Chính vì thế, trong dự án Bảo tồn giá trị truyền thống của các nghề thủ công, những người thợ thủ công ở bản Na Sang 2 và làng Đại Bái được giao máy ảnh để tự chụp các bức ảnh về cuộc số
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CỤC CHẾ BIẾN NÔNG LÂM SẢN VÀ NGHỀ MUỐI TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG QUỐC GIA
BẢO TỒN GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG CÁC NGHỀ THỦ CÔNG
BẰNG PHƯƠNG PHÁP
PHOTOVOICE (Kết quả của dự án "Nghiên cứu quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam" do Cục Chế biến nông lâm sản
và Nghề muối (Bộ Nông nghiệp và PTNT) phối hợp với
cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện)
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2004
Trang 2Chủ biên: TSKH Bạch Quốc Khang
Biên soạn: PGS.TS Nguyễn Văn Huy
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn trong các lĩnh vực bảo quản, chế biến nông, lâm sản, tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, cơ điện nông nghiệp ở quy mô nhỏ và vừa, kết hợp công nghệ cổ truyền với hiện đại là một trong những hướng đi quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hiện nay Một mặt tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, mặt khác góp phần giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao chất lượng nông, lâm sản, cũng như tạo ra nhiều hàng hoá có giá trị, đáp ứng nhu cầu nổi tiêu và tiến tới xuất khẩu Không những thế, việc phát triển ngành nghề còn góp phần thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chế biến và dịch vụ
Cục Chế biến nông lâm sản và Nghề muối đã tổ chức biên soạn bộ sách này, nhằm giúp nông dân có thêm thông tin để tìm hiểu, chọn lọc và ứng dụng những tiến bộ
kỹ thuật về công nghệ, thiết bị trong phát triển một số ngành nghề ở nông thôn
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã nhận được
sự hợp tác nhiệt tình của các tác giả, nhiều nhà khoa học
và nhiều cơ quan, đơn vị, nhất là của các viện nghiên cứu trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Chúng tôi xin chân thành cám ơn và rất mong nhận được sự hợp tác, giúp đỡ ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn trong lĩnh vực này
Trang 4Đây là những cuốn sách nằm trong chương trình khuyến công hàng năm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phục vụ nông dân Hy vọng bộ sách sẽ được chuyển tới tay bà con nông dân, được sử dụng một cách
có hiệu quả nhất Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiên đóng góp của người sử dụng để bộ sách ngày càng được hoàn thiện hơn
Cục trưởng Cục chế biến nông lâm sản và Nghề muối TSKH BẠCH QUỐC KHANG
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Các nghề thủ công giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam, không những trước kia, mà cả trong cuộc sống đương đại và trong tương lai Những kỹ năng
và kỹ thuật sản xuất, những kinh nghiệm được thể hiện trong tri thức địa phương, những sản phẩm và mẫu mã truyền thống của các nghề thủ công thực sự là những tài sản quý giá của quốc gia Đó chính là những tiềm năng cho sự phát triển tương lai
Vậy mà, chúng ta còn chưa hiểu hết những giá trị của các nghề thủ công, chưa thấy hết sự đa dạng của các nghề thủ công chính là một trong những động lực quan trọng trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của nhiều cộng đồng, là một trong những nhân lõi để giữ gìn bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia khi bước vào quá trình toàn cầu hoá Chúng ta cũng chưa hiểu sâu sắc những băn khoăn, trăn trở, những thách thức của những người thợ thủ công khi bước vào nền kinh tế thị trường
Chúng ta đang cố gắng thu thập nhiều thông tin về các nghề thủ công và về bản thân những người thợ thủ công Chúng ta đang tìm nhiều cách tiếp cận với vấn đề, cả cách tiếp cận cổ điển lẫn cách tiếp cận mới, cả việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào nghiên cứu Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã đề xuất sử dụng phương pháp tiếp cận Photovoice (tiếng nói của hình ảnh) cho dự án Bảo tồn giá trị truyền thống của các nghề thủ công này Đây là một cách tiếp cận mới lấy thông tin từ cơ
sở, từ những người thợ thủ công thông qua việc tham gia của chính bản thân họ vào công cuộc nghiên cứu bằng việc tự.chụp ảnh và bày tỏ những mối quan tâm của mình Dự án thí điểm này chọn mẫu là một làng thủ công của người Kinh, có tính
Trang 6chuyên nghiệp cao ở đồng bằng Bắc bộ và một làng của một dân tộc thiểu số, người Lào, mà nghề thủ công có giá trị cao nhưng còn mang tính tự cấp, tự túc và làm theo mùa vụ khi rỗi rãi
Chúng tôi hy vọng Dự án thí điểm này sẽ cung cấp cho chúng ta một cách nhìn mới về nghề thủ công và về những người thợ thủ công Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên phương pháp mới này được áp dụng ở Việt Nam nên không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong được các cơ quan, tổ chức
và bạn đọc đóng góp ý kiến để có thể ngày càng hoàn chỉnh cách tiếp cận mới này nhằm phục vụ cho những nghiên cứu tiếp trong tương lai
Chúng tôi cũng hy vọng cuốn sách này sẽ đem tới các cấp chính quyền, các hiệp hội nghề thủ công và đặc biệt là những làng nghề thủ công truyền thống những thông tin cần thiết để áp dụng trong việc bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa trong các sản phẩm thủ công truyền trống của địa phương mình
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp ở Cục CBNLS&NM, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và JICA
đã tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện dự án này Xin cảm ơn các cấp lãnh đạo xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh và
xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt, chúng tôi xin cảm ơn những người thợ gò đồng làng Đại Bái và những người thợ dệt bản Na Sang 2 đã làm cho dự án này trở thành hiện thực Không
có sự hưởng ứng tham gia nhiệt tình và đầy trách nhiệm của họ, phương pháp nghiên cứu Photovoice đã không thể có kết quả Đồng thời, xin cảm ơn các nhà nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tư vấn về phỏng vấn và ghi âm, TS Frank Proschan, giáo viên đào tạo chụp ảnh Đoàn Bảo Châu và điều phối viên Claire Burkert vì sự thành công của Dự án này
Trang 7Nhóm tác giả
Trang 8và thực trạng của nhiều ngành nghề thủ công ở các địa phương khác nhau Trong khi đó, những người thợ thủ công vốn có kỹ năng và tri thức nghề nghiệp, nhưng còn rất lúng túng trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thị trường, hay trong giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển các nghề thủ công Họ cần được các cơ quan, ban, ngành có liên quan giúp đỡ Chúng ta hiểu rằng, nghề thủ công truyền thống không chỉ tạo ra các sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, tạo nguồn
Trang 9thu nhập cho người dân, mà còn có những giá trị văn hoá có ý nghĩa to lớn, nhất là đối với hệ thống các Bảo tàng và các cơ
quan nghiên cứu Chính vì vậy, Dự án Bảo tồn giá trị truyền thống của các nghề thủ công đã được đề xuất để nghiên
cứu
2 Mục tiêu của dự án dự án
