Nghiên cứu kết quả của hoạt động mổ quặm tại cộng đồng trong chương trình phòng chống bệnh mắt hột ở Việt Nam
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ Y tế
Nghiên cứu kết quả của hoạt động mổ quặm tại cộng đồng trong chương trình phòng chống
Trang 2Ng−êi h−íng dÉnkhoa häc: Gs TS NguyÔn träng nh©n
Tr−êng §¹i häc Y Hµ Néi
Vµo håi 8 giê 30 ngµy 21 th¸ng 10 n¨m 2008
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i th− viÖn:
- Th− viÖn quèc gia
- Th− viÖn Tr−êng §¹i häc Y Hµ néi
- Th− viÖn th«ng tin Y häc Trung −¬ng
Trang 3Đặt vấn đề
Bệnh mắt hột là một trong những nguyên nhân gây mù hàng đầu trên thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới hiện nay có khoảng 146 triệu người mắc bệnh mắt hột hoạt tính và có 5,9 triệu người mù do các biến chứng của bệnh mắt hột, đứng hàng thứ hai sau nguyên nhân mù do bệnh đục thể thuỷ tinh Chương trình hành động "Thị giác 2020" thanh toán các bệnh mắt gây mù có thể phòng chống đã được đề xuất trong đó có chiến lược SAFE nhằm loại trừ bệnh mắt hột gây mù trên thế giới vào năm 2020 Phương pháp mổ xoay sụn mi đã được đề xuất để giải quyết các trường hợp biến chứng của bệnh mắt hột gây lông xiêu và quặm Phương pháp đã được áp dụng cho những kết quả nhất định về khả năng điều chỉnh quặm, tỷ lệ tái phát và mức
độ hài lòng của bệnh nhân sau phẫu thuật
ở Việt Nam hoạt động phòng chống bệnh mắt hột luôn là một trong những nội dung chính của chương trình phòng chống mù loà Tỷ lệ mắt hột hoạt tính ở cộng
đồng đã giảm xuống gần đến mức thanh toán bệnh mắt hột gây mù (7,05% theo kết quả điều tra năm 1995) Bộ Y tế và ngành Mắt Việt Nam đã quyết tâm loại trừ bệnh mắt hột gây mù vào năm 2010 Chương trình phòng chống bệnh mắt hột đang được triển khai chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc và Bắc miền Trung Phẫu thuật quặm theo phương pháp Cuenod-Nataf cải biên đã được thực hiện cho hàng triệu bệnh nhân quặm tại cộng đồng Tuy nhiên cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào có hệ thống
được tiến hành để đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp, mức độ tái phát, ảnh hưởng của phẫu thuật đối với chất lượng sống của bệnh nhân, các yếu tố liên quan tới hoạt động mổ quặm tại cộng đồng
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm các mục tiêu:
1 Đánh giá kết quả của phẫu thuật quặm tại cộng đồng
2 Phân tích các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
3 Đánh giá mức độ cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật
Trang 4Chương 1 Tổng quan
1.1 Bệnh mắt hột và biến chứng lông xiêu, quặm
1.1.1 Tác nhân gây bệnh mắt hột
Bệnh mắt hột là một viêm kết giác mạc mạn tính do Chlamydia trachomatis gây ra Khi nhiễm C trachomatis tái phát nhiều lần tại kết mạc sẽ gây ra bệnh mắt hột trên lâm sàng
1.1.2 Triệu chứng lâm sàng, tiến triển và chẩn đoán bệnh mắt hột
