều chỉnh tình trạng trên, chúng bao gồm cả việc cải thiện chế độ ăn uống hàng ngày, làm giàu thực phẩm với sắt, bổ sung sắt và các biện pháp y tế khác, chẳng hạn như khống chế giun sán Tất cả các biện pháp tiếp cận đó có thể cải thiện được tình hình thiếu sắt trong một số hoàn cảnh

Để thanh toán bệnh thiếu máu do thiếu sắt, tại nhiều nước đang phát triển đã triển khai chương trình bổ sung viên sắt+axít folic cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (cả phụ nữ có thai và không có thai) Bổ sung viên sắt là một trong những giải pháp hiệu quả nhất để phòng chống

bệnh thiếu máu dinh dưỡng

Trên thế giới, từ những năm trước 1956 cho tới 1989, các công trình nghiên cứu khẳng định: bổ sung viên sắt trong thời kỳ có thai đã làm giảm đáng kể tỷ lệ thiếu máu

Giải pháp bổ sung sắt vào thực phẩm hiện nay cũng đang là hướng phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt rất được quan tâm Những can thiệp bằng bổ sung sắt vào thực phẩm đã được Ngân hàng thế giới nhận xét như một trong số những can thiệp vào sức khoẻ có hiệu quả giá thành nhất Nước mắm là một thực phẩm thông dụng ở nhiều nước trong

Trang 5

khu vực Đông Nam Châu á, trong đó có Việt Nam Những nghiên cứu

ở Việt Nam cho thấy nước mắm là thực phẩm tiềm năng thuận lợi cho việc bổ sung sắt, thông qua đó để phòng chống thiếu máu thiếu sắt ở Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu về hiệu lực của nước mắm bổ sung sắt EDTA Tuy nhiên đó là nghiên cứu có sự giám sát chặt chẽ của nghiên cứu viên, trong khi cần có một đánh giá can thiệp trong điều kiện bình thường không đòi hỏi giám sát Mặt khác, cần thiết tìm hiểu

và theo dõi hiệu quả dài hạn của việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt để nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt một cách bền vững, từ đó khẳng định vai trò của giải pháp này Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến

hành nghiên cứu: “Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung

sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ”

với các mục tiêu sau:

1 Đánh giá cảm quan nước mắm bổ sung sắt EDTA

2 Tìm hiểu về kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành phòng chống thiếu máu và sử dụng nước mắm bổ sung sắt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ

3 Đánh giá hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu máu thiếu sắt sau 18 tháng sử dụng nước mắm bổ sung sắt và tình trạng dinh dưỡng sắt sau

18 tháng ngừng can thiệp

Những đóng góp mới của luận án

1 Đưa ra sự thay đổi nồng độ của những chỉ số sinh hoá tại 3 thời điểm nghiên cứu

2 Đánh giá được hiệu quả của nước mắm bổ sung sắt trong việc phòng chống thiếu máu thiếu sắt

3 Tìm ra được hiệu quả dài hạn của nước mắm bổ sung sắt trong việc phòng chống thiếu máu thiếu sắt sau khi 18 tháng ngừng sử dụng

Cấu trúc của luận án

Luận án gồm có 105 trang (không kể phụ lục), 4 chương, 42 bảng, 15 hình, 211 tài liệu tham khảo trong và ngoài nước Cấu trúc từng phần như sau: Mở đầu 3 trang, chương 1: Tổng quan: 37 trang, chương 2: Đối tượng

và phương pháp nghiên cứu: 10 trang, chương 3: Kết quả nghiên cứu: 37 trang, chương 4: Bàn luận: 15 trang, Kết luận: 2 trang, Kiến nghị: 1 trang, Tài liệu tham khảo, phụ lục và các công trình liên quan đến luận án

Trang 6

Chương 1 Tổng quan

Sắt là một trong các nguyên tố có hàm lượng rất ít trong cơ thể Tổng hàm lượng sắt toàn phần trong cơ thể người trưởng thành có từ 3