Bảo tồn giá trị truyền thống của các nghề thủ công đề ra mục tiêu là phải xác định được các giá trị truyền thống của nghề thủ công tại bản Na Sang 2 (xã Núa Ngam, huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu) và làng Đại Bái (xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)* Dự án này áp dụng thí điểm một phương pháp tiếp cận mới có tên gọi là Photovoice (Tiếng nói của hình ảnh) Đây là phương pháp được bắt đầu trong một dự án nghiên cứu về sức khoẻ phụ nữ ở Trung Quốc do Quỹ Ford tài trợ vào những năm 1990 Những người phụ nữ được đề nghị chụp ảnh về những thách thức lớn nhất đối với sức khoẻ của
họ Khi dự án kết thúc, những người thiết kế dự án đã rất ngạc nhiên khi được biết về những thông tin và mối quan tâm về sức khoẻ của những người phụ nữ mà trước đây họ chưa từng được biết đến Từ đó, phương pháp này được những nhà thiết
kế dự án phát triển và những nhà nhân học sử dụng với mong muốn thu thập được những tri thức bản địa theo bản báo cáo tóm tắt dự án Photovoice của Uỷ ban bảo vệ thiên nhiên Vân Nam (Trung Quốc), phương pháp Photovoice có ba mục tiêu chính: 1) ghi lại hình ảnh và phản ánh thế mạnh và những mối quan tâm của cá nhân và của cộng đồng; 2) khuyến khích trao đổi và nâng cao tri thức về các vấn đề của cá nhân và cộng
*
Từ đây trở đi sẽ viết tắt là "bản Na Sang 2" và "làng Đại Bái" cho ngắn gọn
Trang 10đồng thông qua các cuộc thảo luận nhóm về những bức ảnh; 3) đưa ra đề xuất cho những nhà hoạch định chính sách Với phương pháp này, người dân có thể xác định, thể hiện và phát triển cộng đồng của mình thông qua những kỹ thuật chụp ảnh
cụ thể Đây là một phương pháp nghiên cứu tham gia và xây dụng nguồn lực đầy sáng tạo nhằm giúp cho các thành viên trong cộng đồng tự chụp ảnh và kể những câu chuyện của mình và sử dụng ảnh và câu chuyện để thông báo với những nhà hoạch định chính sách về những vấn đề họ quan tâm ở cấp độ địa phương Chính vì thế, trong dự án Bảo tồn giá trị truyền thống của các nghề thủ công, những người thợ thủ công
ở bản Na Sang 2 và làng Đại Bái được giao máy ảnh để tự chụp các bức ảnh về cuộc sống, về nghề nghiệp của mình và thể hiện những ý tưởng qua ảnh, qua các cuộc phỏng vấn, trao đổi với những nhà nghiên cứu và qua các cuộc thảo luận nhóm giữa những người thợ thủ công với nhau
Từ kết quả của phỏng vấn, trao đổi về nội dung của những bức ảnh với những người thợ thủ công ờ địa phương, chúng ta
có thể xác định được các giá trị truyền thống của các nghề thủ công và thấy được sự quan tâm của người dân đối với vấn đề bảo tồn và phát triển nghề thủ công đó như thế nào Điều đó cũng sẽ có ích trong việc nâng cao nhận thức và hiểu biết của người dân với vấn đề bảo tồn và phát triển nghề thủ công của làng mình Những người thợ thủ công tham gia dự án sẽ trở thành những tuyên truyền viên tích cực trong cộng đồng, cùng nhau bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của nghề và làng nghề Bên cạnh đó, dự án còn có mục đích thu thập và lưu giữ các tài liệu hình ảnh và các kết quả phỏng vấn về các nghề thủ công, từ đó xây dựng các tài liệu nghiên cứu để hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách trong việc thiết kế các chính sách bảo tồn, phát triền ngành nghề thủ công truyền
Trang 11thống ở Việt Nam trong hiện tại và trong tương lai, phù hợp với những mong muốn và điều kiện ở mỗi địa phương
+ Đoàn Bảo Châu (Đào tạo chụp ảnh)
+ TS Frank Proschan (Viện Smithsonian, Hoa Kỳ, Tu vấn
về phỏng vấn và ghi âm)
- Điều phối viên dự án: Bà Claire Burkert
4 Khung thời gian nghiên cứu
Dự án Photovoice được bắt đầu tiến hành từ tháng 12/2002 đến tháng 9/2003 Các hoạt động của dự án tại bản
Na Sang 2 và làng Đại Bái được tóm tắt như sau: tháng 12/2002: Lựa chọn địa điểm nghiên cứu và tiến hành đào tạo chụp ảnh cho những người thợ thủ công (18 - 20 người ở mỗi địa điểm)
‐ Tháng 1/2003 đến tháng 3/2003: những người thợ thủ công tham gia dự án tiến hành chụp ảnh theo các chủ đề Các
Trang 12nhà nghiên cứu phỏng vấn các vấn đề liên quan đến các bức ảnh
‐ Tháng 4/2003: Các học viên rút kinh nghiệm từ các công việc của mình khi xem lại một số bức ảnh và câu trích tốt/không tốt thông qua việc chiếu ảnh lên màn hình và những người thực hiện dự án thu nhận các ý kiến phản hồi
‐ Tháng 8/2003: Viết báo cáo về phương pháp của dự án Photovoice Tổ chức trưng bày kết quả dự án tại bản Na sang 2 và tại làng Đại Bái để thu nhận những ý kiến phản hồi của những người tham gia dự án và dân làng
‐ Tháng 9/2003: Tổ chức hội thảo báo cáo kết quả dự án và trưng bày giới thiệu 2 nghề thủ công ở 2 địa điểm triển khai
dự án tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỰ ÁN PHOTOVOICE
1 Việc lựa chọn địa điểm để thục hiện dự án
Mục tiêu để lựa chọn địa điểm tiến hành dự án tại Lai Châu
và Bắc Ninh đã được thảo luận giữa các thành viên tham gia với chủ nhiệm dự án và điều phối viên dự án Mỗi nơi có những
Trang 13hoàn cành, điều kiện riêng nên việc vận dụng tiêu chí lựa chọn cũng có những mặt khác nhau
a) Lựa chọn địa điểm nghiên cứu ở Lai Châu: Bản Na Sang 2
Các tiêu chí để lựa chọn bao gồm:
‐ Làng có thể có ít nghề hoặc nhiều nghề
‐ Làng có thể có nhiều hay chỉ một dân tộc thiểu số sinh sống
‐ Làng nghèo hoặc làng đã khá sung túc
‐ Làng có điều kiện đi lại dễ dàng
‐ Nghề thủ công của làng có tiềm năng phát triển; nghề đó có thể là nghề phụ hay nghề là nguồn sống chính của cư dân Sau một thời gian nghiên cứu xem xét các địa điểm tại huyện Phong Thổ và huyện Tủa Chùa, chúng tôi đã đi đến quyết định chọn nghề dệt của người Lào ở bản Na Sang 2, xã Núa Ngam, huyện Điện Biện, tỉnh Lai Châu làm địa bàn thực hiện Bản Na Sang 2 có các nghề thủ công truyền thống như nghề đan lát, nghề rèn, nghề dệt, trong đó nghề dệt được phát triển hơn cả Là bản của đồng bào dân tộc Lào, lại ít được biết đến, các sản phẩm của người dân làm ra chưa được tiêu thụ trên thị trường, mà chủ yếu để phục vụ trong phạm vi gia đình, nên việc giới thiệu các giá trị truyền thống của họ thông qua nghề dệt là rất cần thiết Việc phát triển kinh tế hàng hoá đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của nghề dệt
ở đây Theo nhân dân kể lại, một số mẫu mã hoa văn truyền thống một thời kỳ đã được người Lào (ở nước Lào) tìm mua một cách ồ ạt Vì vậy, trong bản hiện nay, những mẫu hoa văn
cổ chỉ còn lại rất ít Bản thân chị em người Lào mặc những chiếc váy có hoa văn truyền thống của họ, nhưng lại được in công nghiệp do chính những người nước Lào mang đến tiêu thụ Trong khi nghề truyền thống đang dần bị mai một, thế hệ
Trang 14trẻ ít biết được các cách nhuộm truyền thống cũng như ý nghĩa của các mô típ hoa văn, thì kỹ năng và hiểu biết về nghề vẫn còn tồn tại ở thế hệ già Họ vẫn còn giữ được các tri thức dân gian trong việc tạo nguyên liệu và xử lý nguyên liệu Chỉ tiếc rằng, những người này không còn là bao Vậy nên, việc khai thác tri thức và kinh nghiệm truyền thống từ lớp người này trở nên cực kỳ cấp thiết
b) Lựa chọn địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Bắc Ninh
Làng gò đồng Đại Bái, ngoài việc là một làng nghề có truyền thống lâu đời có nhiều sản phẩm hàng hoá có giá trị, có thị trường ổn định, còn được lựa chọn vì những lý do sau:
‐ Sự mong muốn của người dân và chính quyền cơ sở Chính quyền địa phương và các hộ làm nghề thủ công muốn giới thiệu sản phẩm, khôi phục và bảo tồn các sản phẩm truyền thống của làng nghề
‐ Làng nghề Đại Bái đang mất dần thợ giỏi Làng Đại Bái có
10 nghệ nhân được nhà nước công nhận "Bàn tay vàng"
Họ là những người tài hoa, nắm được nhiều kỹ năng truyền thống Tuy nhiên, phần lớn trong số đó đã qua đời, hoặc già yếu, đời sống khó khăn, lại không được giúp đỡ để tiếp tục sáng tác làm nghề và truyền nghề Lớp thợ trẻ chỉ được học nghề theo phương thức "cha truyền con nối", không qua trường lớp để nâng cao hiểu biết sâu sắc về nghề nghiệp, cũng không được khuyến khích, giúp đỡ, nên không yên tâm với nghề vì thu nhập thấp và không ổn định Vì thế, tài năng cũ mất dần, tài năng mới rất ít nảy nở
‐ Làng nghề đang mất dần truyền thống Cùng với sự mất dần của những tài năng cũ, những tri thức truyền thống trong nghề cũng mai một theo Những người thợ già trong làng do sức khoẻ yếu không làm nghề nữa, các phong cách
Trang 15sáng tạo cùng với các bí quyết và kỹ xảo của nghề lâu ngày không sử dụng bị lãng quên, thêm vào đó là sự cố hữu nghề nghiệp không muốn truyền nghề cho người ngoài đã làm cho nghề gò đồng có nguy cơ không phát triển được Trong khi đó, lớp thợ trẻ ít hiểu biết về lịch sử làng nghề, ít hiểu giá trị của sản phẩm truyền thống mà thích làm hàng
"chợ", thích bắt chước mẫu mã của nước ngoài, của nơi khác theo đơn đặt hàng Dần dần, các kỹ năng, các sản phẩm, hoa văn, mẫu mã truyền thống bị lãng quên như mặt hàng mâm đồng hình bát giác, ống bút, ấm siêu, v.v
‐ Mất dần tiềm năng Hàng thủ công gò đồng Đại Bái vốn được người tiêu dùng ưa chuộng chủ yếu ở giá trị của nghệ thuật thủ công gò, chạm khắc, ghép tam khí, đánh bóng bằng tay, nhưng nay người dân đang chuyền dần sang sử dụng máy móc mà không kế thừa được những tri thức truyền thống Khi kỹ thuật thủ công bị mất dần cùng với tình trạng chất lượng kém thì khả năng xuất khẩu sẽ thu hẹp và tiềm năng sẽ không phát huy được
‐ Làng gò đồng Đại Bái đang mất dần các di sản văn hoá Các giai thoại liên quan đến tổ nghề, những kỹ thuật, bí quyết, kinh nghiệm dân gian, những "mẹo vặt" (trong các tri thức dân gian) của các nghệ nhân cao tuổi, tuy rất đơn giản nhưng khó có thể biết được nếu họ mất đi Các công cụ truyền thống làm nghề qua nhiều thời kỳ bị vứt bỏ, không ai lưu giữ Những sản phẩm độc đáo như mâm đồng, mâm chổ hình bát giác, lư hương, bát hương, nồi đồng - có giá trị lịch sừ và văn hoá bị thất tán cùng với nạn buôn đồ cổ Hiện nay, các sản phẩm truyền thống của làng nghề đang trong quá trình khôi phục lại, nhưng giá trị nghệ thuật và chất lượng sản phẩm đang bị giảm sút do không kế thừa được những mẫu mã truyền thống
Trang 16‐ Những thách thúc làng nghề đang gặp phải Làng nghê gò đồng Đại Bái đang đứng trước một thách thức mới: đó là nạn ô nhiễm môi trường trong phạm vi làng nghề do nguyên liệu tốt ngày càng hiếm, buộc người dân phải thu gom phế liệu để nấu nguyên liệu bán cho các hộ làm nghề trong làng
để làm ra các sản phẩm nhôm, đồng bán cho người tiêu dùng Ngoài ra, các hộ làm nghề còn thiếu thông tin vê thị trường tiêu thụ, thiếu hiểu biết về giá trị sản phẩm; đồng thời, người mua sản phẩm cũng thiếu thông tin về làng nghề Trong khi một số hộ trong làng rất giàu, một số hộ khác cũng làm nghề vẫn còn rất nghèo
‐ Thiếu tiếng nói từ người dân Những công trình nghiên cứu trước đây về làng nghề gò đồng Đại Bái chưa thục sự quan tâm tới tiếng nói của người dân địa phương, không nêu được những thách thức người dân đang gặp phải ngày hôm nay cũng như định hướng phát triển của làng nghề Vì vậy, dự án nghiên cứu thí điểm này mong muốn
bổ sung những thiếu sót đó để góp phần giúp người dân tìm hướng đi cho mình
2 Lựa chọn các thành viên địa phương tham gia dự án
Các thành viên địa phương được lựa chọn dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định Trước hết, họ phải là những người thợ thủ công (chuyên nghiệp hay theo mùa vụ) trong làng và phải tham gia trên tinh thần tự nguyện Những thành viên tham gia gồm nhiều lứa tuổi và đa dạng về giới Có những thợ thủ công lành nghề cao tuổi, đồng thời có những người thợ trẻ mới vào nghề Cả đàn ông và phụ nữ đều có mặt trong thành phần của
dụ án Tuy nhiên, thực tế ở bản Na Sang 2 không đáp ứng được hết các yêu cầu đã đề ra ban đầu Những người tham gia
dự án chủ yếu là những người trẻ, bởi vì những người già
Trang 17thường sống trong lán xa bản (gần nương rẫy) để trông coi nương và chăn nuôi gia súc, gia cầm, không có thời gian để tham gia dự án Với đặc thù nghề dệt là nghề phụ của nữ giới nên dự án tập trung chủ yếu vào đối tượng này Trong số 20 thành viên tham gia lớp tập huấn chụp ảnh có 15 phụ nữ và 5 nam giới
Ở làng Đại Bái, sự phân công lao động trong nghề gò đồng
đã rất chuyên môn hóa nên 18 thành viên được lựa chọn để tham gia dự án là những người thợ thủ công đại diện cho các công đoạn sản xuất khác nhau và tạo ra các sản phẩm khác nhau, hay là những người tham gia vào thị trường và buôn bán
Họ bao gồm cả đàn ông, phụ nữ, người già, người trẻ Mỗi thành viên tham gia dự án có những điểm mạnh, yếu khác nhau và họ bổ sung cho nhau Ví dụ, những người già có kiến thức sâu rộng về làng nghề nhưng lại gặp khó khăn khi sử dụng máy ảnh Ngược lại, những người trẻ tiếp thu rất nhanh cách sử dụng máy ảnh lại ít hiểu biết về lịch sử làng nghề, về các công cụ, kỹ thuật nấu đồng, đánh bóng sản phẩm theo truyền thống, v.v Chính vì vậy, việc lựa chọn những người tham gia thuộc nhiều lứa tuổi là rất cần thiết vì không những họ
bổ sung cho nhau về mặt kỹ thuật chụp ảnh mà còn chia sẻ với nhau những tri thức truyền thống nữa
3 Thiết lập các mối quan hệ với dân làng và chính quyền
sở tại
Nhận thức rõ sự cần thiết phải có sự hợp tác, giúp đỡ của chính quyền địa phương và của người dân trong quá trình thực hiện dự án nên ngay từ đầu, chúng tôi đã xác định phải thiết lập được những mối quan hệ tốt với người dân và với chính quyền
sở tại ngay trong chuyến đi đầu tiên, các cán bộ của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và cán bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát
Trang 18triển Nông thôn đã tiến hành các bước thủ tục hành chính đối với các ban ngành có liên quan, báo cáo với chính quyền cấp huyện, xã và đã được các cấp ủng hộ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng hiểu rằng, sự thành công hay thất bại của dự án phụ thuộc rất nhiều vào sự cộng tác giúp đỡ của dân làng nên trong mỗi chuyến công tác, chúng tôi đều dành buổi tối đầu tiên đến làng, bản để chào hỏi, gặp gỡ và bàn bạc với người dân về quá trình tiến triển của dự án và sắp xếp kế hoạch làm việc cho những ngày tiếp theo
Chúng tôi đã tuân theo một số nguyên tắc về hợp tác vớt chính quyền sở tại và với người dân địa phương Đó là:
‐ Xây dựng mối quan hệ tốt với người dân địa phương
‐ Hợp tác với các cơ quan hữu quan, các đoàn thể, các nhà nghiên cứu
‐ Tôn trọng nền văn hoá của cư dân địa phương
‐ Tôn trọng các đối tượng nghiên cứu