Dấu hiệu lâm sàng chủ yếu của bệnh mắt hột hoạt tính là những hột màu trắng vàng trên kết mạc sụn mi trên Các đợt tái nhiễm kéo dài và phản ứng viêm mạnh của kết mạc sẽ dẫn đến làm sẹo kết mạc gây biến dạng sụn mi, co kéo kết mạc là nguyên nhân của lông xiêu và quặm Hậu quả là lông mi cọ xát vào giác mạc kết hợp với những cơ chế khác như khô mắt do mắt hột, bội nhiễm dẫn đến sẹo giác mạc là nguyên nhân gây mù do bệnh mắt hột
Chẩn đoán bệnh mắt hột trên lâm sàng được chia làm 5 dấu hiệu bao gồm:
- Mắt hột hột TF (follicular trachoma)
- Mắt hột viêm TI (inflammatory trachoma)
- Mắt hột sẹo TS (trachomatous scarring)
- Lông xiêu TT (trachomatous trichiasis)
- Sẹo giác mạc CO (corneal opacity)
Các xét nghiệm được sử dụng để xác định nhiễm C trachomatis gồm 4 nhóm: Nhuộm tế bào, nuôi cấy, phản ứng kháng thể huỳnh quang, tái tổng hợp axit nhân 1.1.3 Cơ chế hình thành lông xiêu và quặm trong bệnh mắt hột
- Cơ chế phát sinh quặm trong bệnh mắt hột
Hầu như tất cả các mắt sau một thời gian bị mắt hột đều có sụn mi dày lên và biến dạng Ngoài phì đại sụn mi do thâm nhiễm tế bào viêm, sụn mi trong bệnh mắt hột còn bị biến dạng, uốn cong về phía sau Cơ chế của hiện tượng biến dạng sụn mi là do sụn mi phía trước dày lên trong khi đó phần sụn mi phía sau sát với kết mạc bị teo cùng với xơ hoá và co kéo của kết mạc khi làm sẹo sau mắt hột
Trang 5- Lông xiêu và quặm trong mắt hột, phân loại
Hiện nay đa số thống nhất phân loại lông xiêu và quặm do mắt hột thành những nhóm nhỏ như sau:
+ Lông xiêu nhẹ: Có từ 1 đến 4 lông xiêu cọ sát vào bề mặt nhãn cầu hoặc có dấu hiệu nhổ lông mi dưới 1/2 chiều dài bờ mi
+ Lông xiêu nặng: Có 5 lông xiêu trở lên cọ sát vào bề mặt nhãn cầu hoặc dấu hiệu nhổ lông xiêu được phát hiện trên 1/2 chiều dài bờ mi
Tuỳ theo vị trí của lông xiêu trên bờ mi mà được phân loại thành các nhóm
+ Lông xiêu ở 1/3 trong phía mũi của bờ mi
+ Lông xiêu ở 1/3 giữa của bờ mi
+ Lông xiêu ở 1/3 ngoài phía thái dương của bờ mi
Quặm xuất hiện khi có sự thay đổi hướng của hàng chân lông mi, mắt có lông xiêu nhưng không có quặm khi tất cả các chân lông xiêu đều quan sát được ở tư thế bình thường của mi
+ Quặm nhẹ khi có ít nhất 1 chân lông mi của các lông xiêu không quan sát được + Quặm nặng khi tất cả các chân lông xiêu không quan sát được ở tư thế bình thường của mi trên
1.1.4 Tiến triển tự nhiên của lông xiêu và quặm trong bệnh mắt hột, vai trò của lông xiêu và quặm trong cơ chế gây ra mù loà
Nghiên cứu ở Gambia trên những bệnh nhân quặm từ chối mổ trong vòng 4 năm cho thấy ngay cả khi tỷ lệ mắt hột hoạt tính dưới 1%, có 29% số mắt ban đầu không có quặm xuất hiện quặm, 37% số mắt có quặm nhẹ tiến triển thành những mắt có quặm nặng Viêm kết mạc và mắt hột hoạt tính là những yếu tố phối hợp với tiến triển của quặm và sẹo giác mạc trong nghiên cứu Một nghiên cứu khác cũng tại Gambia còn cho thấy tốc độ tiến triển của quặm còn nhanh hơn nữa khi mắt hột hoạt tính có tỷ lệ cao hơn, trong vòng 1 năm theo dõi có 46% số ca quặm một mắt tiến triển thành quặm hai mắt và 33% số mắt quặm nhẹ tiến triển thành quặm nặng
