Cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông Hà Nội Thực trạng và giải pháp can thiệp
Trang 1Các chữ viết tắt
CĐCSNT Cường độ chiếu sáng nhân tạo
CĐCSTN Cường độ chiếu sáng tự nhiên
GV/NVYTTH Giáo viên/Nhân viên y tế trường học
TTNH Tư thế ngồi học
Trang 2Đặt vấn đề
Cong vẹo cột sống (CVCS) ở học sinh từ lâu đã là vấn đề sức khoẻ ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nguồn nhân lực trong tương lai Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến việc chăm sóc phát triển thể lực cho thế hệ trẻ nói chung, cho trẻ em lứa tuổi học sinh nói riêng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến thực trạng vệ sinh trường học, các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ học sinh nói chung, CVCS học đường nói riêng nhưng còn ít các nghiên cứu kết hợp cả điều tra thực trạng
và thực nghiệm tại cộng đồng Đây là cơ sở khoa học của đề tài luận án:“Cong vẹo cột sống ở học sinh phổ thông
Hà Nội: Thực trạng và giải pháp can thiệp”
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng mắc CVCS ở nhóm học sinh thuộc 4 khối lớp (1, 5, 9 và 12) tại 12 trường phổ thông của thành phố Hà Nội năm học 2004-2005
2 Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến CVCS ở học sinh phổ thông tại các địa bàn nghiên cứu
3 Thử nghiệm một số biện pháp phòng tránh CVCS cho học sinh trong 2 năm học (2005 - 2006, 2006 - 2007) và
đề xuất giải pháp can thiệp phòng tránh CVCS học đường
Các đóng góp mới của luận án
1 Cập nhật số liệu CVCS ở học sinh phổ thông Hà Nội năm học 2004-2005: tỷ lệ mắc không cao như các số liệu
đã công bố nhưng CVCS ở học sinh vẫn là vấn đề sức khoẻ đáng quan tâm Tỷ lệ mắc CVCS chung là 18,9%; trong đó, học sinh nam là 49,9%, nữ là 50,1% (p>0,05), cấp tiểu học là 17,4%, cấp THCS là 22,2% và cấp PTTH
là 18,8% (p<0,001) Nhóm có độ vẹo dưới 50 chiếm 93,5%, đáp ứng tốt với bài thể dục vận động cột sống và hệ cơ - xương
2 97,3% học sinh ngồi học sai tư thế tại lớp 11/12 trường sử dụng bàn ghế không phù hợp với tầm vóc học sinh Kiến thức và thực hành phòng tránh CVCS của 3 nhóm đối tượng học sinh, cha mẹ học sinh và thầy cô giáo đều thiếu hụt
3 Các biện pháp can thiệp đã thử nghiệm đơn giản, dễ áp dụng cho HS tiểu học, gồm: (1) Truyền thông - giáo dục về CVCS, uốn nắn tư thế ngồi học; (2) Cải tạo bàn ghế; (3) áp dụng bài thể dục vận động cột sống, phòng chống mệt mỏi Bước đầu các biện pháp can thiệp đã có tác động tích cực đến nhúm HS can thiệp Lần đầu tiên,
Tiêu chuẩn TCVN 7490:2005 về: “Bàn ghế học sinh tiểu học và THCS - Yêu cầu về kích thước cơ bản theo chỉ số nhân trắc của học sinh đã được áp dụng trong nghiên cứu
Cấu trúc luận án:
Luận án dày 143 trang không kể phụ lục, gồm 4 chương, 47 bảng, 9 biểu đồ, 1 hình, 159 tài liệu tham khảo trong, ngoài nước và phụ lục Bố cục luận án gồm: đặt vấn đề 2 trang, tổng quan 22 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 24 trang, kết quả 45 trang, bàn luận 46 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang, 4 bài báo có nội dung liên quan với luận án đã được đăng trên Tạp chí Y học thực hành
Chương 1 Tổng quan
1.1 Cong vẹo cột sống và ảnh hưởng của CVCS
Khái niệm về CVCS (Scoliosis): CVCS là tình trạng cột sống bị nghiêng, lệch về một phía, hoặc bị cong về phía trước hay phía sau và không còn giữ được các đoạn cong sinh lý như bình thường của nó vốn có
CVCS được chia làm 2 loại: (1) CVCS bẩm sinh, là CVCS xuất hiện ngay từ khi em bé sinh ra; (2) CVCS mắc phải, còn gọi là CVCS thứ phát, là CVCS xuất hiện trong quá trình sống và hoạt động Theo hình thái có: CVCS hình chữ C thuận, C ngược, S thuận, S ngược, gù, còng, ưỡn và bẹt Theo mức độ xoáy vặn cột sống, chia ra: mức