‐ Tạo điều kiện để người dân địa phương nói về văn hoá, về nghề thủ công của họ
‐ Thâm nhập và nghiên cứu về đời sống vật thể cũng như phi vật thể của người dân địa phương để hiểu thêm về văn hoá của họ
‐ Đoàn kết, phát huy năng lực của các thành viên trong nhóm
dự án để hoàn thành công việc có hiệu quả
Các nguyên tắc trên đã được chúng tôi thực hiện nghiêm túc trong suốt quá trình thực hiện dự án Chúng tôi đã thiết lập được mối quan hệ với chính quyền địa phương, nhất là ở cấp
xã và đặc biệt là với dân làng Chúng tôi đã nhận được nhiều
sự giúp đỡ có hiệu quả từ phía họ
Trang 194 Giao máy ảnh và hướng dẫn chụp ảnh
Như đã đề cập ở trên, với phương pháp Photovoice, dự án
đã cung cấp cho các nhóm thợ thủ công loại máy ảnh tự động,
dễ chụp như máy Olympus Meji và máy Canon Khi dự án bắt đầu được triển khai vào tháng 12/2002, các cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng dân tộc học Việt Nam và giáo viên dạy chụp ảnh Đoàn Bảo Châu đã tiến hành hướng dẫn cách chụp ảnh cho những người tham gia dự án lại bản Na Sang 2 và làng Đại Bái những người thợ thủ công được học lý thuyết về máy ảnh và cách chụp ảnh, sau đó được thực hành chụp ảnh Phần nhiều thời gian được dành cho việc thực hành
5 Quá trình đào tạo chụp ảnh
a) Phương pháp học chụp ảnh
Chúng tôi tổ chức 4 buổi tập huấn cho các học viên ở mỗi nhóm, trong đó buổi sáng học lý thuyết, buổi chiều các học viên
tự do chụp ảnh Chúng tôi dạy kỹ thuật chụp ảnh qua máy ảnh
kỹ thuật số để đưa ảnh vào máy vi tính phân tích ngay nội dung, chất lượng những bức ảnh do học viên chụp và cùng nhau đánh giá những ảnh nào đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu Sau hai ngày thực hành trên máy ảnh kỹ thuật số, các học viên chuyển sang dùng máy ảnh tự động để chụp Do không đủ mỗi người một máy ảnh, chúng tôi bố trí cho những người chưa nắm vững kỹ thuật chụp được nhận máy trước để họ không bị quên kiến thức, sau đó chuyển máy ảnh cho các thành viên khác và cứ làm như vậy cho đến hết tháng 6/2003
Giáo viên hướng dẫn chụp ảnh thực hiện những nhiệm vụ sau:
‐ Hướng dẫn cách sử dụng máy ảnh, bao gồm cách thao tác, cách tháo lắp phim, lấy tiêu cự, cách cầm máy ảnh, v.v
Trang 20‐ Giới thiệu với nhóm tập huấn một số bức ảnh mẫu như ảnh chụp cận cảnh thao tác bằng tay của nghệ nhân trong quá trình sản xuất hàng thủ công; sản phẩm truyền thống và đương đại cùng với các họa tiết đi kèm ảnh về hoạt động
b) Định hướng chủ đề chụp ảnh
Bên cạnh việc hướng dẫn kỹ thuật chụp ảnh, chúng tôi lựa chọn một số chủ đề chụp ảnh để định hướng cho những người thợ Cụ thể, tại bản Na Sang 2, những người thợ thủ công đã được định hướng chụp ảnh theo 7 chủ đề sau:
1 Bảo tồn văn hoá truyền thống ở làng
2 Sản xuất thủ công truyền thống ở làng
3 Mô típ hoa văn và ý nghĩa của hoa văn
4 Sử dụng sản phẩm
5 Xử lý nguyên liệu
6 Phân công lao động và chuyên môn
7 Thị trường và những thay đổi trong kỹ thuật chế tác
Trang 21Các chủ đề gợi ý chụp ảnh ở làng Đại Bái cơ bản cũng giống như trên nhưng được vận dụng và cụ thể hoá hơn đối với một làng nghề mang tính chuyên nghiệp cao như sau:
1 Bảo tồn văn hoá truyền thống: Trong làng, người dân ước muốn bảo tồn cái gì cho thế hệ tương lai? Làng Đại Bái có gì đặc biệt: nghề thủ công, đình, chùa?
2 Sản xuất thủ công truyền thống trong làng: Những công
cụ và kỹ thuật truyền thống đã trải qua nhiều thế hệ, những nghệ nhân trong làng
3 Quy trình và nguyên liệu: Nguyên liệu được sử dụng như thế nào, quy trình các bước sản xuất thủ công
4 Phân công lao động và chuyên môn: Các công việc khác nhau do đàn ông, phụ nữ, trẻ em đảm nhiệm
5 Sử dụng sản phẩm thủ công Đại Bái trong đời sống: Sử dụng trong đình chùa, lễ hội và trong đời sống hàng ngày ở địa phương
6 Những thay đổi và những thách thức của làng nghề: nguyên liệu, môi trường, sức khoẻ, giá trị văn hoá truyền thống
7 Thị trường mua bán nguyên liệu và thành phẩm
Đó là những chủ đề lớn mà các thành viên dự án đã thực hiện một cách sáng tạo và phù hợp với những điều kiện cụ thể
Trong quá trình hướng dẫn những người thợ thủ công chụp ảnh, chúng tôi thấy nhóm thợ cao tuổi am hiểu về lịch sử làng nghề và quyết định giao máy ảnh cho họ để họ chụp ảnh về nghề thủ công truyền thống Các thành viên khác được chọn các chủ đề chụp ảnh mà họ yêu thích nhưng vẫn thuộc 7 chủ đề đã
Trang 22quy định nhằm bao quát được tất cả các chủ đề Làm như vậy, người chụp ảnh không bị bó hẹp về chủ đề mà được tự do chụp theo ý mình nên có được những bức ảnh đa dạng, phong phú
Khi dự án kết thúc, chúng tôi đã thu lại toàn bộ máy ảnh và nhập cho phòng Kỹ thuật của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
để bảo quản và quản lý
d) Phim chụp
Thông thường, mỗi đợt một người chỉ chụp một cuộn phim Tuy nhiên, nếu người nào có nhu cầu chụp nhiều hơn thì chúng tôi đều đáp ứng Ở bàn Na Sang 2, rất ít người chụp hơn một cuộn phim/đợt vì trong suốt 6 tháng thực hiện chụp ảnh và phòng vấn, người dân đều bận bịu với công việc nương rẫy Các phim chụp được để thành từng túi phim và được bảo quản tại phòng Kỹ thuật của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam Trên mỗi túi phim có ghi rõ địa điểm, tên người chụp, thời gian chụp
để tránh sự nhầm lẫn
e) Ảnh
Những cuộn phim thu về đều được in tráng, kể cả những kiểu chưa đạt Sau đó, chúng tôi mang ảnh của từng người đến địa phương cho họ xem lại và cùng nhau nhận xét để nhận ra được các ưu điểm và nhược điểm về các bức ảnh của họ Chính vì vậy, ảnh càng về sau càng có chất lượng tốt hơn Khi
Trang 23tráng rửa ảnh xong, chúng tôi đã chọn sơ bộ những bức ảnh tốt (có ảnh tốt về kỹ thuật, có ảnh tốt về nội dung) và đánh dấu để phỏng vấn Với mỗi nơi, trong số 10 cuộn phim thu được của mỗi đợt, chúng tôi đã tiến hành chọn lựa khoảng 20 - 24 bức ảnh có bố cục, ánh sáng tốt và có nội dung để phóng cỡ 20cm
30 cm làm mẫu cho mọi người cùng xem và nhận xét Tất cả các ảnh đều được lưu giữ tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Để tránh nhầm lẫn ảnh của các cá nhân và các đợt chụp, mỗi bức ảnh đều có lý lịch riêng, nội dung phỏng vấn về bức ảnh được ghi tóm tắt và bức ảnh được đánh dấu bằng mã số Ví dụ, với nhóm dự án ở bản Na Sang 2, chúng tôi dùng các hệ thống
mã số như: NSI - 2- 1 3 (NSI = Na Sang đợt 1; 2 = số thứ tự của học viên trong nhóm, ví dụ đó là chị Lò Thị Biên; 13 = kiểu ảnh
số 13) (Xem ví dụ về mẫu hồ sơ ảnh lưu trữ ở phụ lục 1)
Với nhóm dự án ở làng Đại Bái, cán bộ Bảo tàng ghi tên người chụp ở phía sau ảnh theo ký hiệu: ĐB: 01-1- 10 (ĐB = Đại Bái, 01 = ảnh chụp tháng 1; số 1 = số thứ tự tên người chụp có trong danh sách (ông Nguyễn Xuân Hiếu), số 10 = số thứ tự bức ảnh trong cuộn phim)
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Phỏng vấn
a) Phương pháp phỏng vấn
Trong dự án này, chúng tôi tiến hành phỏng vấn để lấy thông tin dựa trên những bức ảnh mà những người thợ thủ công đã chụp là chủ yếu Chúng tôi muốn tìm hiểu xem những người thợ thủ công nghĩ gì về cuộc sống, về nghề của họ thông qua những bức ảnh mà họ chụp Chúng tôi áp dụng hai hình thức phỏng vấn là phỏng vấn không chính thức và phỏng vấn chính thức