1.2 Phẫu thuật điều trị lông xiêu và quặm
1.2.1 Nguyên tắc phẫu thuật điều trị lông xiêu và quặm do mắt hột
- Tách và cắt bớt cơ vòng mi nhằm làm yếu tác động của cơ
- Cắt bớt da mi, ghép kết mạc nhằm phục hồi tương quan giữa da mi và kết mạc
Trang 6- Rạch bờ tự do mi, ghép niêm mạc trong các trường hợp lông xiêu và bờ mi bị xoá
- Tác động đến sụn mi do trong mắt hột sụn mi chịu những biến đổi tương đối đặc hiệu là dày và biến dạng sụn mi
1.2.2 Các phương pháp phẫu thuật điều trị quặm
1.3 Đánh giá kết quả phẫu thuật quặm
Hiện trên thế giới chủ yếu sử dụng 3 phương pháp phẫu thuật chính là phương pháp Trabut, phương pháp xoay sụn mi và phương pháp Cuenod-Nataf cải biên
Phương pháp Cuenod-Nataf cải biên là một kỹ thuật đã được áp dụng tại Việt Nam từ năm 1966 và đã cho kết quả tốt không chỉ về chức năng và thẩm mỹ mà còn giảm tỷ
lệ biến chứng dày mi sau phẫu thuật Ưu điểm chính của phẫu thuật là tác động một cách đồng bộ lên các cơ chế khác nhau gây ra quặm trong bệnh mắt hột
1.3.1 Tỷ lệ tái phát sau mổ quặm và các yếu tố nguy cơ:
Tỷ lệ và mức độ tái phát sau mổ quặm là yếu tố quan trọng để đánh giá thành công của phẫu thuật quặm Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các phương pháp mổ đều có
tỷ lệ tái phát khác nhau và không có phương pháp nào cho kết quả 100% không có tái phát quặm sau mổ Tái phát của phẫu thuật quặm phụ thuộc vào nhiều yếu tố Tỷ lệ tái phát sau mổ theo phương pháp xoay sụn mi dao động trong khoảng từ 15,8% đến 23%, 28% và 50% với các yếu tố nguy cơ gây tái phát quặm sau mổ được tìm thấy là tình trạng viêm kết mạc, tuổi trên 45, mắt hột hoạt tính, bệnh nhân nam giới
Trong nghiên cứu này tái phát sau mổ quặm được định nghĩa khi có từ 1 lông xiêu trở lên cọ sát vào bề mặt nhãn cầu trong thời gian theo dõi
1.3.2 Các biến chứng của phẫu thuật mổ quặm
Các biến chứng của phẫu thuật quặm có thể xảy ra trước mổ, trong mổ hoặc sau mổ bao gồm:
- Chảy máu trước mổ do gây tê, trong hoặc sau mổ: mức độ thường nhẹ và dễ xử trí bằng các phương pháp cầm máu tại chỗ
- Nhiễm trùng vết mổ hoặc nặng hơn là viêm tổ chức hốc mắt
- Hở hoặc khuyết mi do phẫu thuật hoặc do tổn hại mi từ trước do bệnh mắt hột
- Độ vểnh mi không đủ hoặc quá mức
- Biến chứng viêm dày bờ mi hoặc mào sụn gặp trong phẫu thuật có cắt kết mạc như phương pháp Panas hoặc xoay sụn mi
Trang 71.4 Phân tích các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
1.4.1 Các yếu tố cản trở bệnh nhân mổ quặm
Tìm hiểu các yếu tố cản trở bệnh nhân đi mổ quặm là một trong những khâu cần khảo sát để đánh giá kết quả của hoạt động mổ quặm tại cộng đồng Thông qua các câu trả lời của bệnh nhân về lý do họ không đi mổ, các khâu của hoạt động mổ quặm có thể
được cải tiến và hoàn thiện nhằm nâng cao số lượng bệnh nhân được phẫu thuật quặm trong cộng đồng cũng như đề ra các hoạt động hỗ trợ giúp cho bệnh nhân biết đến phẫu thuật và tham gia nhiều hơn khi có đợt mổ