đến 4 gam sắt Nếu tính hàm lượng của nguyên tố sắt chứa trong mỗi kg thể trọng, nam giới trưởng thành bình thường 50 mg, nữ giới là 35 mg, trẻ

em là 30-60 mg, trẻ sơ sinh đủ tháng là 60-70 mg Hàm lượng sắt của cơ thể được điều hòa qua sự thay đổi số lượng hấp thu sắt ở ruột Việc hấp thu sắt bị ảnh hưởng bởi sắt dự trữ trong cơ thể, bởi số lượng và bản chất hóa học của sắt trong thức ăn đã được tiêu hóa và bởi rất nhiều yếu tố làm tăng hay giảm khả năng hấp thu sắt Việc hấp thu sắt qua đường tiêu hoá rất ít, chỉ đủ để bù đắp lại số lượng sắt đã mất đi, nghĩa là vào khoảng 1-2 mg mỗi ngày

1.1 Nhu cầu về sắt

ở người trưởng thành, lượng sắt mất đi 0,9 mg mỗi ngày ở nam giới (65 kg) và 0,8 mg ở nữ giới (55 kg) ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ lượng sắt mất đi theo kinh nguyệt dao động khá nhiều, trung bình vào khoảng 0,4-0,5 mg mỗi ngày Như vậy, ở đối tượng phụ nữ lứa tuổi này tổng lượng sắt mất trung bình hàng ngày là 1,25 mg và khoảng 5% chị em cao hơn 2,4 mg

1.2 Sắt trong thức ăn và sự hấp thu sắt của cơ thể

Lượng sắt cung cấp qua ăn uống bình thường mỗi ngày là 15-20

mg trong đó 5-15% được hấp thu, lượng hấp thu khoảng 1mg/1kg thể trọng Toàn bộ đường tiêu hoá đều có thể hấp thu sắt, nhưng bộ phận hấp thu chủ yếu là tá tràng và đoạn trên của hỗng tràng

Trong thức ăn sắt ở dạng hem và không ở dạng hem, trong tế bào, hem dưới tác dụng của enzym ôxy hóa, sắt từ trong vòng porphyrin tách rời ra, chuyển vào trong máu tuần hoàn Do vậy, sự hấp thu của sắt hem thường không bị ảnh hưởng bởi dịch tiết ra trong dạ dày, ruột và độ pH nên hấp thu khá tốt những chất protein có nguồn gốc từ động vật (thịt, cá, thịt gia cầm…)

Không giống với sự hấp thu sắt hem, sự hấp thu của sắt không hem

Trang 7

chịu ảnh hưởng của nhân tố thức ăn ở mức độ rất lớn Quá trình giải phóng sắt từ thức ăn là một quá trình phức tạp chịu ảnh hưởng của kết cấu thức ăn, sự chế biến thực phẩm, nấu nướng, tác dụng nội bộ của các nhân tố trong thức ăn, dịch tiết ra ở dạ dày và ruột Sắt ở trạng thái ion

được giải phóng ra trước khi được hấp thu cũng dễ bị sự kết hợp của các nhân tố trong thức ăn làm khó được hấp thu Sắt không hem chỉ được hấp thu khoảng 3-10% trong khẩu phần hàng ngày Đối với ba loại thực phẩm cơ bản là gạo, ngô và mì, sắt chỉ hấp thu được từ 1-7% Trong trường hợp thiếu máu, sự hấp thu sắt có thể tăng lên đến 20% Sự hấp thu sắt không hem phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong khẩu phần

1.3 Một số khái niệm về thiếu máu thiếu sắt

1.3.1 Định nghĩa và phân loại thiếu máu

Theo định nghĩa chung đã được thừa nhận, thiếu máu xảy ra khi lượng Hb lưu hành của một cá thể thấp hơn so với những người khoẻ mạnh cùng giới, cùng tuổi và cùng sống trong một môi trường Có nhiều nguyên nhân gây thiếu máu, trong đó về phương diện sức khoẻ cộng đồng ba loại sau là quan trọng hơn cả

• Thiếu máu do thiếu dinh dưỡng

• Thiếu máu do mất máu hoặc do hồng cầu bị phá huỷ do nhiễm trùng và ký sinh trùng như sốt rét, nhiễm giun móc