độ I (độ xoáy vặn từ 0,10 đến dưới 0,50, còn gọi là CVCS cơ năng độ 1; mức độ II (độ xoáy vặn từ 0,50 đến dưới 3,00, còn gọi là CVCS cơ năng độ 2); mức độ III (độ xoáy vặn từ 3,00 đến dưới 5,00, còn gọi là CVCS cơ năng độ 3); mức độ IV (độ xoáy vặn từ 50 trở lên, còn gọi là CVCS thực thể) CVCS mức độ IV được chia ra 3 loại: CVCS loại nhẹ, có độ xoáy vặn từ 50 đến dưới 100, CVCS loại trung bình, có độ xoáy vặn từ 100 đến 150 và CVCS loại nặng, có độ xoáy vặn từ 150 trở lên
1.2 Cong vẹo cột sống học đường: CVCS học đường do các yếu tố ảnh hưởng từ môi trường học tập gây ra
Nguyên nhân trực tiếp gây CVCS ở học sinh là bàn ghế sai quy cách, tư thế ngồi học sai Ngoài ra, các yếu tố sức khoẻ và thể lực; mang vác, lao động nặng khi còn nhỏ tuổi cũng là những yếu tố thuận lợi, là nguyên nhân gián tiếp gây CVCS ở học sinh
1.3 CVCS học đường nhìn nhận từ góc độ dịch tễ học: Tìm kiếm nguyên nhân gây CVCS học đường không
phải lúc nào cũng thành công Môi trường sống, sinh hoạt, làm việc và học tập có nhiều tác động xấu đến con người Trong dịch tễ học các bệnh không nhiễm trùng người ta thường tìm đến các yếu tố căn nguyên, xem đó như là nguy cơ gây bệnh CVCS học đường được xếp vào nhóm các bệnh có căn nguyên đa yếu tố Vai trò cuả
Trang 3các yếu tố căn nguyên gây CVCS ở học sinh cho đến nay chưa được nghiên cứu nhiều Tuy nhiên, qua các thời gian nghiên cứu khác nhau nhiều tác giả đi đến thống nhất rằng nguyên nhân chủ yếu gây CVCS ở học sinh là bàn ghế sử dụng không phù hợp với tầm vóc
1.4 Điểm qua các nghiên cứu về CVCS học đường và yếu tố ảnh hưởng
1.4.1 ở ngoài nước: CVCS đã được phát hiện và điều trị rất sớm, nhưng đến Thế kỷ XVIII - XIX mới tìm ra
nguyên nhân và bệnh sinh của CVCS nguyên phát ở trẻ em Trong một vài thập niên cuối của Thế kỷ XX các nghiên cứu về CVCS ở trẻ em tuổi học sinh được nhiều người đề cập CVCS ở học sinh cũng rất khác nhau tại mỗi khu vực Tuy nhiên, các tỷ lệ này rất thấp (chỉ từ 0,2% đến 8,3%), ngoại trừ vùng Philadenphia (29,5%) Ngay từ đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy CVCS có liên quan với bàn ghế học sinh sai quy cách, tư thế ngồi học sai, sự rối loạn phát triển thể chất (còi xương, suy dinh dưỡng) Nhiều nghiên cứu cho rằng cặp sách học sinh cũng là một trong những nguyên nhân gây sự mệt mỏi hệ cơ - xương và có mối liên quan với hiện tượng đau lưng ở học sinh
1.4.2 ở Việt Nam: CVCS ở học sinh có sự khác nhau qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung luôn cao (từ 14,0% đến
32,0%)
Thực trạng vệ sinh - y tế trường học trong thời gian qua
Theo các báo cáo của Bộ Y tế và một số cuộc khảo sát về VS - TYTH, vệ sinh - y tế tại nhiều trường chưa đạt yêu cầu Trong đó, 75% số trường chưa đạt tiêu chuẩn về CSTN và 45% chưa đạt yêu cầu về CSNT ở Hải Phòng, chỉ có 64% số trường ở nội thành và 69% số trường ở ngoại thành đạt tiêu chuẩn về chiếu sáng ở Hà Nội, chỉ có 91% số trường đạt tiêu chuẩn về chiếu sáng Bàn ghế học sinh là vấn đề nan giải nhất hiện nay: không
đúng kích thước, không phù hợp với tầm vóc và sắp xếp chưa hợp lý trong lớp học Các văn bản quản lý Nhà nước về VS - YTTH đã có khá nhiều nhưng thực chất chưa được áp dụng một cách nghiêm túc
Chương 2 Đối tượng, phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 2771 học sinh thuộc 4 khối lớp (1, 5, 9 và 12) được khám và đo độ xoáy vặn cột
sống; 910 HS, 107 GV/NVYTTH và 771 CM học sinh được phỏng vấn, 76 lớp học được khảo sát
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu: 12 trường phổ thông tại 4 bàn quận/huyện của Hà Nội, gồm Hai Bà Trưng, Cầu Giấy,
Gia Lâm và Sóc Sơn
2.2 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10/2004 đến tháng 5/2007
2.3 Lực lượng nghiên cứu chủ yếu: được tập hợp từ Khoa YTCC, trường ĐH Y Hà Nội, Khoa Sức khoẻ trường
học, Viện YHLĐ, Trung tâm Nghiên cứu giáo viên, trường ĐH Sư phạm Hà Nội