Trang 24Phỏng vấn không chính thức là cách nói chuyện với người dân mà không chuẩn bị đề cương hoặc không kiểm soát nội dung Người phỏng vấn nhớ lại các câu chuyện trên cơ sở ghi nhanh lúc phỏng vấn Cách phỏng vấn này thích hợp với các cuộc phỏng vấn tại hiện trường, phỏng vấn làm quen với người dân và người cung cấp thông tin Chúng tôi đã thu thập được nhiều thông tin hồi cố về lịch sử của bản làng, của nghề dệt và nghề đúc đồng truyền thống và các thông tin khác liên quan đến cuộc sống của những người thợ thủ công nhờ phương pháp này
Phỏng vấn chính thức là những cuộc phỏng vấn trong đó chúng tôi có chuẩn bị sẵn một số nội dung Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn vẫn có nhiều vấn đề nảy sinh cần được làm rõ Ví dụ, trong mỗi chuyến công tác, chúng tôi chọn khoảng 100 bức ảnh có nội dung và bố cục tốt để lên kế hoạch phòng vấn Chúng tôi không dùng bảng câu hỏi mà chỉ dùng bảng hướng dẫn phỏng vấn cho trong bức ảnh để trong quá trình hỏi còn có thể gợi mở ra nhiều vấn đề khác (Xem Phụ lục 2)
Một điều lưu ý là trong quá trình phỏng vấn những người thợ thủ công, chúng tôi cố gắng đặt các câu hỏi có câu trả lời
mở và tránh các câu hỏi đóng có câu trả lời "có" - "không" Chúng tôi cố gắng tỏ ra với người được phỏng vấn là chúng tôi đang lắng nghe họ và rất quan tâm đến điều họ đang nói Chúng tôi cố gắng ghi chép tỉ mỉ những điểm mà chúng tôi cho
là cần phải hỏi lại Chúng tôi luôn tỏ ra tôn trọng và biết ơn người mình phỏng vấn bằng cách luôn xin phép họ trước khi ghi âm hay chụp ảnh
b) Thực hiện phỏng vấn tại địa phương
Trang 25Phỏng vấn tại địa phương về nội dung các bức ảnh mà những thợ thủ công đã chụp là một phần quan trọng của công tác nghiên cứu trong dự án này Các cán bộ nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trong khoảng thời gian từ tháng 12/2002 đến tháng 6/2003 Ban đầu các cuộc phỏng vấn thường được tổ chức ở nhà trưởng bản (như trường hợp ở bản Na Sang 2), hay ở đình làng (như trường hợp ở làng Đại Bái) Chúng tôi đã nghĩ rằng, nếu tổ chức phỏng vấn ở nhà trưởng bản hay ở đình
sẽ giúp cho những người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái
vì họ không bị chi phối bởi các công việc trong gia đình như nấu nướng hay trông con cháu Tuy nhiên, kết quả thực tế đã chứng minh điều ngược lại là ở cả bản Na Sang 2 và làng Đại Bái, người dân đều cảm thấy không thoải mái, không tự tin khi trả lời các câu hỏi phỏng vấn của chúng tôi ở môi trường mà chúng tôi chọn Chính vì vậy, chúng tôi đã rút kinh nghiệm và tiến hành phỏng vấn ở tại các gia đình để họ cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi trả lời các câu hỏi
Bên cạnh việc phỏng vấn những người thợ thủ công trực tiếp tham gia dự án, chúng tôi cũng tranh thủ khai thác thêm thông tin từ những người thợ không có điều kiện tham gia dự
án Trước tháng 2/2003, chúng tôi chỉ có 4 ngày/tháng ở địa phương nên kết quả phỏng vấn không được như ý muốn Từ tháng 3/2003, chúng tôi đã dành 8 ngày/tháng để phỏng vấn những người thợ thủ công Chúng tôi nhận thấy việc dành nhiều thời gian ở điền dã rất quan trọng vì nó cho phép chúng tôi có điều kiện gần gũi với dân hơn, làm cho dân hiểu mục đích công việc của chúng tôi hơn, dần dần xây dựng được niềm tin trong cộng đồng, từ đó dễ dàng quan sát, thu thập, khai thác và kiểm chứng thông tin hơn Một điều đáng lưu ý nữa là nhiều người cảm thấy không thoải mái khi chúng tôi vừa phỏng vấn, vừa ghi âm những lời nói của họ Qua kết quả phỏng vấn, chúng tôi đã nhận ra rằng các cuộc phỏng vấn
Trang 26không ghi âm cho kết quả tốt hơn các cuộc phỏng vấn có ghi
âm
Với những bức ảnh đạt yêu cầu về nội dung, chúng tôi ghi những ý chính cần phỏng vấn ra tờ giấy nhắc việc màu vàng rồi dán vào phía sau tấm ảnh để giúp chúng tôi dễ dàng mở rộng nội dung các câu hỏi Chúng tôi hạn chế các câu hỏi miêu tả
mà cố gắng nêu các câu hỏi khơi gợi sự suy nghĩ, nhận xét, đánh giá, phân tích đối với người được hỏi, như: "Bức ảnh này anh muốn truyền tải nội dung gì cho người xem về làng nghề của mình?" hoặc "Nội dung bức ảnh anh chụp muốn nói lên điều gì?" Tuỳ từng bức ảnh mà chúng tôi có các câu hỏi linh hoạt và tuỳ thuộc vào khả năng trả lời của người được phỏng vấn mà chúng tôi thay đổi câu hỏi cho phù hợp Có bức ảnh chúng tôi phỏng vấn người chụp trong vòng 20 phút, nhưng cũng có bức ảnh chỉ phỏng vấn trong 10 phút Như đã nói ở trên, chúng tôi luôn tôn trọng chủ thể văn hoá nên trong trường hợp có những người trả lời phỏng vấn không thích cho chúng tôi thu âm, chúng tôi chỉ ghi chép tốc ký những lời phát biểu của
họ vào trong sổ tay điền dã mà không hề ép buộc họ
Những người thợ thủ công tham gia dự án thuộc các lứa tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp khác nhau nên chúng tôi không thể đặt các câu hỏi phỏng vấn giống nhau, cho dù đối với những bức ảnh có cùng nội dung Khi lên lịch làm việc và đặt câu hỏi phỏng vấn, chúng tôi cũng tính đến tâm lý của từng người thợ Với những người bận công việc, chúng tôi dành thời gian phỏng vấn vào buổi tối hoặc buổi trưa để tránh ảnh hưởng đến công việc chuyên môn của họ Điều đó đã được những người thợ thủ công ủng hộ và công việc của chúng tôi cũng trở nên suôn sẻ hơn
Mặc dù chúng tôi có sử dụng máy ghi âm trong các cuộc phỏng vấn, nhưng ghi chép là phần không thể thiếu được trong công việc của chúng tôi nơi điền dã Trong quá trình phỏng vấn,
Trang 27chúng tôi luôn tạo ra môi trường thật thoải mái cho người trả lời phỏng vấn bằng cách chú ý lắng nghe, tán đồng và luôn tỏ ra tôn trọng những thông tin mà họ cung cấp Ngay cả khi chọn vị trí để phỏng vấn, chúng tôi cũng không ngồi trên ghế cao hơn những người được phỏng vấn để tránh cho họ những cảm giác thua kém, tự ti và không cởi mở Những điều tưởng chừng nhỏ nhặt như vậy những rất quan trọng đối với sự thành bại của cuộc phỏng vấn nên các nhà nghiên cứu điền dã không thể không chú ý tới: Chúng tôi nhận thấy rằng, một khi đối tượng nghiên cứu đã hiểu và thông cảm với công việc của nhà nghiên cứu và bước vào cuộc phỏng vấn với tâm trạng thoải mái thì cuộc phỏng vấn sẽ có thể cho kết quả tốt
c) Ghi chép sau chuyến công tác
Một điều quan trọng không thể thiếu được đối với một nhà nghiên cứu điền dã là ghi chép và phân tích số liệu trong và sau khi đi điền dã Sau mỗi chuyến đi, chúng tôi đều ghi chép theo những mẫu được chuẩn bị riêng cho dự án này Mẫu ghi chép này do bà Claire Burkert soạn và chúng tôi bổ sung thêm cho phù hợp với hoàn cảnh từng chuyến đi công tác (Xem ví dụ
cụ thể từ một chuyến đi ở phần Phụ lục 3) Ngoài ra, chúng tôi còn có mẫu để gỡ băng và quản lý băng (Xem Phụ lục 4) Nhìn chung, các thông tin thu được từ quá trình nghiên cứu, phỏng vấn khá phong phú Ở bản Na Sang 2, chúng tôi đã thu thập được tư liệu về quy trình dệt của người Lào, từ khâu tạo nguyên liệu, chế biến nguyên liệu cho đến kỹ thuật dệt và các sản phẩm Đặc biệt, chúng tôi đã ghi lại được nhiều câu chuyện liên quan đến các mô típ hoa văn hình động vật thể hiện văn hoá và tín ngưỡng của người Lào