1.5 Đánh giá mức độ thay đổi chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật mổ quặm
1.5.1 Đánh giá thay đổi về chất lượng sống
Việc đánh giá mức độ cải thiện chất lượng sống ở các bệnh nhân mổ quặm sẽ cho phép hiểu biết rõ hơn ý nghĩa của phẫu thuật mổ quặm đối với bệnh nhân trong cuộc sống của họ, đánh giá chính xác vai trò của công tác mổ quặm
1.5.2 Đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân với phẫu thuật
Nghiên cứu các yếu tố cản trở cũng như sự hài lòng của bệnh nhân đối với phẫu thuật
sẽ cho phép đề ra những giải pháp để tăng nhanh số lượng mổ, nâng cao chất lượng phẫu thuật không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn về công tác tổ chức và hình thức thực hiện dịch vụ mổ quặm tại cộng đồng ở Việt Nam
1.6 Chương trình phòng chống bệnh mắt hột ở Việt Nam
Là một nước nằm trong vùng có bệnh dịch lưu hành, mắt hột trong nhiều năm đã từng
là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở Việt Nam Tỷ lệ bệnh mắt hột hoạt tính trong nhân dân đã giảm xuống còn 7,05% theo điều tra năm 1995 của Viện Mắt Bệnh mắt hột hiện đứng hàng thứ 4 trong số các nguyên nhân gây mù sau các bệnh đục thể thuỷ tinh, glôcôm và viêm màng bồ đào, bệnh bán phần sau Tình hình phòng chống bệnh mắt hột hiện có những đặc điểm mới bao gồm:
- Quyết tâm của Bộ Y tế và ngành Mắt Việt Nam tham gia vào chương trình "Thị giác 2020" trong đó có mục tiêu cụ thể là loại trừ bệnh mắt hột gây mù loà ở Việt Nam vào năm 2010
Trang 8- Các ổ bệnh thu gọn về quy mô, tập trung theo thôn hoặc xóm với tỷ lệ bệnh chủ yếu
là hình thái TF nhẹ không có nguy cơ tiến triển tới làm sẹo kết mạc và biến chứng lông xiêu quặm nhiều như hình thái TI Tuy nhiên ở những vùng mắt hột lưu địa cũ tỷ
lệ TT ở những người trên 35 tuổi còn cao đặc biệt ở vùng đồng bằng Bắc bộ (9% theo
điều tra gần đây của Bộ Y tế)
- Như vậy hoạt động mổ quặm sẽ là một trọng tâm của chương trình phòng chống bệnh mắt hột trong thời gian tới với số lượng cần mổ lên tới hàng trăm nghìn bệnh nhân
2.1.1 Các nơi dự định nghiên cứu và phân bố cụm nghiên cứu
Huyện Bình Lục (tỉnh Hà Nam), dân số 154,000 (21 xã) chọn 10 xã
Huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa), dân số 254,600 (41 xã) chọn 5 xã
Huyện Vĩnh Lộc (tỉnh Thanh Hóa), dân số 95,300 (16 xã) chọn 5 xã
Huyện Tam Dương (tỉnh Vĩnh Phúc), dân số 137,000 (18 xã) chọn 10 xã
2.1.2Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo kế hoạch, tổng số ca quặm sẽ được mổ trong 2 năm của chương trình tại 8 tỉnh
là 16,670 được chia ra như sau:
• Vĩnh Phúc 1,650
• Hà Nam 2,400
• Thanh Hóa 4,000
Tỷ lệ tái phát dự tính là 20% và tỷ lệ cao nhất có thể chấp nhận là 25%
Sử dụng phần mềm tính toán cỡ mẫu nghiên cứu với những giả thiết trên, số bệnh nhân cần được theo dõi là 242 ca Hiệu quả thiết kế (design effect) cần phải coi bằng 2.0 và như vậy số ca phẫu thuật cần đưa vào nghiên cứu = 484
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 92.2.1 Người tham gia nghiên cứu
