Dịch tễ học bệnh viên não Nhật Bản và hiệu quả tiêm phòng vắc xin tại tỉnh Hà Nam năm 2001 - 2007
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Trang 2LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
- Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
- Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hà Nam
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Thị Thu Yến PGS TS Phan Thị Ngà
Phản biện 3: PGS TS Trịnh Thị Minh Liên
Viện các bệnh Truyền nhiễm và Nhiệt đới Quốc gia
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước
họp tại: VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG
Vào hồi: 9 giờ 00, ngày 21 tháng 12 năm 2009
CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN ÁN TẠI :
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viêm não Nhật Bản tại Việt Nam lưu hành rộng rãi ở khu vực đồng bằng, trung du Bắc bộ; Ở miền Nam số mắc ít và bệnh thường xuất hiện rải rác quanh năm Mặc dù đến nay đã có nhiều tiến
bộ trong chẩn đoán và điều trị, đặc biệt là Việt Nam đã sản xuất và
sử dụng vắc xin phòng bệnh từ năm 1995, tuy nhiên viêm não Nhật Bản vẫn là bệnh có tỷ lệ mắc, tử vong và di chứng còn rất cao Theo
số liệu của Cục Y tế dự phòng và Môi trường, Bộ Y tế thì tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản lâm sàng khu vực miền Bắc năm 2006 là 2,15/100.000 dân Vũ Đức Long nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy
tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản trung bình hàng năm giai đoạn
1990-2000 là 3,9/100.000 dân Bùi Vũ Huy nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2005 cho thấy tỷ lệ tử vong là 11,23% Phạm Văn Dịu nghiên cứu tại Thái Bình năm 2003-2007 cho thấy tỷ lệ di chứng
về tâm thần và vận động do viêm não Nhật Bản tới 61,11%
Từ trước tới nay, các nghiên cứu và can thiệp phòng bệnh viêm não Nhật Bản mới tập trung ở những vùng trọng điểm dịch, vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học và đánh giá các biện pháp đã can thiệp phòng bệnh ở các địa phương là hết sức cần thiết
Hà Nam nằm trong khu vực lưu hành bệnh viêm não Nhật Bản, vắc xin được sử dụng từ năm 1995 dưới hình thức dịch vụ, đến năm
2003 vắc xin được tiêm miễn phí trong tiêm chủng mở rộng để phòng bệnh cho nhân dân Tuy nhiên từ trước tới nay vẫn chưa có nghiên cứu đầy đủ nào về bệnh viêm não Nhật Bản tại Hà Nam, vì vậy cần tiến hành nghiên cứu, từ đó đề ra các biện pháp phòng chống bệnh tích cực và hiệu quả hơn Nghiên cứu này nhằm hai mục tiêu cụ thể:
1 Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm não Nhật Bản tại tỉnh Hà Nam, năm 2001 - 2007
2 Đánh giá hiệu quả tiêm phòng vắc xin viêm não Nhật Bản tại tỉnh Hà Nam
Trang 4NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1 Mô tả khá toàn diện, hệ thống và khoa học những đặc trưng dịch tễ học bệnh viêm não Nhật Bản ở tỉnh Hà Nam (ổ chứa vi rút, véc tơ truyền bệnh và khối cảm thụ bệnh), góp phần cập nhật, bổ
sung những tư liệu về dịch tễ học bệnh viêm não Nhật Bản ở Việt
Nam Đặc biệt là đã phát hiện tỷ lệ cao trẻ dưới 1 tuổi mắc bệnh viêm não Nhật Bản (4,47/100.000 trẻ cùng nhóm tuổi) mà những
nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến
2 Xác định tỷ lệ phân lập được vi rút viêm não Nhật Bản ở muỗi véc tơ và xác định ba chủng vi rút viêm não Nhật Bản phân lập
được từ muỗi véc tơ tại tỉnh Hà Nam thuộc genotyp 1
3 Khẳng định hiệu quả tiêm vắc xin phòng bệnh viêm não Nhật Bản bằng việc chứng minh sau tiêm vắc xin, tỷ lệ mắc bệnh đã giảm đi 2,03 lần so với giai đoạn trước tiêm vắc xin và tỷ lệ trẻ có kháng thể đủ bảo vệ ở nhóm tiêm ba liều vắc xin viêm não Nhật Bản cao gấp 8,31 lần so với nhóm chưa tiêm vắc xin Xác định mức độ tồn lưu kháng thể viêm não Nhật Bản sau tiêm ba liều vắc xin một năm, bốn năm và bảy năm Xác định ở khu vực bệnh viêm não Nhật Bản lưu hành thì thời gian tiêm vắc xin sớm hay muộn đều cho đáp ứng miễn dịch như nhau, đây là cơ sở khoa học để tuyên truyền khuyến cáo nhân dân hưởng ứng tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản với
các liều bổ sung
CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án dài 138 trang (không kể tài liệu tham khảo và phụ lục), gồm 4 chương, 34 bảng, 17 biểu đồ, 4 hình và 6 sơ đồ Đặt vấn đề 2 trang; Chương 1: Tổng quan (37 trang); Chương 2: Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu (27 trang); Chương 3: Kết quả nghiên cứu (37 trang); Chương 4: Bàn luận (32 trang); Kết luận 2 trang; Kiến nghị 1 trang Tài liệu tham khảo: 137 tài liệu tham khảo;
10 phụ lục
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm vi rút viêm não Nhật Bản
Vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) là vi rút Arbo, họ
Flaviviridae, chi Flavivirus, có cấu trúc lõi là ARN sợi đơn, thuộc
phân nhóm vi rút Tây sông Nil (West Nile), nhóm vi rút Tây sông Nil gồm những vi rút gây hội chứng viêm não cấp tính Các nghiên cứu về vi rút học cho thấy vi rút viêm não Nhật Bản có một typ huyết thanh duy nhất, nhưng có năm genotyp Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỷ XX chỉ có vi rút viêm não Nhật Bản genotyp 3 lưu hành, song các nghiên cứu gần đây cho thấy genotyp
1 đã xuất hiện ở một số tỉnh cả miền Bắc, miền Trung, miền Nam
và Tây nguyên Ở Hà Nam, cho đến nay chưa có công bố nào về sự lưu hành của vi rút viêm não Nhật Bản genotyp 1, vì vậy cần tiến hành nghiên cứu về vi rút viêm não Nhật Bản ở Hà Nam
1.2 Đặc điểm lâm sàng bệnh viêm não Nhật Bản
Thể điển hình có biểu hiện của viêm não-màng não cấp tính: Sốt cao đột ngột, nhức đầu, đau cơ, buồn nôn, nôn; Tiếp theo có biểu hiện rối loạn ý thức, rối loạn vận động và rối loạn hô hấp Chẩn đoán xác định dựa vào xét nghiệm MAC-ELISA phát hiện kháng thể IgM
từ bệnh phẩm là dịch não-tủy hoặc huyết thanh người bệnh lấy trong những ngày đầu của bệnh
bò, heo, dê, chó, vịt, cò trắng, còng cọc, ếch, rắn, chuột, thỏ; Trong
đó tỷ lệ dương tính cao nhất là ở heo (90,0%)
Trang 6Có trên 30 loài muỗi có khả năng truyền vi rút viêm não Nhật
Bản, trong đó muỗi Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui là véc