Như đã đề cập ở trên, trong quá trình thu thập thông tin về các bức ảnh do những người thợ thủ công chụp, chúng tôi
Trang 28không dừng lại ở việc phỏng vấn những người chụp ảnh, mà còn phỏng vấn thêm những người khác trong nhóm Ví dụ, chúng tôi mang theo những bức ảnh mà chúng tôi cảm thấy người chụp chưa cung cấp đủ thông tin để hỏi thêm những người khác nữa, nhất là những bức ảnh chụp về kỹ thuật mà
có thể người chụp không am hiểu bằng những người khác lành nghề hơn Bên cạnh việc phỏng vấn lấy tin về ảnh, chúng tôi cũng đề nghị nhũng người thợ thủ công cho xem các sản phẩm truyền thống của làng nghề trước đây để tìm ra các sản phẩm tốt chuẩn bị cho cuộc trưng bày sau này tại cộng đồng và tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
2 Điều chỉnh phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu điền dã, việc thay đổi, điều chỉnh phương pháp là điều không thể tránh khỏi Đặc biệt, trong
dự án này, chúng tôi áp dụng thử nghiệm phương pháp mới Photovoice để tạo điều kiện cho người dân thể hiện suy nghĩ của mình qua hình ảnh và lời trích dẫn Sau ba tháng thực hiện
dự án, chúng tôi nhận thấy cần phải mở rộng thêm về phương pháp để có thể thu thập thông tin đa dạng hơn, vì ngoài những cuộc phỏng vấn trực tiếp khai thác thông tin từ những bức ảnh còn có một số cách khác để tìm kiếm thông tin từ nội dung ngoài bức ảnh Chúng tôi đã tổ chức một cuộc thảo luận giữa chủ nhiệm dự án với các thành viên tham gia và đã đi đến thống nhất là không nên chỉ đến làng, bản và phỏng vấn về các bức ảnh, mà chúng tôi cần dành thời gian để tìm hiểu về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Trong khi phương pháp photovoice nhấn mạnh vào việc phỏng vấn các bức ảnh, thu âm và gỡ băng thì chúng tôi thấy việc ghi âm trong phỏng vấn nhiều khi gây trở ngại cho việc khai thác thông tin ví dụ, người dân thường rất miễn cưỡng khi chia sẻ các bí quyết nghề nghiệp nếu có ghi âm Thêm vào đó, việc gỡ các cuộn băng ghi âm tốn rất nhiều thời gian Chính vì vậy, chúng tôi
Trang 29quyết định cải tiến phương pháp nghiên cứu, áp dụng linh hoạt hơn phương pháp Photovoice vào thực tế
a) Giao sổ cho cộng tác viên khai thác thông tin
Sau khi có cuộc họp giữa các nhà nghiên cứu với điều phối viên, chủ nhiệm dự án và các thành viên tham gia, chúng tôi đã
đi đến kết luận cần phải phát sổ cho những người thợ thủ công
để họ tự ghi vào đấy những thông tin liên quan đến bức ảnh họ chụp, liên quan đến nghề và những cảm xúc của họ, trước một vấn đề cụ thể Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế thi một bất cập đối với bản Na Sang 2 là đa số những người tham gia nhóm dự án đều không biết chữ; chỉ có 7/20 người gọi là biết chữ nhưng chỉ một người duy nhất biết viết thành thạo nên việc ghi chép gặp khó khăn Nhóm nghiên cứu chúng tôi đã đề nghị anh Lò Văn Phanh thực hiện việc ghi chép này Anh là trưởng nhóm dự án của cộng đồng, đồng thời là cán bộ xã và là thành viên người Lào của bản Na Sang 2 nên việc khai thác thông tin
ở những người đồng tộc sẽ có phần dễ dàng hơn Chúng tôi đã rửa những bức ảnh đẹp làm 2 bộ và giao cho anh Phanh giữ một bộ để phỏng vấn cùng với một số câu hỏi gợi ý phỏng vấn
mà chúng tôi đã chuẩn bị Tuy nhiên, cách làm này cũng không thực sự hiệu quả vì chỉ có một người duy nhất có thể làm được việc ghi chép nên lượng thông tin thu được không nhiều hơn so với các cuộc phỏng vấn trước đó Nhận thấy phương pháp này không đem lại hiệu quả cao nên ở bản Na Sang 2, chúng tôi chỉ
áp dụng trong một đợt công tác, còn những lần sau vẫn tiếp tục tiến hành phỏng vấn từng thành viên riêng hoặc theo nhóm Tình hình ở Làng Đại Bái lại có phần khác so với kinh nghiệm ở bản Na Sang 2 Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2003, chúng tôi trực tiếp phỏng vấn nội dung trên các bức ảnh của các học viên ở làng Đại Bái chụp Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện phỏng vấn chưa thật tốt nên anh Nguyễn Văn Lục, một
Trang 30thành viên của dự án đã nhận xét: "Trong 3 tháng qua, những
người tham gia dự án ngày càng thiếu tinh thần trách nhiệm là
do cán bộ Bảo tàng chưa đưa ra phương pháp làm việc đúng Sau Tết, người dân cũng như các thợ thủ công tham gia dự án bận vào công việc làm mùa (cày cấy), hàng hóa bán chạy phải tập trung vào sản xuất để có thêm thu nhập nhưng cán bộ Bảo tàng cứ đến phỏng vấn, mất nhiều thời gian" Còn các thành
viên tham gia dự án khác là Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Bá Khánh và Nguyễn Văn Hiền đã đề nghị chúng tôi dán ảnh vào cuốn sổ để họ tự ghi nội dung vào những lúc rỗi rãi, như vậy tiết kiệm thời gian hơn Những điều đó cho thấy việc xác định thời gian thích hợp để phỏng vấn sao cho không làm ảnh hưởng nhiều đến đời sống của những người tham gia dự án cần được các nhà nghiên cứu lưu tâm
Từ những ý kiến của những người thợ thủ công ở trên, chúng tôi đã trao đổi với Ban chủ nhiệm dự án để tiến hành thử nghiệm cách làm mới Từ tháng 3/2003, mỗi cuộn phim do những người thợ làng Đại Bái chụp được rửa làm 2 bộ, trong
đó một bộ lưu tại Bảo tàng và một bộ được dán vào sổ để các học viên tự ghi những thông tin về ảnh Chúng tôi photocopy cuốn sổ đó để làm tư liệu cho Bảo tàng, còn sổ gốc do người dân giữ Cách làm này phù hợp với một số người thợ có trình
độ văn hoá nhất định, biết cách ghi chép Các thông tin thu được rõ ràng hơn, hay hơn so với những thông tin trả lời khi phỏng vấn Phương pháp này có thể làm cho người dân tích cực hơn khi họ có thời gian để suy ngẫm và quyết định lựa chọn thông tin cho các bức ảnh Tuy nhiên, không phải người thợ nào cũng ghi chép được nhiều thông tin, phần vì chưa quen, phần khác có lẽ do chữ viết chưa đẹp nên ngại viết, hoặc viết còn sơ sài, như trường hợp của anh Nguyễn Quang Quân
và chị Nguyễn Thị Hà Mặc dù những thông tin có khá hơn nhưng phần nội dung ghi chép còn quá sơ sài nên sau đợt
Trang 31nghiên cứu lần cuối, chúng tôi quyết định chỉ đưa sổ cho những người có khả năng ghi chép tốt mà thôi Trong đợt phỏng vấn sau đó chúng tôi vẫn làm theo cả hai cách là vừa phỏng vấn nội dung các bức ảnh được coi là quan trọng vùa photocoppy các cuốn sách ảnh do người thợ ghi chép nội dung để các tư liệu được phong phú hơn
b) Thông tin từ những người không chụp ảnh
Như đã trình bày ở trên, chúng tôi không chỉ phỏng vấn những người chụp ảnh mà còn phỏng vấn những người khác trong nhóm để khai thác thêm thông tin về bức ảnh phương pháp này tỏ ra có hiệu quả rõ rệt sau lần thử nghiệm vào tháng 4/2003 tại bàn Na Sang 2 Chúng tôi đã thu nhận được nhiều thông tin lý thú liên quan đến bức ảnh, đến nghề dệt và các nguyên liệu nhuộm, cũng như ý nghĩa của các mô típ hoa văn
Vì vậy, nhiều lý lịch ảnh có sử dụng rất nhiều câu trích của những người thợ thủ công khác, những người già có kinh nghiệm hoặc chính từ những người có mặt trong bức ảnh
về ý nghĩa của các mô típ hoa văn Chính vì vậy, các cuộc thảo luận nhóm là dịp để lớp thanh niên bản Na Sang 2 học hỏi thêm
về các giá trị truyền thống của mình qua những tri thức về nghề dệt mà những người hiểu biết hơn chia sẻ kinh nghiệm và trao
Trang 32truyền cho họ Cũng nhờ những buổi thảo luận đó mà chúng tôi