• Thiếu máu do khuyết tật di truyền của hồng cầu

1.3.2 Các dấu hiệu của thiếu sắt

Có thể thông qua chỉ tiêu xét nghiệm về tình trạng dinh dưỡng sắt của cơ thể con người, những chỉ tiêu này bao gồm sắt trong huyết thanh, sự kết hợp của tổng lượng sắt, độ bão hoà của transferrin, ferritin trong huyết thanh và transferrin receptor có thể chia mức độ thiếu sắt ra làm 3 giai đoạn:

1.3.2.1 Giai đoạn đầu tiên: đó là giai đoạn sớm nhất của sự giảm dự

trữ sắt ở gan

1.3.2.2 Giai đoạn 2: là giai đoạn thiếu sắt ở hồng cầu, đặc điểm

của nó là dự trữ sắt giảm hoặc biến mất hoàn toàn

1.3.2.3 Giai đoạn 3: đó là giai đoạn thiếu máu ở giai đoạn này,

tổng số hemoglobin giảm xuống dưới mức bình thường theo tuổi và giới của đối tượng

Trang 8

1.3.3 Nguyên nhân của bệnh thiếu máu do thiếu sắt

Thiếu máu do thiếu sắt có nhiều nguyên nhân là vấn đề không cần bàn cãi Là một hội chứng phức hợp và được xác định bằng nhiều cách khác nhau tuỳ theo sự hiểu biết của cán bộ y tế và cán bộ nghiên cứu Ngoài ra còn có một số nguyên nhân khác như:

• Nhu cầu sinh lý tăng

• Lượng sắt cung cấp thiếu

• Nhiễm trùng và ký sinh trùng

1.3.4 Hậu quả của bệnh thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt

Thiếu máu thiếu sắt không chỉ gây ra những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ mà còn để lại những hậu quả xã hội khác

1.3.4.1 Đối với phụ nữ có thai: trong thời kỳ có thai, người mẹ bị

thiếu máu có mức tăng cân thấp, có nguy cơ đẻ non, sẩy thai hoặc đẻ con nhỏ, yếu có tỷ lệ chết khá cao ngay sau khi đẻ Những đứa trẻ bị thiếu máu trong thời kỳ bào thai, khi ra đời sẽ có nguy cơ suy dinh dưỡng và có biểu hiện bị khuyết tật quá trình myelin hoá, làm chậm dẫn truyền thần kinh dẫn đến chậm phát triển về trí lực

1.3.4.2 Đối với phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ

Theo ước tính của Ngân hàng phát triển châu á, số bà mẹ bị tử vong

do thiếu máu chiếm tới 23% trong số các bà mẹ bị tử vong hàng năm

1.3.4.3 Đối với phát triển của trẻ

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa sắt và sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là sự tăng cân, chiều cao, điểm học tập kém

1.4 Các giải pháp phòng chống thiếu máu thiếu sắt

ở những nước đang phát triển, chiến lược thông dụng nhất trong

việc thanh toán thiếu chất dinh dưỡng sắt là: giáo dục sức khoẻ, bổ sung

thức ăn giàu chất sắt, bổ sung viên sắt và bổ sung sắt vào thực phẩm, phòng chống các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng

chương trình mới hoặc tiếp sức cho một chương trình hiện có, các tác nhân, từ những thành viên cộng đồng đến các nhà kế hoạch về sức khoẻ cần phải hành động theo những cách thức mới Cần nâng cao nhận thức

về phòng chống thiếu máu thiếu sắt cho tất cả các cơ quan liên quan,

Trang 9

bao gồm các nhà lập chính sách, cán bộ quản lý chương trình, cán bộ triển khai, cộng tác viên và đối tượng

1.4.2 Chương trình bổ sung viên sắt: theo khuyến cáo của Tổ chức Y

tế Thế giới và cũng đã có nhiều nghiên cứu đánh giá không chỉ về hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu máu mà còn quan tâm đến hiệu quả chung khi triển khai tại cộng đồng, trong đó những yếu tố mà ta quan tâm khi thực hiện chương trình này là sự chấp nhận của đối tượng đích còn rất thấp và một nguyên nhân cản trở lớn là tác dụng phụ khi uống viên sắt hàng ngày