tơ có khả năng truyền bệnh cao nhất Vi rút viêm não Nhật Bản lây truyền qua muỗi véc tơ hút máu súc vật, do đó những động vật hoang dại và động vật nuôi trong nhà là vật chủ chính; Chu trình chim-muỗi cũng quan trọng trong việc duy trì và phát triển vi rút trong tự nhiên Người là vật chủ cuối, không có sự lây truyền vi rút viêm não Nhật Bản từ người bị nhiễm vi rút sang người cảm nhiễm khác qua muỗi véc tơ Tất cả mọi lứa tuổi nếu chưa có kháng thể miễn dịch đặc hiệu
đều có thể mắc bệnh viêm não Nhật Bản, tuy nhiên ở vùng có bệnh
lưu hành địa phương thì trẻ em bị mắc bệnh là chủ yếu
1.4 Các biện pháp phòng chống bệnh viêm não Nhật Bản
Về nguyên tắc, phải phối hợp các biện pháp để cắt đứt một trong
ba mắt xích của quá trình dịch là: Ổ chứa vi rút, véc tơ truyền bệnh và khối cảm thụ bệnh Tuy nhiên, bệnh viêm não Nhật Bản có ổ chứa vi rút bán thiên nhiên và muỗi véc tơ truyền bệnh là các loài muỗi đồng ruộng, nên biện pháp tác động vào ổ chứa vi rút và véc tơ truyền bệnh đạt hiệu quả thấp Vì vậy phòng bệnh cho người cảm nhiễm là biện pháp đạt hiệu quả cao, trong đó tiêm vắc xin là biện pháp có hiệu quả nhất Vắc xin viêm não Nhật Bản hiện nay được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là vắc xin bất hoạt chế từ não chuột Vắc xin này đã được sử dụng ở Nhật Bản từ năm 1954, sau đó là các nước: Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam và được chứng minh
là có hiệu lực bảo vệ cao và an toàn cho người sử dụng Yang S.E và cộng sự theo dõi từ năm 1970 đến 2000, cho thấy hiệu quả bảo vệ ở nhóm tiêm ba liều vắc xin là 98,51% Việt Nam đã sản xuất thành công vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt chế từ não chuột và triển khai tiêm phòng bệnh cho nhân dân từ năm 1993 đến nay, hiệu quả bảo vệ sau tiêm hai liều vắc xin là 97,9% (Nguyễn Thu Yến, nghiên cứu tại Gia Lương, Bắc Ninh – 2005) và sau tiêm ba liều vắc xin là 98,6% (Phan Thị Ngà nghiên cứu tại Bắc Giang, Hà Tây và Thanh Hóa - 2007) Muốn đánh giá hiệu quả tiêm phòng vắc xin thì cần điều tra thu
Trang 7thập đầy đủ các trường hợp mắc bệnh Đây là việc làm khó, vì bệnh nhân thường được chuyển vượt tuyến trên để điều trị Nghiên cứu này góp phần cập nhật bản đồ dịch tễ bệnh viêm não Nhật Bản và góp phần đánh giá hiệu quả tiêm phòng vắc xin ở Việt Nam
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa bàn và thời gian nghiên cứu
- Điều tra bệnh nhân viêm não Nhật Bản tại Bệnh viện Nhi
Trung ương, Bệnh viện Đa khoa tỉnh và các bệnh viện huyện, thành phố của tỉnh Hà Nam Thời gian từ tháng 1/2001 đến tháng 12/2007
- Điều tra sự lưu hành của vi rút viêm não Nhật Bản ở lợn và muỗi véc tơ tại ba điểm đại diện: Xã Hưng Công (huyện Bình Lục) đại diện cho vùng nông thôn đồng bằng, xã Tân Sơn (huyện Kim Bảng) đại diện cho vùng núi bán sơn địa và xã Liêm Chính (thành phố Phủ L ý) đại diện cho vùng ven thành phố Thời gian điều tra từ tháng 4/2006 đến tháng 3/2007 Phân lập vi rút viêm não Nhật Bản từ muỗi véc tơ vào tháng 9/2005, tháng 4, 5, 6, 7/2006 và tháng 4, 5/2007
- Điều tra đánh giá hiệu quả tiêm phòng vắc xin trên phạm vi toàn tỉnh Hà Nam, thời gian từ tháng 1/2001 đến tháng 12/2007 Điều tra tồn lưu kháng thể sau tiêm vắc xin tại bốn xã, phường: Liêm Chính, Liêm Chung, Lam Hạ và Hai Bà Trưng thuộc thành phố Phủ Lý; Thời gian vào tháng 11 và tháng 12 năm 2006