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Nghiên cứu mô tả
2.4.1.1 Thiết kế nghiên cứu mô tả: điều tra mô tả cắt ngang xác định tỷ lệ hiện mắc CVCS ở học sinh và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu
2.4.1.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
n = Z2 (1- α /2)
2
d
DE p) -.(1 p
Trong đó: n là cỡ mẫu cần thiết tại mỗi địa bàn; Z(1- α /2) là hệ số tin cậy (ở mức xác suất α = 0,05) = 1,96; d là
độ rộng của khoảng tin cậy = 0,05 (với độ chính xác là 95%); p là tỷ lệ học sinh mắc CVCS được tham khảo từ nghiên cứu gần đây nhất vào năm 2001 tại Hà Nội = 0,3; DE (Design Effect) là hệ số điều chỉnh = 1,3
Sơ đồ chọn mẫu nghiên cứu mô tả:
Hà Nội
Chọn ngẫu nhiên mỗi quận/huyện 1 trường TH, 1 trường THCS
và 1 trường PTTH
Tại mỗi trường chọn số lớp ở mỗi khối nghiên cứu (bắt đầu từ lớp A)
lấy đủ cỡ mẫu nghiên cứu của mỗi khối lớp là 104 học sinh
Chọn chủ đích 4 khối lớp: khối 1, khối 5, khối 9 và khối 12
Trang 42.4.2 Nghiên cứu can thiệp:
2.4.2.1 Thiết kế nghiên cứu can thiệp:
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu can thiệp:
2.4.2.2 Chọn mẫu, cỡ mẫu, địa điểm và thời gian can thiệp: dựa trên kết quả nghiên cứu mô tả, điều tra về
CVCS ở học sinh năm học 2004-2005 Nhóm can thiệp gồm toàn bộ 113 học sinh khối lớp 1 năm học 2004-2005 của trường tiểu học Cổ Bi (nhóm có tỷ lệ mắc CVCS cao nhất trong năm học 2004-2005) và 113 cha mẹ học sinh khối này Nhóm đối chứng gồm toàn bộ 108 học sinh khối lớp tương ứng của trường tiểu học Đặng Xá (trường liền kề với Cổ Bi) và 108 cha mẹ học sinh khối này Hoạt động can thiệp được tiến hành trong 2 năm học
2005-2006 và 2005-2006-2007 (từ tháng 10/2005 đến tháng 5/2007)
2.4.2.3 Nội dung can thiệp: cải tạo bàn ghế và chiếu sáng lớp học; truyền thông - giáo dục về CVCS và BPPT
cho HS, CM và GV; hướng dẫn uốn nắn tư thế ngồi học cho HS tại lớp; hướng dẫn bài thể dục vận động hệ cơ - xương, phòng chống mệt mỏi và các hoạt động hỗ trợ khác
2.4.2.4 Phương pháp đánh giá can thiệp: so sánh trước - sau can thiệp và so sánh đối chứng
2.4.3 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu:
- Khám sàng lọc, xác định số học sinh mắc CVCS: khám cột sống; đo độ xoáy vặn cột sống bằng thước
Scoliosis Meter
- Khảo sát lớp học: đo bàn ghế học sinh; đo CĐCSTN, CĐCSNT, HSCS lớp học; quan sát hệ thống đèn; quan sát
TTNH của HS tại lớp
- Điều tra KAP: phỏng vấn về kiến thức và thực hành phòng tránh CVCS bằng bảng hỏi với các câu hỏi được
chuẩn bị trước
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Kết quả điều tra thực trạng mắc CVCS ở học sinh:
3.1.1 Tỷ lệ mắc CVCS chung: 18,9%; theo giới tính, nam là 49,9%, nữ là 50,1%; sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p>0,05); theo địa bàn, quận HBT là 14,5%, quận Cầu Giấy là 18,0%, huyện Sóc Sơn là 19,7% và huyện Gia Lâm là 23,7% (p<0,05); theo khối lớp, khối 1 là 17,0%, khối 5 là 17,6%, khối 9 là 22,2% và khối 12 là 18,8%; theo cấp học, TH là 17,4%, THCS là 22,2% và PTTH là 18,8%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001)
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ học sinh mắc CVCS theo địa bàn nghiên cứu
3.1.2 Tỷ lệ mắc CVCS theo hình dáng và mức độ vẹo cột sống: tỷ lệ mắc vẹo chữ Ct là 70,5%, vẹo chữ Cn là
28,8% và vẹo chữ St là 0,8%, không có trường hợp nào mắc vẹo chữ Sn; theo mức độ xoáy vặn cột sống, chủ yếu gặp loại CVCS dưới 50 (93,5%); loại CVCS từ 5,00 đến d i 100 chỉ chiếm 6,5%; không phát hiện được trường hợp nào có độ vẹo từ 100 trở lên
3.2 Kết quả khảo sát chiều cao - cõn nặng, điều kiện VSTH và KAP:
3.2.1 Kết quả khảo sát chiều cao - cõn nặng của học sinh:
Đối
tượng
n/cứu
Nhóm đối chứng (trường
TH Đặng Xá)
Không can thiệp
Nhóm can thiệp (trường TH Cổ Bi)
Tổ chức can thiệp trong 2 năm học