Nhân lực tham gia vào nghiên cứu bao gồm các bác sỹ mắt tuyến tỉnh và tuyến huyện, cán bộ y tế xã và thôn, cán bộ phỏng vấn và cán bộ điều phối hoạt động nghiên cứu 2.2.2 Phương tiện nghiên cứu
Cho cán bộ phỏng vấn tỉnh: Phương tiện khám và đo thị lực
Trang thiết bị cho mổ quặm tại xã
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc loại mô tả tiến cứu được thiết kế cho các vấn đề sau:
1 Đánh giá kết quả của phẫu thuật quặm tại cộng đồng
Các bệnh nhân quặm trong 30 xã của nghiên cứu sẽ được mổ với phương pháp Cuenod-Nataf cải biên Vào thời điểm 1 năm sau phẫu thuật các cán bộ nghiên cứu tỉnh sẽ khám xác định các ca quặm trong số bệnh nhân nghiên cứu, mức độ quặm, các trường hợp mắc mới sẽ được phát hiện và phân tích thống kê sẽ xác định tỷ lệ tái phát quặm trong các bệnh nhân được phẫu thuật, các yếu tố liên quan với tình trạng tái phát và mắc mới
2 Các yếu tố liên quan đến hoạt động mổ quặm
Các bệnh nhân quặm sẽ được khám lâm sàng và phỏng vấn để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động mổ quặm như đặc điểm của bệnh nhân, đặc điểm lâm sàng của mắt bị lông xiêu và quặm, các yếu tố cản trở bệnh nhân đi phẫu thuật, mức độ hiểu biết của bệnh nhân và kiến thức về bệnh quặm và phương pháp điều trị Thị lực
và chức năng thị giác của bệnh nhân quặm cũng được thăm khám và theo dõi Các yếu tố khác như độ bao phủ của phẫu thuật quặm, phương thức tổ chức và thời gian
mổ cũng được xem xét và bàn luận
3 Đánh giá mức độ cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật Tất cả các bệnh nhân quặm sẽ được đo thị lực, hỏi về các hoạt động liên quan đến chức năng thị giác khác nhau của bệnh nhân để có thể đánh giá ảnh hưởng của lông xiêu và quặm tới thị lực và chức năng thị giác của các bệnh nhân quặm trước mổ Hoạt động phỏng vấn được thực hiện lại vào các thời điểm 6 tháng và 12 tháng sau
mổ quặm Thị lực bệnh nhân sẽ được đo lại vào thời điểm 1 năm sau phẫu thuật để so sánh với thời điểm trước mổ Các vấn đề liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân
Trang 10sau phẫu thuật như mức độ khó chịu do quặm gây ra, mức độ hài lòng của bệnh nhân với phẫu thuật cũng được phỏng vấn ở thời điểm 1 năm sau mổ
2.2.5 Quản lý và phân tích số liệu
Tất cả số liệu của nghiên cứu sẽ được thu thập lại bởi cán bộ phỏng vấn tỉnh và được chuyển về Hà Nội để vào số liệu Chương trình để vào số liệu là Epi - info 6 Phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS (Statistical Package for Social Studies) để tính toán các tỷ lệ, khoảng tin cậy 95%, so sánh kết quả và đánh giá nguy cơ tương đối của các yếu tố gây tái phát quặm sau mổ
2.2.6 Các phiếu mẫu nghiên cứu và quy trình thực hiện
- Phiếu mẫu nghiên cứu 1
Là phiếu mẫu khám lâm sàng mắt bị quặm trước và trong khi mổ Phiếu mẫu này
được điền khi phẫu thuật do bác sỹ phẫu thuật thực hiện
- Phiếu mẫu số 2 các trở ngại khiến cho bệnh nhân không đi mổ quặm