đã thu thập thông tin một cách đầy đủ và chính xác hơn
d) Giới thiệu bằng cách chiếu về những bức ảnh, câu trích tốt
Để động viên, khuyến khích những người thợ thủ công chụp ảnh tốt, chúng tôi đã tổ chức rút kinh nghiệm về những bức ảnh mà họ đã chụp Chúng tôi sử dụng máy chiếu để chiếu các bức ảnh có bố cục, nội dung tốt và những câu trích dẫn hay, cùng với những bức ảnh chưa tốt để người dân thấy được ưu và nhược điểm của từng bức ảnh Đồng thời, đây cũng là quá trình rút kinh nghiệm cho bản thân chúng tôi Ví
dụ, khi giới thiệu với bà con bản Na Sang 2 xem các câu trích dẫn thì chúng tôi cũng đã phát hiện thêm một số lỗi của mình như khi phiên âm những từ bằng tiếng Lào không chính xác Sau buổi giới thiệu bằng cách chiếu các bức ảnh và những lời phỏng vấn, nhất là sau khi được nghe phân tích và nhận xét về những bức ảnh đã chụp, nhiều thợ thủ công đã mạnh dạn hơn trong các cuộc phỏng vấn kế tiếp và họ đã chụp được nhiều bức ảnh có chất lượng tốt hơn Người dân đã hiểu rõ hơn mục tiêu của dự án Như anh Lường Văn khăm ở
bản Na Sang 2 đã nói: "Trước đây tôi có thể hiểu là các anh
đang cố gắng nói với tôi điều gì đó, những bây giờ mọi thứ đã
rõ ràng hơn" Còn ở làng Đại Bái, sau 'khi giới thiệu ảnh qua
chương trình chiếu ảnh, các ông Nguyễn Xuân Sầm và
Nguyễn Văn Lư đã đề nghị với chúng tôi: "Tất cả các câu
trích nên được xem xét trước khi in hoặc giới thiệu để có được kết quả tốt nhất" Câu nói này thể hiện tinh thần trách
nhiệm và mang tính xây dựng rất cao của những người thợ
gò đồng Cũng trong buổi giới thiệu về ảnh qua máy chiếu này, nhiều phần trả lời chưa chuẩn xác của những thợ trẻ với kiến thức còn hạn chế, đặc biệt về phần kỹ thuật và truyền thống, đã được góp ý sửa đổi Đây thực sự là dịp để lớp trẻ
Trang 33học hỏi từ những người lớn tuổi đầy kinh nghiệm, đồng thời, cũng nhờ đó mà truyền thống ngành nghề được bảo lưu
e) Lấy ý kiến của người dân về các bức ảnh và các trích dẫn cho cuộc trưng bày
Với mục tiêu của dự án là thu thập tư liệu về nghề thủ công, đồng thời tổ chức giới thiệu kết quả của dự án dưới hình thức trưng bày ảnh tại địa phương và tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, trong chuyến đi phỏng vấn lần cuối vào tháng 6/2003, chúng tôi đã đưa ra các vấn đề trưng bày để thảo luận cùng người dân Ngoài các thành viên trong lớp tập huấn chụp ảnh, chúng tôi còn mời thêm một số người già trong bản tham gia Chúng tôi đưa bản thiết kế phác thảo về các pano cho người dân bàn bạc xem cần nhấn mạnh bức ảnh nào, câu trích nào Chằng hạn, trong phần trưng bày về nhuộm chàm của người Lào ở bản Na Sang 2 có rất nhiều khâu kỹ thuật khác nhau chúng tôi không biết nên chọn công đoạn nào và người dân đã chỉ ra cho chúng tôi các kỹ thuật cơ bản và quan trọng nhất đối với họ và chính những người thợ thủ công đã giúp chúng tôi chọn 5 mô típ hoa văn truyền thống để giới thiệu trong trưng bày Như vậy, những người dân đã tham gia tích cực vào việc thu thập, lưu giữ và giới thiệu về nghề thủ công và nền văn hoá của chính mình
IV MỘT SỐ TÌM TÕI, NHẬN THỨC MỚI TẠI BẢN NA SANG 2
VÀ LÀNG ĐẠI BÁI
1 Một số tìm tòi, nhận thức mới tại bản Na Sang 2
Thông qua nghiên cứu và phỏng vấn tại bản Na Sang 2, chúng tôi đã thu lượm được một số thông tin quan trọng về hoa văn, về cách nhuộm sợi và đặc biệt là về thái độ của lớp trẻ đối với nghề dệt
Trang 34Chúng tôi đã ghi lại được nhưng lời kể liên quan đến 6 mô típ hoa văn Đó là Hoa văn hình rồng cổ đỏ (Tô luông), Hoa văn hình chim (Tô nôộc), Hoa văn hình rắn (Tô ngu), hoa văn hình
hổ (Tô Sứa), Hoa văn hình voi (Tô chặng) và Hoa văn con trăn (Tô luớm) (Xem Phụ lục 5)
Bên cạnh đó, những câu chuyện về kỹ thuật nhuộm cũng
đã được sưu tầm Đó là những kỹ thuật Nhuộm chàm (Màu xanh đen), Nhuộm mắc sét (Màu vàng đậm), Nhuộm phặng (Màu vàng nhạt) và Nhuộm cánh kiến (Màu đỏ đậm) (Xem Phụ lục 6)
Thái độ của lớp trẻ đối với nghề dệt
Nghề dệt vốn đã gắn bó với người phụ nữ Lào bao đời nay
và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác "Đã là người phụ nữ Lào thì ai cũng biết dệt, chỉ có điều đẹp hay không đẹp thôi Cũng như chúng ta viết chữ vậy, tuỳ tay của từng người
mà đẹp hay không đẹp (Lò Thị Biên)
Trong quá trình thực hiện dự án, chúng tôi nhận thấy ý thức bảo tồn các giá trị truyền thống của nghề dệt được nâng lên Các cô gái trẻ bắt đầu quay lại tìm hiểu về cách nhuộm từ tự nhiên, các mẫu mã hoa văn cũ, cùng các ý nghĩa của hoa văn Điều đó có nghĩa là chúng ta đã khơi dậy được trong họ ý thức khôi phục và giữ gìn các giá trị truyền thống Kết thúc dụ án, chị
Lò Thị Biên nói: "Em đang học cách cắt may áo ngắn vì lâu lắm
rồi chúng em không sử dụng nên cũng chẳng ai làm" Còn bà
Lường Thị Giọt, mẹ của chị Biên thì hết sức vui mừng: "Tôi rất
vui khi thấy con gái mình lại tập làm những đồ mà ngày xưa chúng tôi vẫn phải làm để mặc Tôi có cho cháu mấy cái áo ngắn (xửa cỏm) để sau này nhin cái đó để nhớ, bây giờ con tôi lại mang ra làm mẫu để tập làm Vui quá chứ"
Một cô gái trẻ khác tâm sự: "Hồi trước em chỉ biết là mẹ dạy cho các mẫu hoa văn này, cứ nhìn mẫu rồi làm theo chứ
Trang 35chẳng biết hình đấy có ý nghĩa gì hay có câu chuyện gì liên quan, có khi cũng chẳng biết tên hoa văn đó là gì nữa Bây giờ, nghe mọi người thảo luận với nhau thì em mới biết Như thế này thì sau này có ai hỏi về hoa văn của chúng em thì em đã biết để trả lời họ" (Lường Thị Phóng, 20 tuổi)
2 Một số tìm tòi, nhận thức mới tại làng Đại Bái
Thông qua phỏng vấn nội dung các bức ảnh do người thợ thủ công chụp, chúng tôi phát hiện được nhiều tri thức dân gian rất quý về nghề, đó là:
a) Niềm tự hào về truyền thống làng nghề
Nghề gò đồng Đại Bái, như tương truyền đã có hơn một ngàn năm Cảm nhận từ sức sống của làng nghề, ông Nguyễn
Văn Hiền nhớ lại: "Ngày xưa, đi từ xa đã nghe tiếng gò đồng"
Do vậy, rất nhiều người trong làng cảm thấy tự hào về nhiều sản phẩm khác nhau do mình làm ra, từ đồ khảm tam khí, đồ thờ, mâm, chiêng, nồi đến các sản phẩm hiện đại làm bằng máy móc Họ tự hào vì họ sống bằng nghề truyền thống gò đồng, nhôm
b) Trao truyền kinh nghiệm
Trong quá trình sản xuất, những người thợ đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm, lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ
khác Anh Nguyễn Văn Lục nói: "Trong làng, ai có khả năng
làm được nghề là họ truyền cho nhau để nghề gò đồng không
bị mất"
c) Thay đổi nhận thức
Thông qua dự án, người thợ thủ công được nâng cao nhận thức bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của làng nghề và quảng bá được sản phẩm Anh Nguyễn Tấn Hùng tâm sự:
Trang 36"Cần phải chụp ảnh lại những sản phầm của làng nghề mà hiện nay còn ít người biết đến để lưu giữ cho thế hệ sau và kế thừa
để làm các sản phẩm mới bán cho khách hàng"
d) Sự mai một kiến thức về kỹ thuật truyền thống
Chúng tôi đã nhận thấy rất rõ những mối quan tâm của người già trước sự mất đi của các giá trị truyền thống Những người thợ trong làng mong muốn khôi phục lại một số công đoạn liên quan đến nghề thủ công, như thao tác ống bễ để thổi hơi cho lửa bốc cháy, kỹ thuật pha chế vẩy hàn, quy trình làm nồi dót để chụp ảnh và quay video Ông nguyễn Xuân Hiệu nói: "Phát triển ngành nghề phải gắn liền với việc bảo tồn giá trị văn hoá làng nghề một cách hữu hiệu"