Đánh giá kết quả:
• So sánh trước - sau can thiệp
• So sánh đối chứng
10 5
15 2
11 6
3 2 7
8 3
2 0 2 0 2 2 1
16 6
2 3 6
2 1 1
2 7 5
2 3 4
13 4
2 2 2
16 5
0
5
10
15
20
25
30
35
Tỷ lệ
HBT Cõ̀u Giṍy Sóc Sơn Gia Lõm
Trang 5Chiều cao TB của HS khối 1: nam là 114,3±5,5cm, nữ là 114,1±6,5cm; khối 5: nam là 131,5±8,1cm, nữ là 131,9±9,6cm; khối 9: nam là 156,2±9,0cm, nữ là 151,9±6,3cm và khối 12: nam là 166,6±6,0cm, nữ là 155,2±5,7cm
Cân nặng TB của HS khối 1: nam là 19,5±3,8kg, nữ là 19,0±4,6kg; khối 5: nam là 27,4±6,8kg, nữ là 26,4±6,1kg; khối 9: nam là 42,9±9,6kg, nữ là 41,1±7,2kg và khối 12: nam là 52,7±7,3kg, nữ là 45,2±5,8kg
3.2.2 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu VSTH:
Điều kiện VSTH: điều kiện vệ sinh chung của 12 trường đều đạt yêu cầu; 100% số trường có nước uống, nước
rửa tay cho học sinh, có đủ nhà tiểu, nhà tiêu; 100% số trường có nguồn nước sinh hoạt là nước máy (ở nội thành)
và nước giếng khoan/giếng khơi (ở ngoại thành)
100% số trường có diện tích TB/lớp học đạt yêu cầu Tuy nhiên, do thiếu lớp học nên học sinh các khối lớp khác nhau phải ngồi chung một phòng học theo ca rất phổ biến Lớp học không có chỗ để cặp sách nên học sinh phải để cặp sách sau lưng, ngay trên ghế ngồi
Chiếu sáng lớp học: về HSCSTN, tất cả 76 lớp học đều thấp hơn so với tiêu chuẩn, CĐCSNT nhìn chung đạt yêu
cầu; riờng trường TH Đức Hoà chỉ đo được 54 lux
Kết quả khảo sát bàn ghế học sinh: chỉ có 1/12 số trường có kích cỡ bàn đúng tiêu chuẩn, 2/12 số trường có
kích cỡ ghế đạt yêu cầu và 1/12 số trường có kích cỡ bàn và ghế đều đạt yêu cầu Số bàn ghế sai kích cỡ đều cao
và cao hơn rất nhiều so với quy định Hiệu số giữa chiều cao bàn và chiều cao ghế đo được cao hơn so với tiêu chuẩn quy định từ 5 cm đến 12 cm
Tư thế ngồi của học sinh tại lớp: kết quả quan sát TTNH tại lớp cho thấy, tỷ lệ HS có TTNH đỳng chỉ chiếm
2,7%;
3.2.3 Chiều cao của học sinh và hiệu số giữa chiều cao bàn và chiều cao ghế hiện đang sử dụng: 11/12
trường khụng cú sự phự hợp về chiều cao cuả HS đo được và hiệu số giữa chiều cao bàn và chiều cao ghế hiện đang sử dụng Trường PTTH Dương Xỏ là trường duy nhất cú hiệu số giữa chiều cao bàn và chiều cao ghế phự hợp với tầm vúc của học sinh
3.2.4 Kết quả điều tra KAP:
KAP của học sinh: tỷ lệ HS mô tả đúng TTNH rất thấp, thấp nhất là TH Yên Hoà (32,8%), cao nhất là TH Cổ Bi
(73,9%) Tỷ lệ HS biết về tác hại của CVCS rất cao, cao nhất là PTTH HBT và THCS Mai Đình (100%), thấp nhất là PTTH Dương Xá (84,9%) Tỷ lệ HS biết ít nhất 1 BPPT CVCS cũng khá cao, cao nhất là THCS Nghĩa Tân (96,8%), thấp nhất là TH Đức Hoà (78,7%)
KAP của cha mẹ học sinh: tỷ lệ CM mô tả đúng TTNH chỉ chiếm 15,3%, nội thành là 11,2% và ngoại thành là
20,2% Theo khối lớp, thấp nhất là khối 5 (11,3%, cao nhất là khối 12 (20,2%) Theo trường, cao nhất là PTTH Kim Anh (34,4%), thấp nhất là TH Đức Hoà (3,9%) Tỷ lệ CM biết về tác hại của TTNH sai là 44,5%; trong đó, nội thành là 36,9% và ngoại thành là 53,6%; cao nhất là Dương Xá (100%), thấp nhất là TH Yên Hoà (21,5%); theo khối lớp, thấp nhất là khối lớp 1 (33,9%), cao nhất là khối lớp 12 (55,7%).
KAP của giáo viên/nhân viên YTTH: chỉ có 46,7% mô tả đúng TTNH Theo quận/huyện, cao nhất là huyện
Sóc Sơn (71,4%, thấp nhất là quận Cầu Giấy (25,9%) Tỷ lệ GV và NVYTTH đã từng được đào tạo về VSTH chỉ chiếm 4,7%; trong đó, cao nhất là huyện Sóc Sơn (10,7%), thấp nhất là quận HBT (0%)
3.2.5 Kết quả phỏng vấn cha mẹ về tiền sử sinh và sức khoẻ của học sinh: tỷ lệ mắc CVCS của nhóm sinh
thiếu tháng là 71,4% và đủ tháng là 51,4%, chỉ số nguy cơ là 1,4 (p<0,05); của nhóm có cân nặng sơ sinh dưới 2,5 Kg là 57,1% và nhóm từ 2,5Kg trở lên là 52,8%; chỉ số nguy cơ là 1,1 (p>0,05); của nhóm được cha mẹ cho
là hay ốm vặt là 66,7% và không hay ốm vặt là 46%; chỉ số nguy cơ là 1,4 (p<0,05)