Phiếu mẫu số 2 được dùng để xác định các trở ngại khiến cho bệnh nhân không đi mổ quặm và mức độ kiến thức của bệnh nhân về bệnh quặm và phẫu thuật Phiếu mẫu phỏng vấn bệnh nhân quặm được phát hiện tại 30 xã vào thời điểm ban đầu
- Phiếu mẫu số 3 đánh giá chức năng thị giác của bệnh nhân quặm
Phiếu mẫu này được thực hiện bởi cán bộ nghiên cứu của tỉnh cho bệnh nhân quặm tại
30 xã lúc ban đầu nghiên cứu và 6 tháng sau phẫu thuật
- Phiếu mẫu số 4 theo dõi kết quả sau mổ quặm
Hoạt động đánh giá kết quả phẫu thuật được thực hiện vào thời điểm 1 năm sau mổ 2.2.7 Đánh giá và phân tích kết quả
Sau khi các phiếu mẫu đã được thu thập, vào số liệu và làm sạch phần mềm SPSS sẽ
được sử dụng để tính toán xác định các thông tin cần thu thập của nghiên cứu
- Phiếu mẫu nghiên cứu 1 được phân tích để tìm hiểu các thông tin liên quan đến bệnh nhân và các mắt được mổ quặm trong nghiên cứu
Trang 11- Phiếu mẫu số 2 sẽ được xử lý để có các thông tin liên quan đến các trở ngại khiến cho bệnh nhân quặm trong cộng đồng không đi mổ, hiểu biết của bệnh nhân về bệnh quặm và phẫu thuật, nguồn thông tin mà bệnh nhân đã tiếp cận
- Phiếu mẫu số 3 được thực hiện 2 lần vào thời điểm ban đầu và vào thời điểm 6 tháng sau phẫu thuật Kết quả sẽ được phân tích để đánh giá chức năng thị giác liên quan
đến chất lượng sống của bệnh nhân trước và sau mổ quặm
Nếu bệnh nhân không gặp khó khăn gì trong hoạt động với các chức năng thị giác cơ bản như nhìn xa, nhìn gần, nhìn đêm, đi lại, hoạt động thường ngày sẽ được tính +10
điểm, nếu gặp ít khó khăn được tính -5 điểm, nếu nhiều khó khăn được tính -10 điểm
và nếu không thực hiện được sẽ được tính -20 điểm Đối với các hoạt động phức tạp
đòi hỏi chức năng thị giác nâng cao về hoạt động xã hội, giải trí, xem đồng hồ đếm tiền, làm việc thì số điểm được tính tương ứng là +20, -5, -10 và -20 điểm
Tổng số điểm qua các câu hỏi được phân loại thành:
- Chức năng thị giác rất tốt khi có điểm trên 100
- Chức năng thị giác tốt khi số điểm từ 25 đến 99
- Chức năng thị giác tổn hại nhẹ khi số điểm từ -99 đến 0
- Chức năng thị giác tổn hại nặng khi số điểm nhỏ hơn -100
Phân tích kết quả về chức năng thị giác sẽ được tiến hành theo tuổi, giới và khu vực
địa lý cũng như loại tổn hại chức năng thị giác được nghiên cứu
- Phiếu mẫu nghiên cứu 4 được phân tích để có kết quả của phẫu thuật ở thời điểm 1 năm sau mổ liên quan đến tình trạng tái phát, các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ mắc mới quặm, thị lực và chức năng thị giác, tình trạng khó chịu và mức độ hài lòng của bệnh nhân sau phẫu thuật
2.3 Quy trình mổ quặm theo phương pháp Cuenod-Nataf cải biên áp dụng trong nghiên cứu
2.4 Thời gian thực hiện nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 2 năm từ tháng 6/2002 đến tháng 6/2004 2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Các hoạt động được thực hiện trong quá trình nghiên cứu đã xin phép và được Bộ Y
tế, các cấp chính quyền và nhân dân tại các xã nghiên cứu chấp nhận Bệnh nhân phẫu thuật và đưa vào theo dõi trong nghiên cứu đều có giấy chấp thuận tham gia nghiên