1.4.3 Cải thiện chế độ ăn:

- Cải thiện giá trị sinh học sắt từ thực phẩm bằng đa dạng hoá bữa ăn

- Bổ sung thực phẩm hỗ trợ hấp thu sắt: thực phẩm chứa nhiều vitamin

C (trong rau quả), thức ăn giàu đạm đặc biệt đạm động vật, vitamin A (thức ăn động vật), giàu axít hữu cơ trong các loại rau quả, lên men chua như muối dưa

- Hướng dẫn cách chế biến đúng để đảm bảo lượng sắt không bị giảm hấp thu (không nấu quá lâu hoặc nấu ở nhiệt độ cao)

- Giáo dục kiến thức lựa chọn thực phẩm, giảm tiêu thụ các thực phẩm ức chế hấp thu sắt như thực phẩm có chất xơ cao, lượng phytat cao, thực phẩm có gốc polyphenol cao như chè, cà phê Bữa ăn có thực phẩm giàu sắt phải cách xa bữa ăn có thực phẩm giàu canxi 2-4 giờ

1.4.4 Bổ sung sắt vào một số thực phẩm: bổ sung vi chất vào thực

phẩm là một giải pháp can thiệp dài hạn với mục đích cải thiện và ổn

định được sắt dinh dưỡng thường xuyên trong cơ thể

1.4.5 Phòng chống các bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng: sốt rét

cũng là nguyên nhân gây thiếu máu do phân huỷ hồng cầu Người ta đã nghiên cứu và cho thấy, có sự liên quan giữa thiếu máu và tình trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét cũng như tình trạng thiếu máu đang thịnh hành trong hầu hết các vùng có dịch sốt rét địa phương

1.5 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng thiếu sắt của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên thế giới, ở Việt Nam và Campuchia

Trang 10

1.5.1 Thực trạng thiếu máu dinh dưỡng trên thế giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu sắt, thiếu máu thiếu sắt vẫn là một loại thiếu vi chất dinh dưỡng phổ biến nhất trên thế giới ảnh hưởng

đến hơn 2 tỷ người ở các nước phát triển, trong đó những đối tượng có nguy cơ cao nhất là trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

1.5.2 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở Việt Nam

Thiếu máu dinh dưỡng là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng quan trọng ở Việt Nam Có một số nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ thiếu máu phổ biến ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, bao gồm cả có thai và không có thai ở Việt Nam, cuộc điều tra năm 2000 về chương trình bổ sung viên sắt ở 9879 hộ gia đình ở vùng sinh thái tham gia, trong đó có 7135 hộ gia đình có trẻ em<5 tuổi và mẹ của trẻ đó, 2744 hộ có phụ nữ có thai

đã cho thấy: đối với tỷ lệ thiếu máu chung của cả nước cho thấy tỷ lệ phổ biến nhất ở trẻ em<2 tuổi (trên 50%) Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em<5 tuổi là 34,1%, phụ nữ có thai là 32,2%, phụ nữ không có thai 24,3% trong khi đó tỷ lệ này ở nam giới là 9,4%

1.5.3 Tình hình thiếu máu dinh dưỡng ở Vương quốc Campuchia

Tại Vương quốc Campuchia, thiếu máu cũng đang là một trong những vấn đề dinh dưỡng rộng khắp cả nước, trở thành gánh nặng đối với ngành Y tế Campuchia

Một điều tra tại Campuchia cho thấy trong tổng số 1461 trẻ 6-59 tháng tuổi được xét nghiệm, trong đó thiếu máu có tới 63 trường hợp có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu, tỷ lệ này tương đương với mức độ thiếu máu trong khu vực Nam á Đối với nhóm trẻ em dưới 2 tuổi tỷ lệ thiếu máu cao hơn, trong đó nhóm nghiên cứu ở độ tuổi từ 10-11 tháng có tỷ lệ bị thiếu máu cao gần 90% Nếu xét trên toàn quốc thì tỷ lệ bị thiếu máu cao nhất là tỉnh Kampong Thum so với những các tỉnh, thành phố khác Nói chung trẻ em sống ở vùng sâu vùng xa có tỷ lệ thiếu máu cao hơn so với những nơi khác Những đối tượng trẻ em có bố mẹ có trình độ học vấn khác nhau thì tỷ lệ thiếu máu cũng khác nhau Tỷ lệ hiện mắc thiếu máu của đối tượng phụ nữ trong độ tuổi 15-19 cho thấy trung bình tỷ lệ thiếu máu khoảng 58% trong các nhóm Nhưng nhóm đối tượng ở độ tuổi từ 45-49 có tỷ lệ thiếu máu cao nhất so với những đối tượng ở những nhóm

