Luận văn : Vấn đề đổi mới công nghệ trong các Doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước ở VN
Trang 1Mở bài
Qua thực tiễn phát triển kinh tế xã hội với những thành công và không thành công, cả thế giới đều thức tỉnh một điều: công nghệ là chìa khoá để làm chủ sự phát triển kinh tế Ai nắm đợc công nghệ ngời đó sẽ làm chủ đợc tơng
lai Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công nghệ, em đã chọn đề tài: Vấn đề
đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam".
Đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra sản phẩm mới, ngành nghề mới, thay đổi cơ cấu kinh tế.v.v nhằm phát triển kinh tế, hôi nhập với kinh tế thế giới là một nhu cầu tất yếu khách quan Đối với nớc ta cũng nh các nớc đang phát triển, việc đầu t đổi mới công nghệ phải là một việc làm đơn giản và dễ dàng Ngời ta đã ví công nghệ là trò chơi của ngời giầu, ớc mơ của ngời nghèo và là chìa khoá của ngời khôn ngoan Chúng ta muốn và rất muốn công nghệ là chìa khoá để chúng ta mở cửa hội nhập, theo kịp với thế giới Điều mong muốn tốt đẹp ấy chỉ là thực tế khi các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc phải coi đổi mới công nghệ là biện pháp chủ yếu hàng đầu để phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh - dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng
Nội dung chủ yếu của đề tài gồm 3 vấn đề:
Ch
ơng I : Phơng pháp luận vấn đề đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp
Ch
ơng II : Tình hình đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp Nhà
n-ớc Việt Nam trong thời gian qua
Qua đây em gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Ths Phạm Vũ
Thắng đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em hoàn thành bài viết này
Trang 2Ch ơng I Phơng pháp luận vấn đề đổi mới công nghệ
Vậy công nghệ (Technology) là gì? tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu và đối ợng áp dụng, hiện nay trên thế giới ngời ta đa ra nhiều khái niệm khác nhau, có khái niệm mang tính trừu tợng tổng quát, có khái niệm mang tính cụ thể, định l-ợng
t-C Mác đã từng cho rằng: Công nghệ là một phức hợp những kiến thức khoa học và kỹ thuật về các phơng thức và phát triển sản xuất, tổ chức và quản
lý sản xuất, và nh vậy chủ yếu nó liên quan tới quá trình sản xuất
Dới góc độ nghiên cứu công nghệ để phục vụ cho công tác quản lý và thúc đẩy hoạt động công nghệ Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu á Thái Bình dơng đã đa ra khái niệm: Công nghệ là tập hợp các công cụ, phơng tiện dùng để biến đổi các nguồn lực tự nhiên, nguồn lực sản xuất trung gian thành hàng hoá tiêu dùng thành nguồn lực sản xuất trung gian khác Chúng ta có thể hiểu một cách tổng quát: Công nghệ là tập hợp các công cụ, phơng tiện dùng để biến đổi các nguồn sản xuất thành sản phẩm vì mục đích sinh lợi
"Công cụ" và "phơng tiện" ở đây là đợc hiểu theo nghĩa rộng Nó không chỉ là công cụ sản xuất của vật chất mà còn là bất kỳ công cụ và bí quyết (Know
- how) có liên quan nào đợc dùng để chế tạo và sử dụng công cụ vật chất đó để thực hiện các hoạt động biến đổi Hơn nữa khi nói về công nghệ, nó còn đợc hiểu đó là các kiến thức và kinh nghiệm về khoa học - kỹ thuật, sản xuất quản lý