Trong khi đó, nhiều người thợ trẻ trong làng không còn thích sử dụng các dụng cụ truyền thống mà thay bằng máy móc hiện đại Những kinh nghiệm dân gian phần lớn do những nghệ nhân, những người lớn tuổi đúc kết trong quá trình sản xuất dần dần bị mất đi vì các nghệ nhân nay sức khoẻ yếu, không còn làm nghề, một số người chỉ truyền lại cho con cháu trong gia đình, dòng họ, số còn lại chuyển sang làm nghề khác Chính vi vậy, việc những người thợ thủ công trẻ tham gia vào
dự án là điều cần thiết nhằm giúp họ hiểu giá trị của nghề thủ công truyền thống, từ đó lựa chọn cách bảo tồn văn hoá truyền thống cho thích hợp với xu thế của thời đại Ông Hoàng Văn
Lan đã chia sẻ với chúng tôi những trăn trở của mình: "Chúng
tôi nhận thấy rằng, những sản phẩm gò đồng trước đây người già làm tốt hơn Nay rất ít thanh niên biết sử dụng các dụng cụ
cũ và các kỹ năng truyền thống ngày càng mất đi"
e) Vấn đề sức khoẻ và môi trường
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở làng nghề Đại Bái đã đến mức báo động Người dân làng Đai Bái dã nhận thức được
Trang 37điều này Anh Nguyễn Tấn Hùng tâm sự: "Nấu nguyên liệu ảnh
hưởng đến sức khỏe và môi trường sống xung quanh Phần nhiều những người thợ trong làng tham gia nấu nguyên liệu không có thói quen đeo khẩu trang hít phải các chất thải của than đá, nhôm, chì, kẽm sẽ mắc bệnh lao phổi, lao lực dẫn đến tuổi thọ thấp" Còn anh Phạm Văn Nhung lại chỉ ra nguyên
nhân của sự ô nhiễm môi trường: "Do phát triển ngành nghề
truyền thống trên phạm vi rộng trong làng dẫn đến dân số tăng, đất chật, người đông, rác thải đổ ra hồ ao, gây ô nhiễm môi trường, làm mất mỹ quan đường làng, ngõ xóm" Để khắc phục
tình trạng trên, ông Nguyễn Văn Lư đưa ra lời đề nghị: "Tôi
nghĩ vấn đề phát triển ngành nghề phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường sống một cách hợp lý"
g) Những thách thức đối với làng nghề
Cũng giống như nhiều làng nghề khác ở Việt Nam, thách thức mà làng nghề Đại Bái đang gặp phải là trong khi mở rộng sản xuất theo hướng mới để tăng thu nhập thì lại dễ xảy ra tai nạn nghề nghiệp: Nhiều thanh niên và phụ nữ trở thành lao động chính khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng tăng Bên cạnh đó, vấn đề giáo dục và học tập đối với thanh thiếu niên trong làng đang trở nên bức xúc Bà Nguyễn Thị Mỹ nói: "Từ xưa đến nay, người Đại Bái không chú tâm vào học hành; trẻ em thường chỉ học hết cấp 2 rồi về làm nghề Học đến bằng đại học rất tốn kém, mất bao nhiêu năm, sau khi ra trường vẫn thất nghiệp phải quay về cầm búa gò xoong, chậu
Vì thế, con trai tôi học hết lóp 4 rồi nghỉ học về giúp gia đình, sản xuất hàng tháng cũng được vài trăm ngàn đồng" Ngoài ra, nguyên liệu thô ngày càng ít buộc người dân phải thu mua phế liệu để về tái chế làm ra sản phẩm nên chất lượng không được cao và nạn ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng
Trang 38Những phát hiện trên đây là những trăn trở của những người thợ thủ công ở bản Na sang 2 và ở làng Đại Bái về nghề nghiệp của mình, về những vấn đề liên quan đến truyền thống ngành nghề, những bức xúc và thách thức mà những người thợ đang gặp phải trong quá trình giữ gìn và phát huy truyền thống, cũng như tìm hướng đi cho nghề và làng nghề trong cơ chế thị trường Thông qua dự án, những người dân đã tự nói lên những cảm nhận của mình về những giá trị truyền thống cần lưu giữ và những tâm tư, nguyện vọng về việc phát triển ngành nghề Với việc giao máy ảnh cho người dân, dự án đã giúp họ tự nhìn nhận lại bản thân, nhìn nhận về nền văn hoá và khuyến khích họ chủ động tìm hướng phát triển cho nghề và làng nghề của mình
V TRƢNG BÀY
Từ những bức ảnh do những người thợ thủ công chụp về cuộc sống và nghề nghiệp của họ, các cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cùng với những người thợ tổ chức 2 cuộc trưng bày tại địa phương để giới thiệu về kết quả của dự án vào tháng 8/2003 Hai cuộc triển lãm này được giới thiệu ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam vào tháng 9/2003
Các bước chuẩn bị cho trưng bày gồm có:
a Xác định chủ đề trưng bày Chúng tôi quyết định tập
trung lựa chọn những lời trích dẫn để góp phần chuyển tải nội dung chính của những thông điệp từ cuộc trưng bày Đó chính
là những tri thức đặc biệt của người dân địa phương
b Phân loại ảnh theo chủ đề Các bức ảnh đã chụp được
phân chia theo trang chủ đề, sau đó chúng tôi chọn những bức ảnh đẹp nhất trong từng nhóm ảnh Các lời trích dẫn cũng được lựa chọn cho phù hợp với từng chủ đề
Trang 39c Chọn chủ đề chính thúc Không phải tất cả các bức ảnh
đã chụp đều được chọn để trưng bày
d Chọn lời trích dẫn chính thúc và dịch sang tiếng Anh
e Trung bày thử Giáo viên dạy chụp ảnh Đoàn Bảo Châu
giúp chọn những bức ảnh đẹp nhất và góp ý việc trình bày những bức ảnh đó như thế nào
g) Trình bày các bức ảnh và thiết kế trung bày Phần thiết
kế trưng bày được Công ty chuyên thiết kế quảng cáo, triển lãm Lotus đảm nhiệm Các pano có kích thước là 60cm x 90cm và 120cm x 90 cm
h) In ấn Công ty Lotus chịu trách nhiệm in ấn toàn bộ pano
trưng bày
1 Cuộc trƣng bày ở bản Na Sang 2
Các chủ đề trưng bày về nghề dệt của người Lào ở bàn Na Sang 2 là:
Giới thiệu chung về làng và nghề
Trang 40 Dệt vải
Các hoa văn
Cuộc trưng bày ở Na Sang 2 được khai trương ngày15/8 tại ngôi nhà sàn của Phó trưởng bản Lò Văn Thong, bao gồm 25 pano ảnh kích thước 90cm 60cm và 90cm 126cm Các bức ảnh cùng với những lời trích dẫn của những người thợ thủ công
đã giới thiệu về phong cảnh của làng bản, về các kỹ thuật nhuộm màu tự nhiên, các mô típ hoa văn và ý nghĩa của hoa văn Dân bản Na Sang 2, cả những người tham gia dự án lẫn những người không tham gia dự án rất vui mừng đón nhận cuộc trưng bày này Điều đó thể hiện sự quan tâm của họ qua những ý kiến nhận xét, đánh giá khi xem các pano trưng bày tại nhà anh Lò Văn thong Các pano trưng bày sẽ được lưu giữ tại bản để những người thợ thủ công, người dân bản luôn luôn được nhắc nhở về sứ mệnh vinh quang của họ trong việc bảo tồn các di sản văn hoá qua nghề dệt của mình Họ sẽ có cơ hội
để giới thiệu với khách tham quan về làng và nghề thủ công của mình, đồng thời, họ hy vọng các sản phẩm thủ công của họ được nối với thị trường ở Lai Châu và xa hơn nữa
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn những người thợ thủ công về các pano trưng bày và đa số đều trả lời rằng họ rất thích và tâm đắc với các bức ảnh và những lời trích dẫn các câu nói của chính họ Họ cảm thấy tự hào về những thành quả
của mình Chị Lò Thị Biên nói "Các chủ đề trưng bày như thế
này là hợp lý vì trong tất cả các công đoạn của nhuộm hay làm sợi thì công đoạn nào cũng quan trọng cả, không thể thiếu một trong số chúng"
Bên cạnh đó, cuộc trưng bày này đã thu hút được đông đảo khách tham dự Trong buổi khai trương có mặt của lãnh đạo và đại diện huyện Điện Biên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thương mại - Du lịch, Sở Công nghiệp, Sở Văn