3.2.6 Mối liên quan giữa cỏc yếu tố ảnh hưởng và CVCS học đường:
Bàn ghế học sinh và CVCS: nhóm học sinh ngồi học bằng bàn ghế không đạt tiêu chuẩn có nguy cơ mắc CVCS
cao hơn gấp 1,2 lần so với nhóm học sinh ngồi học bằng bàn ghế đạt tiêu chuẩn 13,6% số học sinh ngồi học bằng những bộ bàn ghế không đạt tiêu chuẩn có nguy cơ mắc CVCS; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Bảng 3.20 Bàn ghế học sinh và CVCS
HS mắc CVCS
HS không mắc CVCS
HS ngồi bàn ghế không đạt tiêu chuẩn 494 2089
HS ngồi bàn ghế đạt tiêu chuẩn 31 157
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm phơi nhiễm Ie = 19,1%
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm không phơi nhiễm Io = 16,5%
Trang 6Nguy cơ quy thuộc (AR) Ie – Io = 2,6%
χ2= 2,05 (CI 95% = 0,8 - 1,8); p = 0,04
Tư thế ngồi học và CVCS: 100% số học sinh ngồi học sai t− thế có nguy cơ mắc CVCS; sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,005)
Bảng 3.21 T− thế ngồi học và CVCS
CVCS
HS không mắc CVCS
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm phơi nhiễm Ie = 19,5%
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm không phơi nhiễm Io = 0 Chỉ số nguy cơ (RR) Ie/Io = Không xác định
χ2= 0,018 (CI 95% = 0,17 - 0,2); p = 0,001
Tiền sử sinh và CVCS: nhóm học sinh sinh thiếu tháng có nguy cơ mắc CVCS cao hơn gấp 1,4 lần so với nhóm
học sinh sinh đủ tháng 28% số trẻ em sinh thiếu tháng có nguy cơ mắc CVCS ở tuổi học sinh; sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p < 0,05)
Bảng 3.22 Tiền sử sinh và CVCS ở nhúm học sinh can thiệp
HS mắc CVCS
HS không mắc CVCS
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm phơi nhiễm Ie = 71,4%
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm không phơi nhiễm Io = 51,4%
χ2= 1,05 (CI 95% = 0,36 - 25,65); p = 0,04
Cõn nặng sơ sinh và CVCS: nhóm trẻ em sinh thiếu cõn có nguy cơ mắc CVCS cao hơn gấp 1,1 lần so với
nhóm trẻ em sinh đủ cõn 7,5% số trẻ em sinh thiếu cõn có nguy cơ mắc CVCS ở tuổi học sinh; sự khác biệt
không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 3.23 Cõn nặng sơ sinh và CVCS ở nhúm học sinh can thiệp
HS mắc CVCS
HS không mắc CVCS
HS có cân nặng sơ sinh < 2,5 Kg 4 3
HS có cân nặng sơ sinh = > 2,5 Kg 56 50
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm phơi nhiễm Ie = 57,1%
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm không phơi nhiễm Io = 52,8%
Trang 7Chỉ số nguy cơ (RR) Ie/Io = 1,1
χ2 = 0,05 (CI 95% = 0,19 - 8,51); p = 0,1
Tiền sử hay ốm vặt và CVCS: nhóm trẻ em hay ốm vặt có nguy cơ mắc CVCS cao hơn gấp 1,4 lần so với nhóm
trẻ em không hay ốm vặt 31% số trẻ em hay ốm vặt có nguy cơ mắc CVCS ở tuổi học sinh; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)
Bảng 3.24 Tiền sử hay ốm vặt và CVCS ở nhúm học sinh can thiệp
HS mắc CVCS
HS không mắc CVCS
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm phơi nhiễm Ie = 66,7%
Tỷ lệ mắc CVCS ở nhóm không phơi nhiễm Io = 46%
χ2 = 4,4 (CI 95% = 0,98 - 5,78); p = 0,04
3.3 Kết quả thử nghiệm một số BPPT CVCS tại trường tiểu học Cổ Bi
3.3.2 Kết quả khám CVCS ở 2 nhóm học sinh nghiên cứu
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ mắc CVCS theo giới tính và thời điểm điều tra
So sỏnh giữa 2 thời điểm giữa kỳ (Tg) và cuối kỳ can thiệp (Tk) thấy rằng, tỷ lệ mắc CVCS của nhúm can thiệp
đó thuyờn giảm từ 53,1% xuống 44,2% (p>0,05); cũn ở nhúm đối chứng thỡ ngược lại: giữa kỳ là 47,2% nhưng cuối
kỳ là 58,9% Về độ xoỏy vặn cột sống: tại thời điểm Tg cả 2 nhóm có độ xoỏy vặn cột sống tập trung ở khoảng từ 1,50 đến 2,00; đến thời điểm Tk nhóm can thiệp có độ xoỏy vặn cột sống tập trung ở khoảng 1,00 độ, nhưng nhóm
đối chứng lại tập trung ở khoảng từ 2,00 đến 3,00; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Biểu đồ 3.9 Phân loại CVCS tại thời điểm Tk
