Nghiên cứu mật độ xương vùng cổ xương đùi của người bình thường bằng phương pháp đo hấp thụ tia x năng lượng kép
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo bộ quốc phòng
Học viện quân y
đặng hồng hoa
Nghiên cứu mật độ xương vùng cổ xương đùi
của người bình thường Bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép
Chuyên ngành : Nội Xương Khớp Mã số : 62 72 20 10
Tóm tắt Luận án tiến sỹ y học
Hμ nội – 2008
Trang 2Công trình được hoμn thμnh tại học viện quân y
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Đoàn Văn Đệ GS.TS Hoàng Đức Kiệt
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Lan
Phản biện 2: TS Nguyễn Quốc Dũng
Phản biện 3: PGS.TS Vũ Thị Thanh Thuỷ
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nước họp tại Học viện Quân Y
Vào hồi 1 4 giờ 0 0 ngày 2 5 tháng 0 8 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện Học viện Quân Y
Trang 3Những chữ viết tắt trong luận án
BMC Bone Mineral Content (khối lượng xương)
BMD Bone Mineral Density (Mật độ xương)
BMI Body Mass Index (Chỉ số khối cơ thể)
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
CSTL Cột sống thắt lưng
CXĐ Cổ xương đùi
DEXA Dual Energy X-ray Absortiometry (đo hấp thụ tia X năng lượng kép)
GH Growth hormone (Hormone tăng trưởng)
iMĐX Mật độ xương của đối tượng i
PTH Parathyroid hormone (hormon cận giáp)
QCT Quantitative Computer Tomography (chụp cắt lớp vi tính định lượng)QUS Quantitative Ultrasound (đo tỷ trọng khoáng bằng sóng siêu âm)
SD Standard Deviation (độ lệch chuẩn)
T- score Độ lệch so với mật độ xương trung bình của nhóm người trẻ,
trưởng thành, cùng giới TG.Ward Tam giác Ward
TGMK Thời gian mãn kinh
TLMX Tỷ lệ mất xương
tMĐX Mật độ xương trung bình của nhóm người cùng tuổi, cùng giới TQHT Thói quen hút thuốc lá
TQUR Thói quen uống rượu
Z- score Độ lệch so với mật độ xương trung bình của nhóm người cùng
tuổi, cùng giới
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Loãng xương là tình trạng bệnh lý của hệ xương được đặc trưng bởi khối lượng xương thấp kèm theo biến đổi vi cấu trúc xương, gây giảm chất lượng xương và hậu quả làm xương trở nên giòn và dễ gãy Hậu quả gãy xương gây tác động xấu đến sức khoẻ con người, làm giảm chất lượng cuộc sống và làm ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Tình trạng gãy xương do loãng xương phụ thuộc vào độ chắc của xương, mà
độ chắc của xương được quyết định bởi mật độ xương và chất lượng xương
Có nhiều kỹ thuật đo mật độ xương (MĐX) nhưng hiện nay phương pháp
đo MĐX bằng đo hấp thụ tia X năng lượng kép được cho là phương pháp tốt nhất vì kết quả cho độ chính xác cao, thời gian thực hiện ngắn, dễ thực hiện
và có thể nhắc lại nhiều lần
Có sự khác nhau về MĐX theo giới, chủng tộc và mỗi quốc gia Trên thực tế, ở nước ta vẫn sử dụng số liệu tham chiếu của người bình thường ở châu âu hoặc châu á do các nhà sản xuất máy cung cấp Do đó, việc xác
định khối lượng xương và MĐX bình thường của người Việt Nam bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép để làm cơ sở dữ liệu tham chiếu cho chẩn đoán và theo dõi loãng xương ở Việt Nam là rất cần thiết
Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu mật độ xương
vùng cổ xương đùi của người bình thường bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định chỉ số mật độ xương đỉnh vùng cổ xương đùi của người bình thường ở khu vực ngoại thành Hà Nội bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép
- Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương vùng cổ xương đùi
3 Những đóng góp mới của luận án
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu về mật độ xương của cả hai giới và theo các lứa tuổi ở người bình thường bằng phương pháp này tại các vị trí trung tâm của cơ thể Những đóng góp mới của luận án:
- Xác định mật độ xương đỉnh và tuổi đạt được mật độ xương đỉnh của cả hai giới tại vị trí cổ xương đùi
- Đánh giá sự khác biệt về hai chỉ số T- score và Z- score tính được trên thực tế và của máy (Uni Plus)
Trang 5- Xác định tỷ lệ loãng xương theo T- score của máy và của nhóm nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố đối với mật độ xương của hai giới
4 Bố cục luận án:
Luận án dày 118 trang với 37 bảng, 4 hình, 9 sơ đồ, biểu đồ, kết cấu thành 4 chương:
- Đặt vấn đề: 2 trang
- Chương 1: Tổng quan: 32 trang
- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 12 trang
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu: 33 trang
- Chương 4: Bàn luận: 35 trang
- Kết luận: 2 trang
- ý kiến đề xuất: 1 trang
- Tài liệu tham khảo: gồm 166 tài liệu (31 tài liệu tiếng Việt, 135 tài liệu tiếng Anh)
- Phần phụ lục: 27 trang, gồm mẫu phiếu điều tra các đối tượng nghiên cứu, mẫu kết quả đo mật độ xương, danh sách các đối tượng nghiên cứu (431 nam và 603 nữ)
Chương 1 Tổng quan 1.1 Loãng xương và những yếu tố nguy cơ gây loãng xương
Khái niệm lo∙ng xương: theo Albright (1940): Loãng xương (Ostéoporosis) là
bệnh do chức năng calci hóa không đầy đủ làm cho thành phần khoáng (Mineral Composition) của xương bị thay đổi, khối lượng xương giảm dần tới mức trở nên giòn, yếu và dễ gãy xương Năm 2001, WHO định nghĩa: loãng xương
là tình trạng bệnh lý của hệ thống xương làm suy giảm sức bền của xương, dẫn đến gia tăng nguy cơ gãy xương Sức bền của xương được biểu hiện
bằng mật độ xương và chất lượng xương
Phân loại lo∙ng xương
- Loãng xương tiên phát: xuất hiện tự nhiên không phát hiện được
nguyên nhân gì khác ngoài yếu tố tuổi tác hoặc thời kỳ sau mãn kinh
+ Loãng xương type I: xuất hiện trong vòng 15 - 20 năm sau mãn kinh, kiểu
loãng xương này thường do các yếu tố có liên quan đến tình trạng mãn kinh
+ Loãng xương type II: xuất hiện ở cả nam và nữ, thường trên 65 tuổi
Đây là hậu quả của sự mất xương kéo dài trong nhiều năm
- Loãng xương thứ phát: Sau các bệnh nội tiết, sau các tình trạng bất động
Trang 6kéo dài; bệnh lý đường tiêu hoá; đa u tuỷ xương; ung thư xương Sau các nguyên nhân khác: bệnh xương bẩm sinh, chán ăn do thần kinh, chế độ dinh dưỡng kém, nghiện rượu, nghiện thuốc lá Do sử dụng thuốc: glucocorticoid; thuốc chống đông máu; thuốc chống động kinh; thuốc lợi tiểu