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ dân cư hiện đang sinh sống và
làm việc tại tỉnh Hà Nam, trong đó nhóm trọng điểm là các trường hợp mắc hội chứng viêm não vi rút; Các cá thể muỗi, lợn nhà trên bốn tháng tuổi tại các điểm nghiên cứu; Toàn bộ trẻ em dưới 15 tuổi
từ năm 2001 đến 2007; 182 trẻ từ 1 đến 15 tuổi đã được tiêm đúng ba liều vắc xin viêm não Nhật Bản vào các năm 1999, 2002, 2005 và 60 trẻ cùng độ tuổi nhưng chưa được tiêm vắc xin làm nhóm chứng
2.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
Các dụng cụ lấy mẫu máu, chẩn đoán bệnh nhân, giám sát và định loại muỗi; Hồ sơ bệnh án, phiếu điều tra bệnh nhân; Phiếu, sổ, báo cáo tiêm chủng Vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt từ não chuột
Trang 8của Công ty Vắc xin và Sinh phẩm Y tế số 1 - Bộ Y tế sản xuất Các mẫu dịch não-tủy hoặc huyết thanh người bệnh; Các mẫu huyết thanh trẻ 1-15 tuổi khỏe mạnh đã tiêm ba liều vắc xin và chưa tiêm vắc xin;
Các mẫu huyết thanh lợn; Muỗi Culex tritaeniorhynchus và Culex vishnui Dụng cụ, hóa chất, sinh phẩm phục vụ cho xét nghiệm
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang,
hồi cứu và tiến cứu áp dụng cho mục tiêu thứ nhất Nghiên cứu can thiệp cộng đồng, tự đối chứng trước tiêm vắc xin và sau tiêm vắc xin
áp dụng cho mục tiêu thứ hai
2.4.2 Điều tra trường hợp bệnh viêm não Nhật Bản
Phối hợp với các khoa truyền nhiễm của Bệnh viện Đa khoa tỉnh, bệnh viện đa khoa các huyện, thành phố và Bệnh viện Nhi Trung ương để điều tra, thu thập các trường hợp bệnh Chẩn đoán xác định viêm não Nhật Bản dựa theo tiêu chuẩn tại Quyết định số 1865/1999/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 1999 của Bộ Y tế (bệnh nhân mắc hội chứng viêm não cấp, xét nghiệm MAC-ELISA dương tính với viêm não Nhật Bản từ dịch não-tủy hoặc huyết thanh)
2.4.3 Điều tra và lấy mẫu máu lợn
Cỡ mẫu: 1.791 mẫu huyết thanh lợn, được tính theo công thức tính
cỡ mẫu điều tra cắt ngang Chọn mẫu: Tại mỗi vùng chọn ngẫu nhiên một xã, tại mỗi xã (Hưng Công, Tân Sơn, Liêm Chính) chọn ngẫu nhiên một thôn, tại từng thôn mỗi tháng lấy 50 mẫu huyết thanh lợn; mỗi mẫu lấy 2 ml ở tai lợn, chắt huyết thanh bảo quản lạnh để xét nghiệm Thời gian thu thập mẫu vào giữa tháng, liên tục trong 12 tháng
2.4.4 Điều tra muỗi véc tơ
Cỡ mẫu: 30 hộ gia đình/đêm x 3 đêm x 3 điểm x 12 tháng = 3.240 lượt hộ gia đình Điều tra ban đêm, mỗi tháng một lần vào giữa tháng, kỹ thuật điều tra theo thường quy của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương Định loại muỗi tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hà Nam Muỗi đem phân lập vi rút được chia thành các mẫu, mỗi mẫu khoảng 50 cá thể muỗi
Trang 92.4.5 Điều tra, đánh giá hiệu quả tiêm phòng vắc xin
Cách tiêm vắc xin: Tiêm dưới da, gây miễn dịch cơ bản hai liều cách nhau bảy ngày, một năm sau liều thứ hai thì tiêm liều thứ ba, sau đó nếu có điều kiện thì cứ ba đến năm năm tiêm nhắc lại một liều Điều tra kết quả tiêm vắc xin: Dựa vào sổ tiêm chủng, phiếu tiêm chủng, báo cáo kết quả tiêm chủng và điều tra thực tế