Tại thời điểm Tk, tỷ lệ mới mắc của nhúm can thiệp chỉ là 4,4% (p<0,01); nhưng nhúm đối chứng là 19,6%
Tỷ lệ tăng độ vẹo của nhúm can thiệp chỉ là 5%, nhưng nhúm đối chứng là 64,7% (p<0,001) Tỷ lệ hết vẹo của
44.2
70
0 25 58.9
19.6 64.7
13.7
3.9 17.6
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Hiện mắc Mới mắc Tăng độ v ẹo Giảm độ
v ẹo Giữ nguyờn
độ v ẹo Hết CVCS
%
44.2 48.1
41
58.9 61.6 55.3
53.1 53.8 52.5
47.2 45.9 48.9
0
50
Cụ̉ Bi Nam Nữ tr Đặng Xá Nam Nữ
Trang 8nhúm can thiệp là 25% nhưng của núm đối chứng chỉ đạt 17,6% (p>0,05) Đặc biệt, tỷ lệ giảm độ vẹo của nhúm can thiệp đạt 70% nhưng nhúm đối chứng chỉ đạt 13,7% (p<0,001)
3.3.3 Kết quả điều tra KAP
KAP của học sinh: tại Tg, tỷ lệ mô tả đúng TTNH của HS nhóm can thiệp là 53,1%, nhóm đối chứng là 24,1%; tỷ
lệ HS ngồi học đúng tư thế của nhóm can thiệp là 3,5%, nhóm đối chứng chỉ đạt 0,9% Vào thời điểm Tk, tỷ lệ mô tả
đúng TTNH của HS nhóm can thiệp đó đạt 87,6% nhưng nhóm đối chứng chỉ đạt 68,2%; tỷ lệ HS ngồi học đỳng tư thế của nhóm can thiệp đã tăng lên 20,4%, nhưng nhóm đối chứng chỉ đạt 11,2%
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ biết về BPPT của 2 nhóm HS tại thời điểm Tg
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ biết về BPPT của 2 nhóm HS tại thời điểm Tk
KAP của CM học sinh: vào thời điểm Tg, tỷ lệ CM mô tả đúng TTNH của nhóm can thiệp là 26,5% và của nhóm
đối chứng là 6,5%; đến thời điểm Tk, tỷ lệ này ở nhóm can thiệp tăng lên 70,8%, nhưng ở nhóm đối chứng chỉ tăng lên 37,4%
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ biết về BPPT của CM học sinh tại thời điểm Tg
Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ biết về BPPT của CM học sinh tại thời điểm Tk
3.3.4 Kết quả can thiệp
3.3.4.1 So sánh trước - sau can thiệp:
Sự thay đổi về KAP của học sinh nhóm can thiệp:
Tỷ lệ HS biết ít nhất 1 BPPT CVCS tăng từ 88,9% vào thời điểm To lên 95,6% vào thời điểm Tg và 99,1% và thời điểm Tk Tỷ lệ HS mô tả đúng TTNH tăng từ 22,1% vào thời điểm To lên 53,1% vào thời điểm Tg và 87,6%
và thời điểm Tk Tỷ lệ HS ngồi học đúng tư thế tăng từ 0% vào thời điểm To lên 3,5% vào thời điểm Tg và đạt 20,4% và thời điểm Tk
Sự thay đổi về CVCS ở nhóm học sinh can thiệp: tỷ lệ hiện mắc của nhúm can thiệp tại Tg là 53,1%, đến Tk là
44,2%; tỷ lệ mới mắc ở Tg là 23%, đến Tk chỉ cũn 19,5%; tỷ lệ tăng độ vẹo ở Tg là 54,1%, nhưng đến Tk chỉ cũn
13,5% Đặc biệt, tỷ lệ hết vẹo ở Tg chỉ là 8,2%, nhưng đến Tk đó đạt 24,3%
49.6 47.8
2.7 22.4 66.4
11.2 0
20 40 60 80
Nhúm can thiệp Nhúm đối chứng
B iết nhiều B iết trung bỡnh Biết ớt
27.4 65.5
44.4 45.4
0 10 20 30 40 50 60 70
Nhúm can thiệp Nhúm đối chứng
B iết nhiều B iết trung bỡnh B iết ớt
37.5 39.3 23.2
37 35.2 27.8
0 10 20 30 40
CM nhúm can thiệp CM nhúm đối chứng
B iết nhiều B iết trung bỡnh Biết ớt
52.2 44.2
3.5
25.2
0 10 20 30 40 50 60
CM nhúm can thiệp CM nhúm đối chứng
B iết nhiều B iết trung bỡnh B iết ớt
44.2
37.8 40
50
60 %
Trang 9Biểu đồ 3.8 Phân loại mắc CVCS của nhóm can thiệp
Sự thay đổi về KAP của CM nhóm can thiệp: tỷ lệ CM mô tả đúng TTNH tăng từ 26,5% vào thời điểm Tg lên
70,8% vào thời điểm Tk Tỷ lệ CM học sinh biết ít nhất 1 BPPT tăng từ 76,8% vào thời điểm Tg lên 96,5% vào thời điểm Tk
3.3.4.2 So sánh đối chứng:
So sỏnh giữa 2 nhóm học sinh: tất cả các chỉ số nghiên cứu đều có sự khác biệt giữa nhóm can thiệp và nhóm
đối chứng Đặc biệt là tỷ lệ HS ngồi học đúng t− thế: ở Tg nhúm can thiệp là 3,5%, nhưng nhúm đối chứng chỉ là 0,9%; đến thời điểm Tk nhúm can thiệp là 20,4% nhưng nhúm đối chứng chỉ đạt 11,2%; tỷ số hiệu quả đạt 1,8 (p<0,05) Tỷ lệ HS mô tả đúng TTNH: ở Tg nhúm can thiệp đó đạt 53,1% nhưng nhúm đối chứng chỉ đạt 24,1%; đến thời điểm Tk nhúm can thiệp đạt 87,6% nhưng nhúm đối chứng chỉ đạt 68,2%; tỷ số hiệu quả đạt 1,3 (p<0,01) Tỷ lệ hiện mắc CVCS: ở Tg nhúm can thiệp là 53,1% và nhúm đối chứng là 47,2%, nhưng đến thời