Trang 11

tuổi khác (62,7%)

Chương 2 Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu cảm quan: người dân, độ tuổi 17-55

thai, tuổi từ 16-49 Không có dấu hiệu mắc các bệnh nhiễm trùng cấp hay mạn tính, mang ký sinh trùng hoặc sốt cao

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Chúng tôi triển khai nghiên cứu như sau:

Trong nghiên cứu này các đối tượng được chia làm 2 nhóm:

Nhóm 1: các đối tượng cảm quan nước mắm loại I (15 độ đạm) trước rồi súc miệng và ngay sau đó cảm quan nước mắm bổ sung sắt Nhóm 2: các đối tượng cảm quan nước mắm bổ sung sắt và sau khi xúc miệng cảm quan nước mắm bình thường

dõi sau can thiệp

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã thuộc huyện Vụ Bản, Nam

Định: Xã Kim Thái và Minh Tân

Trang 12

* Nghiên cứu cảm quan nước mắm bổ sung sắt

Đây là nghiên cứu cắt ngang Cỡ mẫu ước tính dựa vào khác nhau về cảm quan giữa hai nhóm nước mắm Theo một số nghiên cứu trước, dự

Zβ=1,28 Độ lệch chuẩn (σ) về sự khác biệt ước tính 1 điểm Theo công

2 1

) Z Z (

σ β +

Từ công thức trên thì chúng ta có thể tính ra cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp là 84 trong mỗi nhóm x 2 nhóm thì cỡ mẫu đủ để điều tra nghiên cứu can thiệp là 168, cộng thêm 15% đối tượng bỏ cuộc Tổng

số đối tượng là 194 cho cả 2 nhóm nghiên cứu

™ Điều tra khẩu phần ăn

áp dụng công thức tính cho mỗi nhóm

n = [ ( ) (2 2 2) ]

2 2

δ

δ

Z N e

N Z

+

n: số mẫu cần điều tra

Z: độ tin cậy đòi hỏi 95% (Z=1,96)

δ: độ lệch chuẩn của nhiệt lượng trung bình ăn vào (300)

N: tổng số người của tổng điều tra (194)

e: sai số cho phép khoảng 100 kcal

Ta có :

300 96 , 1 194 100

194 300 96 , 1

cuộc Tổng số đối tượng là 70 cho cả 2 nhóm nghiên cứu

Trang 13

2.4.2 Chọn mẫu nghiên cứu

Chọn 2 xã ngẫu nhiên trong tất cả những xã trong huyện Vụ Bản, Thành phố Nam Định, trong 2 xã đó chúng tôi chọn ngẫu nhiên lấy 194

hộ gia đình Trong mỗi hộ gia đình chúng tôi chọn lấy 1 người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, nhưng nếu trong mỗi hộ gia đình có trên 2 người phụ nữ trong đối tượng sinh đẻ thì chúng tôi sẽ chọn lấy ngẫu nhiên 1 người trong đối tượng đó

2.5 Kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

Phương pháp: đánh giá chấp nhận sản phẩm dựa vào cảm quan của

người tham gia Sử dụng thang điểm của Hedonic

• Kích thước thể lực (cân nặng, chiều cao, điều tra khẩu phần ăn): theo Bộ Y tế - Viện Dinh Dưỡng (2000)

• Xét nghiệm máu

Trong quá trình nghiên cứu, tất cả các đối tượng được lấy máu tĩnh

mạch 3-4 ml vào ống chống đông EDTA tại trạm y tế xã Huyết thanh

ly tâm 3500 vòng/phút trong 10 phút, bảo quản lạnh -70°C cho tới khi phân tích Ferritin, Transferrin receptor và CRP Xác định nồng độ Hb trong máu bằng phương pháp Cyanmethemoglobin Ferritin và Transferrin receptors và CRP được phân tích bằng kỹ thuật ELISA 10% mẫu máu