- Đánh giá hiệu quả tiêm vắc xin: Đánh giá sự giảm tỷ lệ mắc bệnh tương ứng với sự tăng tỷ lệ tiêm vắc xin hàng năm và sự giảm
tỷ lệ mắc bệnh giai đoạn sau tiêm vắc xin so với trước tiêm vắc xin
- Đánh giá mức độ tồn lưu kháng thể viêm não Nhật Bản sau tiêm vắc xin: Cỡ mẫu điều tra theo mẫu chùm là 182 trẻ từ 1-15 tuổi
đã được tiêm đúng ba liều vắc xin, số trẻ này được chia đều thành ba nhóm: Nhóm tiêm năm 1999, 2002 và 2005; Đồng thời điều tra 60 trẻ chưa được tiêm vắc xin làm nhóm chứng Ở mỗi nhóm đều có trẻ
ở phân nhóm 1-4 tuổi, 5-9 tuổi, 10-15 tuổi Mỗi trẻ lấy 2 ml máu tĩnh mạch, chắt huyết thanh, bảo quản lạnh và xét nghiệm xác định hiệu giá kháng thể trung hòa kháng viêm não Nhật Bản
2.4.6 Các kỹ thuật xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu
- Kỹ thuật MAC-ELISA để chẩn đoán xác định bệnh nhân, kỹ thuật ngăn ngưng kết hồng cầu và MAC-ELISA xác định sự lưu hành của vi rút trong quần thể lợn; Nuôi cấy phân lập vi rút và phản ứng chuỗi polymeraza-sao chép ngược (RT-PCR) để xác định sự lưu hành của vi rút trong muỗi véc tơ và genotyp vi rút; Kỹ thuật trung hòa giảm đám hoại tử để đánh giá sự tồn lưu kháng thể sau tiêm vắc xin Các kỹ thuật xét nghiệm được thực hiện theo thường quy tại Phòng thí nghiệm vi rút Arbo/Viêm não Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương
- Hiệu giá kháng thể trung hòa viêm não Nhật Bản được xác định còn khả năng bảo vệ ở độ pha loãng huyết thanh lớn hơn 1/10 còn khả năng làm giảm 70% số đám hoại tử (tương đương giá trị logarit > 1)
2.4.7 Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê y học: Epi-info 6.04
và SPSS 11.5 để nhập và xử lý số liệu
Trang 10Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm não Nhật Bản
3.1.1 Đặc điểm phân bố bệnh nhân viêm não Nhật Bản
3.1.1.1 Kết quả điều tra bệnh nhân viêm não Nhật Bản
1,34 1,61
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ mắc và tử vong do viêm não Nhật Bản theo năm
Trong bảy năm thu thập được 160 bệnh nhân mắc hội chứng viêm não vi rút, tất cả đều được lấy dịch não-tủy hoặc huyết thanh để xét nghiệm MAC-ELISA chẩn đoán xác định; Kết quả có 67 trường hợp được xác định mắc viêm não Nhật Bản, tỷ lệ xét nghiệm dương tính trung bình ở mức cao (41,9%)
Biểu đồ 3.1 cho thầy, từ năm 2001 đến 2007, năm nào cũng có bệnh nhân xảy ra Tỷ lệ mắc mới trung bình hàng năm là 1,17/100.000 dân, cao nhất vào năm 2001, sau đó giảm dần đến năm
2004 với tỷ lệ mắc 0,61/100.000 dân, tăng lên vào năm 2005, sau đó lại giảm dần vào các năm 2006, 2007 Sự khác nhau về tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản giữa các năm là có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)
Tỷ lệ tử vong do viêm não Nhật Bản dao động từ 0 đến 0,25/100.000 dân tùy theo từng năm, trung bình là 0,10/100.000 dân
Số tử vong trên mắc là 6/67, chiếm 8,96% Sự khác nhau về tỷ lệ tử vong qua các năm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
3.1.1.2 Phân bố bệnh viêm não Nhật Bản theo huyện, thành phố