Trang 12cứu Các buổi phỏng vấn đều được thực hiện với sự đồng ý của bệnh nhân và người nhà trong gia đình
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Đặc điểm bệnh nhân quặm của 30 xã trong nghiên cứu
Trong số 549 bệnh nhân quặm được phát hiện tại 30 xã, 148 (27%) bệnh nhân đã
được mổ quặm còn lại 401 (73%) bệnh nhân chưa được mổ quặm, 19 người không trả lời, 382 người còn lại có các lý do bận công việc (36,6%), sợ mổ (17,3%) và đi lại (13,1%) là những nguyên nhân chính chưa đi mổ
3.1.4 Trở ngại đối với những người đã được mổ quặm trước đó
Trong số 148 người đã được phẫu thuật quặm trong quá khứ, 140 người (95%) chấp nhận mổ lại quặm trong nghiên cứu
3.1.5 Hiểu biết về bệnh quặm và phẫu thuật điều trị quặm
Trang 13Các câu hỏi về kiến thức và nguồn thông tin về bệnh trong số 401 người bị quặm chưa
được mổ tại 4 huyện trong nghiên cứu cho thấy 398 người (98%) biết rằng quặm có thể chữa được bằng phẫu thuật, 352 người (88%) biết có những người khác đã được
mổ để chữa quặm, có 320 người (80%) đã được khuyên hoặc tư vấn đi mổ quặm trong
số đó 265 người (66%) đã được cán bộ y tế tuyên truyền vận động và 55 người (14%) nhận được lời khuyên từ những trường hợp đã mổ quặm khác
3.1.6 Chức năng thị giác của bệnh nhân quặm ở thời điểm ban đầu
Chỉ có 37,7% số bệnh nhân quặm có tổn hại chức năng thị giác trong đó chỉ có 4,4%
có tổn hại chức năng thị giác nặng (điểm dưới -100) trong các xã được nghiên cứu Tổn hại chức năng thị giác nặng ở nam chiếm 39,7% so với ở nữ giới là 35,0%, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Nhóm tuổi trên 65, bệnh nhân tại Bình Lục Hà Nam có nguy cơ tổn hại chức năng thị giác cao hơn một cách có ý nghĩa so với các nhóm khác
Chức năng thị giác nhìn gần và xem ti vi là những hoạt động bị tổn hại nặng nhất xảy
ra ở 62,4% và 53,5% số bệnh nhân trong nghiên cứu
3.2 Đặc điểm bệnh nhân được phẫu thuật quặm và theo dõi
Tổng số có 471 bệnh nhân được mổ trong nghiên cứu với 655 mắt trong đó có 184 ca
được phẫu thuật hai mắt và 287 ca được phẫu thuật một mắt Có 113 bệnh nhân nam chiếm 24% và 358 bệnh nhân nữ chiếm 76% Đối chiếu với số lượng bệnh nhân được phát hiện quặm tại 30 xã của 4 huyện trong bảng 1 độ bao phủ của phẫu thuật quặm chung là 85,8% (471/549 bệnh nhân) trong đó các xã của hai huyện ở Thanh Hoá có
tỷ lệ phẫu thuật 100%, ở Hà Nam là 97,5% còn tại huyện Tam Dương của Vĩnh Phúc
tỷ lệ này chỉ đạt 58,3%
3.2.1 Đặc điểm lâm sàng các bệnh nhân được phẫu thuật quặm
Tỷ lệ mắt hột hoạt tính xuất hiện trong các bệnh nhân quặm là rất cao chiếm tới 43,5% Trong khi đó tỷ lệ mắt hột hoạt tính ở trẻ em tại các xã trong nghiên cứu chỉ
có 6,35% Có tới 71,3% số bệnh nhân quặm trong nghiên cứu có mức độ sẹo kết mạc nhẹ hoặc trung bình Chỉ có 27% số bệnh nhân có sẹo kết mạc nặng gây rút ngắn và biến dạng sụn mi Tỷ lệ sẹo giác mạc chiếm 17,6% ở mức tương ứng với tỷ lệ bệnh nhân bị mù trong nghiên cứu