được phân tích 2 lần và nhắc lại nếu có sự khác biệt lớn hơn 10%

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành với sự tự nguyện tham gia của tất cả đối tượng trong nghiên cứu đều đảm bảo không có thai, trong độ tuổi sinh

đẻ Những đối tượng nào bị thiếu máu nặng được đưa đi điều trị ngay theo phác đồ và không xếp vào trong nhóm nghiên cứu Tất cả các dụng

cụ để cân, đo đều được đảm bảo an toàn, đúng quy định của Viện Dinh Dưỡng Quốc gia

Dụng cụ lấy máu các đối tượng để xét nghiệm đều đảm bảo an toàn tuyệt đối theo quy định và chỉ sử dụng một lần

2.7 Xử lý số liệu

Số liệu sau khi thu thập về được làm sạch và nhập bằng chương trình EPI-INFO 6.04 Xử lý số liệu bằng chương trình phần mềm SPSS 12.0

Ngày đăng: 08/04/2014, 13:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.25. Tổng số điểm về kiến thức - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Bảng 3.25. Tổng số điểm về kiến thức (Trang 14)
Bảng 3.3. Tỷ lệ (%) đối tượng sử dụng nước mắm bổ sung sắt - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Bảng 3.3. Tỷ lệ (%) đối tượng sử dụng nước mắm bổ sung sắt (Trang 14)
Bảng 3.26. Tổng số điểm niềm tin, thái độ - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Bảng 3.26. Tổng số điểm niềm tin, thái độ (Trang 15)
Hình 3.5. Tỷ lệ thiếu máu (Hb&lt;120 mg/l) của hai nhóm - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Hình 3.5. Tỷ lệ thiếu máu (Hb&lt;120 mg/l) của hai nhóm (Trang 16)
Hình 3.6. Tỷ lệ (%)  hụt giảm dự trữ sắt (SF&lt;12 mcg/l) của hai nhóm - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Hình 3.6. Tỷ lệ (%) hụt giảm dự trữ sắt (SF&lt;12 mcg/l) của hai nhóm (Trang 16)
Hình 3.6 cho thấy, tại thời điểm T 0  và T 36  tỷ lệ hụt giảm dự trữ sắt (SF&lt;12  mcg/l) giữa hai nhóm can thiệp và nhóm chứng có sự khác biệt, nh−ng  không đủ để có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05) - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Hình 3.6 cho thấy, tại thời điểm T 0 và T 36 tỷ lệ hụt giảm dự trữ sắt (SF&lt;12 mcg/l) giữa hai nhóm can thiệp và nhóm chứng có sự khác biệt, nh−ng không đủ để có ý nghĩa thống kê (p&gt;0,05) (Trang 17)
Hình 3.10 cho thấy, ở nhóm can thiệp, nồng độ Hb của đối t−ợng  nghiên cứu trong thời gian can thiệp (T 18 ) có mối t−ơng quan thuận - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Hình 3.10 cho thấy, ở nhóm can thiệp, nồng độ Hb của đối t−ợng nghiên cứu trong thời gian can thiệp (T 18 ) có mối t−ơng quan thuận (Trang 18)
Hình 3.12. Tương quan giữa nồng độ TfR trong huyết thanh với lượng - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Hình 3.12. Tương quan giữa nồng độ TfR trong huyết thanh với lượng (Trang 19)
Hình 3.11 cho thấy, ở nhóm can thiệp, nồng độ SF của đối t−ợng  nghiên cứu trong thời gian can thiệp có mối t−ơng quan thuận chiều có  YNTK với l−ợng sắt ăn vào, có nghĩa là khi l−ợng sắt ăn vào tăng lên thì  l−ợng SF cũng tăng lên - Hiệu quả dài hạn việc sử dụng nước mắm bổ sung sắt trong phòng chống thiếu máu thiếu sắt trên phụ nữ tuổi sinh đẻ
Hình 3.11 cho thấy, ở nhóm can thiệp, nồng độ SF của đối t−ợng nghiên cứu trong thời gian can thiệp có mối t−ơng quan thuận chiều có YNTK với l−ợng sắt ăn vào, có nghĩa là khi l−ợng sắt ăn vào tăng lên thì l−ợng SF cũng tăng lên (Trang 19)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w