- Loãng xương vô căn: loãng xương thiếu niên và người trẻ tuổi, loãng
xương ở phụ nữ có thai
Khối lượng xương đỉnh: (Peak Bone Mass- PBM) là khối lượng xương
đạt được tại thời điểm trưởng thành của khung xương Trong độ tuổi phát triển, khối lượng xương tăng dần để đạt tới đỉnh ở độ tuổi 20-30 và đó là ngân hàng dự trữ xương của cơ thể sau này khi về già Thời điểm đạt được PBM thường khác nhau giữa nam và nữ, giữa các chủng tộc và được quyết
định bởi các yếu tố về gene, tình trạng hormone, hoạt động thể lực, lối sống, lượng calci ăn vào và chế độ dinh dưỡng
Những yếu tố nguy cơ gây lo∙ng xương
Không có một nguyên nhân đặc biệt nào gây loãng xương, các yếu tố sau đây đều có thể làm tăng nguy cơ loãng xương
- Chủng tộc: tỷ lệ loãng xương thay đổi giữa nước này so với nước khác
- Giới: phụ nữ có nguy cơ loãng xương tiên phát cao hơn nam giới gấp
4 lần vì khối lượng xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương nhanh hơn ở nam giới do hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng sau mãn kinh
- Yếu tố di truyền và gia đình: tiền sử gia đình là một yếu tố nguy cơ
gây loãng xương, điều này nói lên yếu tố gen là một mắt xích trong cơ chế bệnh sinh của loãng xương
- Tuổi già: do sự mất cân bằng giữa tạo xương và huỷ xương tạo nên những cân bằng âm tại những vị trí mất xương, đồng thời có sự giảm hấp thu calci ở ruột và giảm tái hấp thu calci ở ống thận do đó dễ có khả năng bị loãng xương
- Tuổi mãn kinh: mãn kinh sớm, tự nhiên hay do phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng có nguy cơ loãng xương lớn hơn do thiếu hụt Estrogen
- Hormone: thiếu estrogen trong thời gian tăng trưởng và lão hoá có khả
năng là yếu tố quan trọng nhất trong cơ chế bệnh sinh của loãng xương Liệu pháp hormon thay thế được áp dụng trong 5 -10 năm sau mãn kinh làm giảm tới 50% nguy cơ gãy xương do loãng xương
Trang 7- Dinh dưỡng: Sự thiếu hụt calci, vitamin D và protein là những thành tố
quan trọng hình thành nên sinh bệnh học loãng xương Tuy nhiên nếu chỉ bổ xung calci trong khẩu phần ăn thì chưa đủ để phòng bệnh loãng xương
- Thể chất: những người có tầm vóc nhỏ có khối xương thấp thì dễ có
nguy cơ loãng xương
- Lối sống: ít vận động hoặc vận động quá nhiều đều có thể gây ra loãng xương Những người có tiền sử hút thuốc hoặc hiện tại đang hút thuốc thường có mật độ xương thấp hơn hẳn so với những người không bao giờ hút thuốc Nghiện rượu, cà phê: là yếu tố nguy cơ của loãng xương do làm giảm hấp thu calci và các chất khoáng ở ruột, đồng thời các độc chất sinh ra khi chuyển hóa làm ngăn cản sự hoạt động của tạo cốt bào
- Các yếu tố khác: sử dụng thuốc kéo dài như: glucocorticoid, thuốc chống
đông , hoặc bị các bệnh nội tiết, thận, có thai đều có thể gây loãng xương
Gãy xương do loãng xương
Loãng xương thường xảy ra sớm và tiến triển âm thầm trong một thời gian dài trước khi các triệu chứng lâm sàng của các biến chứng xuất hiện Hậu quả nặng nề nhất là gãy cổ xương đùi do làm tăng khả năng tử vong, tàn tật và chi phí y tế
1.2 Các phương pháp đo mật độ xương