và thơng mại
Trang 32- Thành phần của công nghệ:
Qua những khái niệm về công nghệ, ta thấy có thể nói công nghệ làm tăng khả năng cơ bắp và trí tuệ của con ngời trong quá trình chinh phục thiên nhiên và sự phát triển kinh tế - xã hội tất nhiên, muốn tác động có hiệu quả th-ờng phải thông qua các phơng tiện vật chất, công cụ lao động, Vì vậy, khi nói tới công nghệ chúng ta phải xem xét cả hai khía cạnh gọi là "phần mềm" và
"phần cứng" Phần cứng là biểu hiện của máy móc, trang bị, công cụ, năng lực, nguyên vật liệu Phần này giúp tăng năng lực cơ bắp (máy móc thiết bị), tăng trí lực của con ngời (tin học) Phần mềm là vấn đề kỹ năng, thông tin tổ chức quản lý
Theo quan điểm phổ biến hiện nay thì công nghệ bao gồm 4 thành phần cơ bản tác động qua lại với nhau để tạo ra bất kỳ sự biến đổi nào:
- Một là, công nghệ hàm chữa trong máy móc, trang bị, công cụ, nguyên
vật liệu Phần này gọi là phần lỹ kỹ thuật của công nghệ (Technoware), biểu thị phơng tiện vật chất, làm tăng thêm sức mạnh cơ bắp và sức mạnh trí tuệ của con ngời
- Hai là, công nghệ hàm chữa trong con ngời nh kỹ năng, kinh nghiệm
tính sáng tạo, sự khôn ngoan, gia truyền, khả năng lãnh đạo, đạo đức kinh doanh, tính cần cù, trực cảm tài nghệ Phần này gọi là phần con ngời công nghệ (Humanware), biểu thị năng lực của con ngời, tạo ra sự vận hàng và duy trì hoạt
động của mọi phơng tiện biến đổi
- Ba là, công nghệ hàm chứa trong tài liệu nh dữ kiện, thiết kế, khái niệm,
phơng pháp, kế hoạch, các định mức, chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, các hớng dẫn nghiệp vụ, các bí quyết kỹ thuật (Know - how) Phần này gọi là phần thông tin của công nghệ (Inforware), biểu thị những vấn đề đã đợc t liệu hoá, tồn trữ các tri thức đã đợc tích luỹ để rút ngắn thời gian, hoạt động của con ngời
- Bốn là, công nghệ hàm chứa trong thể chế nh: thẩm quyền trách nhiệm,
tác động qua lại, sự liên kết, phối hợp, điều hành hoạt động , động cơ Phần này đợc gọi là phần tổ chức của công nghệ (Orgaware), biểu thị mọi khung tổ chức để cho việc hoạch định chiến lợc, kế hoạch, tổ chức động viên, thúc đẩy và
Trang 4kiểm soát các hoạt động với thành phần công nghệ đợc hiện thân trong thể chế
và khoa học quản lý trở thành nguồn lực
Tất cả bốn thành phần công nghệ trên tác động qua lại với một trình độ phức tạp, tinh vi từ đơn gản nhất đến tiên tiến nhất, không có một sự biến đổi nào có thể xẩy ra mà thiếu hẳn một trong 4 thành phần đó
Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào, nó đợc triển khai, lắp
đặt và vận hành chủ yếu bởi phần con ngời, vì phần kỹ thuật tự nó sẽ không hoạt
động đợc Phần con ngời là yếu tố then chốt của công nghệ, nó chịu ảnh hởng của phần thông tin và tổ chức Nếu phần này phát triển tốt nghĩa là đội ngũ nhân lực tổ chức tốt, đợc cung cấp thông tin và kỹ năng đầy đủ sẽ làm cho phần kỹ thuật có khả năng cao hơn và có thể sử dụng một cách có hiệu quả hơn
Phần thông tin thể hiện và sự tích luỹ kiến thức do con ngời sáng tạo ra Qua phần thông tin con ngời có thể tận dụng tối đa những lợi ích do phần kỹ thuật mang lại Còn phần tổ chức là phần mang tính động lực Phần này điều hoà, phối hợp với phần thông tin, con ngời và kỹ thuật để thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động biến đổi nh mong muốn