Bệnh viêm não Nhật Bản xảy ra ở tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh Số mắc hàng năm trong từng huyện không nhiều, thường chỉ có một vài trường hợp mắc, có năm không có trường hợp nào
Trang 11
Biểu đồ 3 2 Tỷ lệ mắc và tử vong do viêm não Nhật Bản theo huyện
Biểu đồ 3.2 cho thấy giai đoạn 2001-2007, huyện có tỷ lệ mắc cao nhất là Duy Tiên, tiếp theo là Thanh Liêm, Bình Lục, Kim Bảng, Lý Nhân, thành phố Phủ Lý Tỷ lệ tử vong thấp nhất là Lý Nhân (0 trường hợp), cao nhất là Thanh Liêm (0,21/100.000 dân) Tuy nhiên sự khác nhau về tỷ lệ mắc và tử vong do viêm não Nhật Bản giữa các huyện không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
3.1.1.3 Phân bố bệnh viêm não Nhật Bản theo vùng sinh thái
Tỉnh Hà Nam có ba vùng sinh thái, vùng nông thôn đồng bằng gồm các huyện: Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên; Vùng miền núi bán sơn địa có hai huyện: Kim Bảng và Thanh Liêm; khu vực thành phố
là thành phố Phủ Lý Tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản/100.000 dân ở vùng nông thôn đồng bằng, miền núi bán sơn địa, thành phố lần lượt
là 1,14; 1,24; 0,77; Tỷ lệ tử vong trên 100.000 dân lần lượt là: 0,06; 0,16; 0,19 Sự khác nhau về tỷ lệ mắc và tử vong do VNNB giữa các khu vực không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
3.1.1.4 Phân bố bệnh viêm não Nhật Bản tại Hà Nam theo tháng
Biểu đồ 3 4 Tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản theo tháng, 2001 - 2007
1,48 1,52
0,9 1,09
0,19 0,11
0,21 0,11
TP Phủ Lý Huyện
Trang 12Biểu đồ 3.4 cho thấy, bệnh viêm não Nhật Bản tập trung chủ yếu vào tháng 5 (23/67 trường hợp) và tháng 6 (32/67 trường hợp), đỉnh cao là tháng 6 Các tháng khác chỉ một hoặc hai trường hợp mắc
3.1.1.5 Phân bố bệnh viêm não Nhật Bản theo tuổi và giới tính
Bệnh chủ yếu ở trẻ dưới 15 tuổi (66/67 trường hợp, 98,51%) Số mắc giai đoạn 2001 - 2007 tương ứng ở các nhóm: Dưới 1 tuổi, 1-4 tuổi, 5-9 tuổi, 10-14 tuổi và ≥ 15 tuổi lần lượt là 4, 18, 27, 17 và 1 trường hợp; Tỷ lệ mắc/100.000 trẻ ở các nhóm tuổi thể hiện ở biểu đồ 3.5 Đáng chú ý, trẻ dưới 1 tuổi có tỷ lệ mắc cao (4,47/100.000 trẻ cùng nhóm tuổi)
Trong số 67 trường hợp mắc, nam giới có 47 (70,15%), nữ giới
có 20 trường hợp (29,85%); Tỷ số mắc nữ/nam là 1: 2,35
Biểu đồ 3 5 Tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản /100.000 trẻ theo
nhóm tuổi, 2001-2007
3.1.1.6 Kết quả điều trị bệnh nhân viêm não Nhật Bản
Bảng 3 1 Kết quả điều trị bệnh nhân viêm não Nhật Bản tại Hà Nam
Di chứng Kết quả
điều trị Khỏi
Tử vong Thần
kinh
Tâm thần
Cả thần kinh và tâm thần
Tổng số
di chứng
Tổng số mắc
Số
Tỷ lệ% 67,16 8,96 4,48 10,45 8,96 23,88 100
Số tử vong trên mắc do viêm não Nhật Bản là 6/67 (8,96%), số
có di chứng tâm thần và hoặc thần kinh là 16/67 (23,88%)
2,77
0,024 5,0
Trang 133.1.2 Kết quả điều tra sự lưu hành của vi rút viêm não Nhật Bản
ở quần thể lợn
Bảng 3.10 Tỷ lệ phát hiện kháng thể ngăn ngưng kết hồng cầu ở lợn
theo tháng, toàn tỉnh Hà Nam, 2006-2007
Tháng Số xét nghiệm Số dương tính Tỷ lệ % dương tính
Bảng 3 12 Tỷ lệ phát hiện kháng thể IgM kháng viêm não Nhật Bản
ở lợn bằng kỹ thuật MAC-ELISA, Hà Nam, 2006-2007
Tháng Số xét nghiệm Số dương tính Tỷ lệ % dương tính