Có nhiều phương pháp để chẩn đoán loãng xương, nhưng phổ biến vẫn là các phương pháp đo mật độ xương (MĐX) và thông qua mật độ xương có thể tiên lượng nguy cơ gãy xương
- Những phương pháp đo MĐX bằng phóng xạ: Đo hấp thụ photon đơn:
(Single photon Absorptiometry- SPA) Đo hấp thụ photon kép: (Dual photon
Absorptiometry - DPA)
- Phương pháp đo dựa trên nguyên lý của sóng siêu âm (Quantitative Ultrasound - QUS)
- Các phương pháp đo MĐX bằng tia X: Đo quang đồ tia X số (Osteogram)
Chụp cắt lớp vi tính định lượng (Quantitative Computer Tomography - QCT)
- Đo hấp thụ tia X năng lượng kép: (Dual Energy X- ray Absortiometry
DEXA), sử dụng hai nguồn năng lượng tia X: năng lượng thấp (30-50 keV)
có sự hấp thu giống mô mềm và năng lượng cao (trên 70 kev) có sự hấp thu khác với mô mềm Phép đo thực hiện được ở nhiều vị trí khác nhau của cơ thể
Trang 8và có thể lặp lại nhiều lần, thời gian thực hiện từ 5-7 phút, sai số 1- 2,5% tùy từng vị trí đo MĐX được tính bằng khối lượng xương ở một đoạn xương nhất định (tính bằng gram chất khoáng) và diện tích vùng được đo (tính bằng
cm2), kết quả MĐX được tính bằng gr/cm2 Tuy nhiên, chỉ đo được mật độ xương trong không gian hai chiều, các chồi xương do thoái hoá có thể làm sai lệch kết quả đặc biệt ở cột sống
- Chùm tia bút chì và chùm ta hình quạt: có loại thiết bị đo MĐX được
xác định từ điểm ảnh đến điểm ảnh trên vùng xương được quét, kết quả thu được nhờ những chùm tia đi thẳng hình bút chì quét qua vùng định
đo Một số loại thiết bị khác kết quả thu được nhờ các điểm ảnh đồng thời xảy ra cùng một lúc của chùm tia hình quạt tương ứng với một dãy
đầu dò trên “tay quét” của thiết bị, loại thiết bị này cho kết quả nhanh, hình ảnh đẹp, nhưng hạn chế của thiết bị này là liều lượng tia thường cao hơn và dễ có sai số do sự thay đổi chiều cao khác nhau từ ống phát xạ đến
bộ phận quét, điều này ít gặp ở những máy phát chùm tia hình bút chì
1.3 Chẩn đoán loãng xương theo tiêu chuẩn của WHO
Mật độ xương của cùng một người được đo bằng các thiết bị khác nhau cũng cho các kết quả khác nhau tuỳ theo từng nhà sản xuất Để khắc
phục sự khác biệt này WHO đưa ra hai chỉ số: T- score là độ lệch giữa
mật độ xương của đối tượng so với mật độ xương trung bình của nhóm người trưởng thành trẻ tuổi, khoẻ mạnh, cùng giới (mật độ xương đỉnh)
và Z- score là độ lệch giữa MĐX của đối tượng so với MĐX trung bình
của người cùng tuổi, cùng giới Dựa vào T- score có thể chia:
Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Khảo sát mật độ xương cho 1034 người khoẻ mạnh gồm 431 nam và
603 nữ trong khu vực quận Cầu Giấy và huyện Từ Liêm Thời gian nghiên cứu từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 6 năm 2007
Trang 92.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt
ngang so sánh (ước lượng tỷ lệ loãng xương trong quần thể):
n = Z2(1 - α /2)[p (1 – p): Δ2]
Trong đó: p là tỷ lệ mắc loãng xương tại Việt Nam theo các nghiên cứu
trước (34,9%); Δ: khoảng sai lệch mong muốn (0,03); α: mức ý nghĩa thống
kê (0,05); Zα /2: giá trị Z thu được từ bảng Z ứng với giá trị α = 0,05 là 1,96 Thay vào công thức ta có cỡ mẫu tối thiểu là:
n = 1,96 2 (0,349 x 0.651) / (0,03) 2 = 970 (đối tượng)
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Tuổi từ 15 đến 84; không
mắc các bệnh mạn tính về chuyển hoá, nội tiết, xương khớp gây ảnh hưởng đến mật độ xương; đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: bất động kéo dài, giảm chức năng vận động nặng;
đang điều trị bệnh nội tiết; bệnh gan, thận mạn tính; hội chứng kém hấp thu; các dị dạng về xương khớp; bệnh xương khớp mạn tính; phụ nữ đã cắt
bỏ buồng trứng hoặc đang sử dụng hormon thay thế; tiền sử hoặc hiện tại
có sử dụng glucocorticoid, thuốc chống động kinh, chống đông máu kéo dài; phụ nữ có thai; không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu theo phương pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang, có phân tích
- Mỗi ĐTNC có một bộ phiếu điều tra thống nhất theo mẫu gồm hai phần: + Phần I: Các câu hỏi về thông tin cá nhân
+ Phần II: Các kết quả khám xét lâm sàng và kết quả đo mật độ xương
2.2.1 Hỏi các thông tin cá nhân
Họ tên, năm sinh, nghề nghiệp, điạ chỉ; giới; tiền sử bệnh tật, tiền sử gia
đình có mắc các bệnh liên quan đến mật độ xương; các thói quen liên quan
đến lối sống (nghiện thuốc lá; nghiện rượu, bia; thói quen hoạt động thể lực; thói quen uống sữa); tiền sử kinh nguyệt và sinh đẻ của phụ nữ Nếu đã mãn kinh: tuổi mãn kinh, thời gian mãn kinh; số lần sinh con; có/không bổ xung canxi khi có thai và khi cho con bú
2.2.2 Khám lâm sàng
- Khám lâm sàng: phát hiện các bệnh có thể gây ảnh hưởng MĐX
- Đo chiều cao, cân nặng Tính chỉ số khối cơ thể (BMI) theo công thức Kaup
Trang 10- Xác định MĐX đỉnh: sử dụng các bước phân tích bootrap trong ngôn
ngữ R (Residual): bước 1: lấy ngẫu nhiên 300 đối tượng nam và 300
đối tượng nữ trong dữ liệu, bước 2: ước tính các thông số a, b, c của phương trình bậc hai MĐX = f (tuổi), bước 3: giải phương trình để tìm MĐX đỉnh (peak BMD) và độ tuổi nào có MĐX đỉnh, bước 4: lặp lại
1000 lần các bước từ 1-3, bước 5: tính khoảng tin cậy 95 % từ 1000 kết quả MĐX đỉnh để có kết quả cuối cùng
- Tính T-score và Z-score của các ĐTNC theo công thức của WHO:
T- score = [(iMĐX – pMĐX)]: (SD người trẻ)
+ Trong đó: iMĐX: mật độ xương của đối tượng i; pMĐX: mật độ
xương đỉnh; SD người trẻ: độ lệch chuẩn của mật độ xương đỉnh
Z- score = [(iMĐX – tMĐX)]: (SD người cùng tuổi)
+ Trong đó: iMĐX: mật độ xương của đối tượng i; tMĐX: mật độ xương
trung bình của quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng; SD người cùng tuổi: độ lệch của mật độ xương trung bình trong quần thể có cùng độ tuổi với đối tượng
- So sánh tìm sự khác biệt giữa chỉ số T-score và Z-score tính được của nhóm ĐTNC với chỉ số tham chiếu của người Châu á do máy cung cấp
- Dựa vào chỉ số T-score tính được của các ĐTNC và chỉ số T-score của máy cung cấp để ước tính tỷ lệ giảm mật độ xương và tỷ lệ loãng xương của nhóm ĐTNC trên 50 tuổi theo tiêu chuẩn WHO (1994) (Xem phần tổng quan tr.6)
- Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến mật độ xương ở cổ xương đùi: + Khảo sát mật độ xương ở các vị trí đo theo nhóm tuổi, các ĐTNC được chia thành 7 nhóm tuổi cách nhau 10 năm (≤ 20; 20 ữ 29; 30 ữ 39; 40 ữ 49; 50 ữ 59;
Trang 11- Tính tỷ lệ mất xương hàng năm của các ĐTNC:
TLMX hàng năm = [(iMĐX đt – pMĐX)/pMĐX]*100/ số năm
+ Trong đó: TLMX hàng năm: tỷ lệ mất xương hàng năm; iMĐX : mật độ
xương của đối tượng i; pMĐX: mật độ xương đỉnh; Số năm = số tuổi của
ĐTNC - số tuổi của nhóm có MĐX đỉnh
2.2.5 Xử lý số liệu: bằng phương pháp toán thống kê y học, sử dụng phần
mềm EPI INFO 6.04, SPSS 11.0 và phần mềm ngôn ngữ R tại Bộ môn Dịch
tễ học, Học viện Quân Y
2.2.6 Hạn chế của đề tài
Nghiên cứu mới chỉ tiến hành đựơc ở một vùng dân cư mà chưa được tiến hành trên nhiều địa phương trong cả nước để có thể khảo sát thêm ảnh hưởng của các yếu tố địa lý, môi trường, điều kiện sống đối với mật độ xương của người Việt Nam vì vậy, nghiên cứu chỉ có giá trị thực tiễn tại
địa bàn, chưa đại diện cho toàn quốc
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Mật độ xương của các đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Những đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Bảng 3.1: Những đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
52,0 ± 6,9 153,6 ± 5,3 22,0 ± 2,7
Không uống sữa
19 (4,4%)
412 (95,6%)
45 (7,5%) 558(92,5%) < 0,001
- Có sự khác biệt về các yếu tố thể chất (p<0,001) và về lối sống (p<0,001) giữa hai giới
Trang 123.1.3 Tính tỷ lệ loãng xương trong quần thể nghiên cứu
Xác định chỉ số T-score và Z-score ở các vị trí đo theo mật độ xương đo được
Bảng 3.3: So sánh chỉ số T-score trung bình theo giới tính
Vị trí Nam (T-score) Nữ (T-score) p
Bảng 3.4: So sánh chỉ số Z-score trung bình theo giới tính
Vị trí Nam (T-score) Nữ (T-score) So sánh (p) CXĐ -1,602 ± 1,102 -1,779 ± 1,138 < 0,05 TG.Ward -1,830 ± 1,067 -1,864 ± 1,157 > 0,05 LMC -1,254 ± 0,946 -1,453 ± 1,168 < 0,01 Chỉ số Z-score trung bình ở CXĐ của hai giới khác nhau có ý nghĩa với p < 0,05
Trang 13 So s¸nh chØ sè T-score tÝnh ®−îc víi chØ sè tham chiÕu cña m¸y cung cÊp
B¶ng 3.5: So s¸nh chØ sè T-score tÝnh ®−îc cña nam giíi víi chØ sè
tham chiÕu cña m¸y cung cÊp
VÞ trÝ T-score tÝnh ®−îc T-score theo Uni Plus p
CX§ - 0,768 ± 1,082 - 0,187 ± 1,593 < 0,001 TG.Ward - 1,122 ± 1,107 - 0,687 ± 1,740 < 0,001 LMC - 0,608 ± 0,973 - 0,349 ± 1,158 < 0,001
ë nam giíi, chØ sè T- score tÝnh ®−îc theo sè liÖu thùc tÕ thÊp h¬n chØ sè T-score tham chiÕu cña m¸y cung cÊp ë tÊt c¶ c¸c vÞ trÝ ®o (p < 0,001)
B¶ng 3.6: So s¸nh chØ sè T-score tÝnh ®−îc cña n÷ giíi víi chØ sè tham
chiÕu cña m¸y cung cÊp
VÞ trÝ T- score tÝnh ®−îc T- score theo Uni Plus p
CX§ - 0,965 ± 1,140 0,191 ± 1,384 < 0,001 TG.Ward - 1,207 ± 1,254 - 0,381 ± 1,563 < 0,001 LMC - 0,840 ± 1,239 - 0,453± 1,461 < 0,001
ë n÷ giíi, chØ sè T-score tÝnh ®−îc theo sè liÖu thùc tÕ thÊp h¬n chØ sè T-score tham chiÕu cña m¸y cung cÊp ë tÊt c¶ c¸c vÞ trÝ ®o (p < 0,001)
So s¸nh tû lÖ lo∙ng x−¬ng cña m¸y víi tû lÖ lo∙ng x−¬ng thùc tÕ
B¶ng 3.7: So s¸nh tû lÖ lo·ng x−¬ng cña m¸y cung cÊp víi tû lÖ lo·ng x−¬ng
thùc tÕ ë nam giíi trªn 50 tuæi