điểm Tk nhúm can thiệp đó giảm xuống cũn 44,2% và nhúm đối chứng thỡ tăng lờn là 58,9%; tỷ số hiệu quả đạt 1,4 (p<0,05)
So sánh giữa 2 nhóm CM học sinh: ở Tg tỷ lệ cha mẹ nhóm can thiệp biết tác hại của ngồi học sai t− thế là
83,2% và nhóm đối chứng là 65,7%; đến thời điểm Tk nhóm can thiệp tăng lên 95,6% và nhóm đối chứng tăng lên 87,9% Tỷ lệ biết ít nhất 1 BPPT có sự thay đổi rõ dệt: ở Tg 2 nhóm xấp xỉ nh− nhau (nhóm can thiệp là 76,8% và nhóm đối chứng là 72,2%), nh−ng đến thời điểm Tk nhóm can thiệp đã tăng lên 96,5% còn nhóm đối chứng lại giảm chỉ còn 61,7% Đặc biệt là tỷ lệ CM mô tả đúng TTNH cú sự chờnh lệch lớn: ở Tg nhúm can thiệp
là 26,5%, nhúm đối chứng là 6,5%, nhưng đến thời điểm Tk nhúm can thiệp tăng lờn 70,8% cũn nhúm đối chứng chỉ tăng lờn 37,4%
3.3.4.2 Tác động chung:
Bảng 3.37 Tổng hợp 1 số chỉ số đỏnh giỏ kết quả (So sỏnh đối chứng)
Kết quả can thiệp Tên chỉ số (%) pC
(%)
pĐ (%) pC - pĐ CSHQ%
Tỷ lệ HS ngồi học đúng t− thế 20,3 11,2 9,1 81,2
Tỷ lệ HS mô tả đúng TTNH 87,6 68,2 19,4 28,4
Tỷ lệ HS biết ít nhất 1 BPPT 97,4 88,8 8,6 9,7
Tỷ lệ CM biết ít nhất 1 BPPT 96,5 61,7 34,8 56,4
Tỷ lệ CM mô tả đúng TTNH 70,8 37,4 33,4 89,3
Tỷ lệ HS không mắc CVCS 55,8 41,1 14,7 35,8
Tại thời điểm kết thúc can thiệp, nhóm HS can thiệp mô tả đúng TTNH cao hơn 19,4% so với nhóm đối chứng, CSHQ% đạt 28,4% và tỷ số hiệu quả đạt 1,3 (p<0,005); có t− thế ngồi học đúng cao hơn 9,1% so với nhóm đối chứng, CSHQ% đạt 81,2% và tỷ số hiệu quả đạt 1,8 (p<0,05); không mắc CVCS cao hơn 14,7% so với nhóm đối chứng, CSHQ% đạt 35,8% và tỷ số hiệu quả đạt 1,4 (p<0,05) Đối với cha mẹ nhóm can thiệp: tỷ lệ biết ít nhất 1 BPPT cao hơn 34,8% so với nhóm đối chứng, CSHQ% đạt 56,4% và tỷ số hiệu quả đạt 1,6); tỷ lệ
mô tả đúng TTNH cao hơn 33,4% so với nhóm đối chứng, CSHQ% đạt 89,3% và tỷ số hiệu quả đạt 1,9)
C h − ơ n g 4 B μ n l uậ n 4.1 Thực trạng CVCS ở học sinh phổ thông:
4.1.1 Tỷ lệ mắc chung
Học sinh 4 khối lớp nghiên cứu có tỷ lệ mắc CVCS chung là 18,9%, không cao nh− một số nghiên cứu đã công bố Theo giới tính, nam là 49,9% và nữ là 50,1% Theo khu vực, ở nội thành thấp hơn rất nhiều (16,1%) so
Trang 10với ngoại thành (21,7%) Theo khối lớp, đầu cấp tiểu học (khối 1) có tỷ lệ mắc thấp nhất (17,0%); khối 5 là 17,6%; khối 9 là 22,2% và khối 12 là 18,8,%; không có xu hướng tăng theo cấp học
4.1.2 Hình dáng vẹo cột sống: Hình dáng CVCS chủ yếu là hình chữ Ct (70,5%) và chữ Cn (28,8%) Cong vẹo
hình chữ St chỉ phát hiện được 0,8% và không học sinh nào mắc vong vẹo hình chữ Sn
5,00) chiếm tới 93,5%; loại từ 5,00 đến dưới 100 chỉ chiếm 6,5% Nhóm học sinh PTTH có độ vẹo từ 50 đến dưới
100 chiếm tỷ lệ cao hơn đáng kể so với các cấp học thấp (7,7% ở nội thành và 9,5% ở ngoại thành)
Tất cả học sinh mắc CVCS đều thuộc loại nhẹ và khả năng tự điều chỉnh, phục hồi đường cong sinh lý của cột sống là rất tốt
Tác giả Nguyễn Hữu Chỉnh phân nhóm CVCS theo độ xoáy vặn cột sống khác một chút Tuy nhiên, gặp chủ yếu vẫn là loại vẹo cột sống dưới 60 (chiếm 94,4%); loại vẹo từ 60 trở lên chỉ chiếm 5,6% Vẫn nhận ra rằng, mức
độ vẹo cột sống ở 2 nhóm học sinh phổ thông mắc CVCS ở 2 địa phương vào 2 thời điểm khác nhau gần giống nhau, không gặp những trường hợp có độ vẹo nặng từ 200 trở lên Theo Nguyễn Ngọc Ngà và cs thì nhóm có độ xoáy vặn cột sống đo được dưới 50 được xếp vào nhóm nguy cơ mắc CVCS, chỉ nhóm có độ vẹo từ 50 trở lên mới
là nhóm mắc CVCS thật sự
4.2 Vệ sinh trường học, chiều cao - cân nặng và các yếu tố ảnh hưởng đến CVCS học đường:
4.2.1 Điều kiện vệ sinh trường học
4.2.1.1 Điều kiện vệ sinh chung: nhìn chung, các chỉ tiêu vệ sinh tại 12 trường nghiên cứu đều đạt yêu cầu Tuy
nhiên, 5/12 trường có DT xây dựng trung bình/1HS chưa đạt yêu cầu; 2/12 trường chưa có phòng y tế; 1/12 trường chưa tổ chức khám SK định kỳ cho HS hằng năm
4.2.1.2 Về bàn ghế và bảng viết: kích thước bàn ghế học sinh hầu hết đều cao hơn tiêu chuẩn Hiệu số giữa
chiều cao bàn và chiều cao ghế cũng đều cao hơn tiêu chuẩn Vì phải ngồi học trên những bộ bàn ghế không phù hợp với chiều cao, nên học sinh phải luôn luôn ngồi ở tư thế không đúng dẫn tới hậu quả là cột sống bị uốn vặn
Đây chính là một trong số các nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngồi học sai tư thế của học sinh Bảng 3.20 cho thấy, CVCS ở học sinh và bàn ghế khụng phự hợp với tầm vóc có mối liên quan thuận chiều (RR>1); AR = 2,6% và AR% = 13,6% (p<0,05)
4.2.1.3 Về cách sắp xếp bàn ghế trong lớp học: cách sắp xếp bàn ghế và bảng viết tại nhiều phòng chưa hợp vệ
sinh về chiếu sáng tự nhiên; khoảng cách giữa các dãy bàn với nhau và các dãy bàn với tường không đảm bảo Nhiều phòng học không còn khoảng cách giữa dãy bàn ngoài cùng và dãy bàn trong cùng với tường, vì phòng chật nên lối đi giữa các dãy bàn rất hẹp Phòng học chật, bàn học sinh không có ngăn hoặc là ngăn bàn rất hẹp nên học sinh phải để cặp sách ngay trên ghế ngồi Do vậy, diện tích ghế ngồi mất khoảng 2/3 cho cặp sách Học sinh các khối khác nhau, thậm trí cách xa nhau vẫn được xếp ngồi chung một phòng học (thay ca) với cùng một kích cỡ bàn ghế cũng khá phổ biến Do vậy, tình trạng học sinh khối lớp 1 và khối lớp 2 phải ngồi bằng những bộ bàn ghế quá cao là phổ biến; làm cho chân các em không chạm được tới mặt sàn; khiến cho chân các
em bị treo đung đưa, cách mặt sàn một khoảng khá cao
4.2.1.4 Hệ thống chiếu sáng tự nhiên, và nhân tạo tại lớp học: CĐCS nhìn chung đạt yêu cầu Trong đó,
CĐCSNT đảm bảo trên 100 lux Riêng trường tiểu học Đức Hoà chỉ đạt 54 lux, thấp bằng 1/2 so với CĐCSNT cho phép Hệ số CSTN ở một số trường chưa đạt yêu cầu
Các tác giả Vũ Đức Thu, Lê Thị Kim Dung và cộng sự đã nghiên cứu về VSTH và các bệnh liên quan ở học sinh Hà Nội năm học 2000-2001, thấy rằng chỉ có 1/6 số trường đảm bảo tiêu chuẩn về diện tích trung bình/1 HS, còn 5 trường khác chưa đạt tiêu chuẩn Kích thước bàn ghế đo được đều vượt quá tiêu chuẩn vệ sinh ở cả 3 cấp học Lê Thế Thự và cs nghiên cứu một số trường TH và THCS ở thành phố HCM trong năm 2004, thấy rằng có 50% số lớp học có diện tích chưa đạt tiêu chuẩn; 100% số bàn ghế đo được đều có kích thước cao quá tiêu chuẩn qui định Nguyễn Ngọc Ngà và cs nghiên cứu ở một số trường tiểu học và THCS ở Hải Phòng, Thái Nguyên, thành phố HCM, thấy rằng có tới 40,5% số lớp học không đạt về tiêu chuẩn diện tích/1HS; 61% lớp học không
đạt về tiểu chuẩn HSCS; 32% số lớp không đạt yêu cầu về CSTN; 28% số lớp không đạt yêu cầu về CSNT; 100%
số lớp có bảng viết không đạt tiêu chuẩn; 100% học sinh ngồi học bằng những bộ bàn ghế không phù hợp với tầm vóc
4.2.2 Chiều cao và cân nặng của học sinh: kết quả khảo sát chiều cao cân nặng HS cho thấy, chỉ số chiều cao và
cân nặng của HS rất khác nhau trong cùng độ tuổi và đều thấp hơn so với chỉ số chiều cao và cân nặng trung bình của quần thế tham chiếu
4.2.3 Kiến thức, thực hành của học sinh, cha mẹ và giáo viên về CVCS học đường và biện pháp phòng tránh:
4.2.3.1 Kiến thức và thực hành của học sinh: tỷ lệ HS mô tả đúng TTNH có sự chênh lệch giữa các trường và
giữa các khối lớp Khối tiểu học vùng ngoại thành có tỷ lệ HS mô tả đúng TTNH rất cao (73,9% và 63,9%) Học sinh lớp 12 của cả 4 trường PTTH có tỷ lệ mô tả đúng TTNH đều rất thấp, chỉ khoảng 50%; trong đó, thấp nhất là trường PTTH HBT (47,7%) Điều này nói lên rằng càng lên các lớp trên học sinh càng ít quan tâm đến TTNH Tỷ