3 Vai trò của công nghệ:
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời là lịch sử của quá trình đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại và phát triển Trong suốt chiều dài lịch sử đó, con ngời luôn sử dụng công nghệ để tăng cờng sức mạnh của mình và ngày càng trở lên hoàn thiện hơn Sự phát triển của công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển của xã hội
Thật vậy, bớc qua xã hội hoang sơ với săn bắn và hái lợm, nhờ công nghệ chăn nuôi và trồng trọt con ngời đã khẳng định đợc cuộc sống của mình trong tự nhiên và xác lập nên nền văn minh nông nghiệp Đến cuối thế kỷ XVIII, công nghệ cơ khí, máy móc với máy dệt, máy hơi nớc, máy điện đã làm tăng năng xuất lao động lên gấp bội, công nghệ khai thác mỏ với than đá, dầu khí đã góp phần thắp sáng cuộc cách mạng công nghiệp, làm xuất hiện nền văn minh công nghiệp
Trang 5Nh vậy, công nghệ không sinh ra nh một vật tự nó mà bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới của xã hội loài ngời Trong thế giới hiện đại, từ nhà kinh doanh muốn dành u thế trong cạnh tranh đến các nhà lãnh đạo quốc gia muốn đa đất nớc ra khỏi nghèo nàn lạc hậu đều phải tìm câu trả lời trong những chính xác cụ thể và phát triển công nghệ Mối quan hệ giữa công nghệ và quá trình biến đổi xã hội trở nên vô cùng phức tạp, thúc đẩy lẫn nhau và bao trùm rộng khắp các lĩnh vực hoạt động của con ngời.
Cùng với sự phát triển của công nghệ, con ngời từ chỗ bắt trớc đã tiến tới thách đố với tự nhiên Từ hoàn thiện công nghệ khai thác kim cơng tự nhiên, con ngời đã tìm ra phơng pháp chế tạo kim cơng nhân tạo ở quy mô công nghiệp
Gần 200 năm qua, công nghệ - thơng mại - dịch vụ đã tạo nên một trục quan trọng trong xã hội công nghiệp với một lực lợng sản xuất hàng hoá hùng hậu, trong một thị trờng sống động và cũng đầy sự phân chia, giành giật khốc liệt
Ngày nay, khi nói về vai trò của công nghệ đối với sự biến đổi và phát phát triển xã hội Tiến sĩ N.Shrif - Giám đốc trung tâm chuyển giao khu vực Châu á - Thái Bình Dơng đã nhận xét đại ý nh sau: Kinh nghiệm phát triển của các nớc trên thế giới chỉ ra rằng, quy mô dân số và tài nguyên thiên nhiên không thể đảm bảo cho sự thành công kinh tế của nhân tố rất quyết định khả năng của một quốc gia để tiến nhanh hơn với mục tiêu kinh tế - xã hội Trong thế giới ngày nay công nghệ mang lại lòng tin, niềm hy vọng và giá trị của cả nhân loại Với sự cách biệt ngày càng lớn giữa ngời giàu và ngời nghèo, vai trò quyết định của công nghệ đã trở nên hàng đầu Ngày nay có lẽ nó là sự hy vọng duy nhất để xoá bỏ sự cách biệt đó
Vai trò công nghệ đối với các nớc đang phát triển chúng ta thấy rằng, lịch
sử phát triển công nghệ thế giới do nhiều nguyên nhân khác nhau nên không phải lúc nào nớc có tác giả các phát minh cũng là nớc đầu tiên gặt hái thành quả công nghệ của chính mình Và nhiều nớc lập kỷ lục" Thần kỳ" về phát triển kinh
tế trong những thập niên vừa qua lại không phải là các cờng quốc sáng tạo công
Trang 6nghệ Bởi vậy, nhiều nhà dự báo đã cho rằng trong những thập kỷ tới " tơng lai
sẽ thuộc về những nớc có tiềm năng ứng dụng"
II Phơng pháp luận đổi mới công nghệ:
1 Sự cần thiết đổi mới công nghệ.
Những thập kỷ vừa qua, nhân loại đã thu đợc thành tựu hết sức to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội Sự phát triển vợt bậc đó do các thành tựu của khoa học mang lại, mà trong đó do đổi mới công nghệ mang lại là hết sức quan trọng Tổng sản lợng của thế giới từ năm 1700 đến 1970 tăng khoảng 2000 lần, bình quân năm sau cao hơn năm trớc 7 lần, trong thời kỳ nào có những cuộc cách mạng căn bản về công nghệ
Đổi mới công nghệ có một vai trò rất quan trọng thể hiện:
- Trớc hết nó làm thay đổi ngành nghề trong nền kinh tế, ngành công
nghệ cao sẽ phát triển thay thế các ngành truyền thống hao phí nhiều vật t, lao
động
- Thứ hai, là tạo ra năng xuất lao động cao hơn cùng với sự phong phú về
chủng loại sản phẩm, tiện ích cho các quá trình sử dụng
- Thứ ba, là những vũ khí cạnh tranh của các doanh nghiệp và các nền
kinh tế trong xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế
- Thứ t, đợc quan tâm nhiều hơn đó là vai trò của công nghệ đối với vấn
đề môi trờng trong quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên, quá trình chế tác
và sử dụng
Ngời ta ví: Công nghệ là trò chơi của ngời giàu, ớc mơ của ngời nghèo, và chìa khoá của ngời khôn ngoan Biết vậy nhng tiếp cận công nghệ mới, sử dụng
để đạt mục tiêu kinh tế xã hội và môi trờng là vấn đề khó khăn đối với chính phủ
và với doanh nghiệp
Nh vậy, thực tế đã ghi nhận sự đổi mới và phát triển công nghệ và yêu cầu bức xúc của cuộc sống trong thế giới hiện đại Bởi vậy, việc làm rõ phạm vi, mức độ, bớc đi, nội dung và mục tiêu cần đạt tới về mặt công nghệ trong từng giai đoạn phát triển của một quốc gia không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, ph-
ơng pháp luận mà còn có tác động trực tiếp tới hoạt động thực tiễn Điều này
Trang 7đặc biệt quan trọng đối với các nớc đang phát triển, bởi lẽ do hoàn cảnh lịch sử
để lại, các nớc đang phát triển cũng là những nớc lạc hậu về công nghệ, các yếu
tố lịch, truyền thống, nếp nghĩ, cách làm không phải là quá trình tự đến để thích nghi rồi phát triển đợc
2 Đánh giá trình độ công nghệ của sản xuất công nghiệp :
Đánh giá công nghệ bắt nguồn từ điểm giao nhau của hai quan điểm: Công nghệ thích hợp và những quyết định khoa học, xuất phát từ nhận thức cho rằng không phải tất cả các công nghệ hay đổi mới đều mang lại văn minh cho một xã hội: Đánh giá công nghệ là cơ sử để đa ra các quyết định về chính sách công nghệ, về kế hoạch phát triển và từ đó để đổi mới lựa chọn công nghệ thích hợp nhằm phục vụ cho chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của đất nớc
Đến nay mục tiêu của đánh giá công nghệ đợc mở rộng, không những chỉ nhằm ngăn chặn sự suy giảm chất lợng cuộc sống về mặt sinh học còn ngăn chặn ảnh hởng xấu đến hệ sinh thái Xu hớng mới là tối đa hoá sự ổn định các
ảnh hởng tốt của công nghệ và phát triển công nghẹ phù hợp với môi trờng xung quanh theo nghĩa rộng Trên thực tế chỉ có các nớc phát triển mới có điều kiện
để giải quyết vấn đề tối đa hoá các yếu tố tích cực của công nghệ, còn các nớc
đang phát triển thì chỉ mới có khả năng áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của công nghệ đối với môi trờng tự nhiên mà thôi Đối với môi tr-ờng rộng, do công nghệ lạc hậu, các nớc đang phát triển đang phải gánh chịu những thiệt thòi nh: Hạ thấp phúc lợi kinh tế, tăng dân số, lãng phí các nguồn lực, hỗn loạn xã hội lớn và làm tăng sự mất ổn định về chính trị Chính vì vậy,
để phát huy tối đa tác dụng tích cực và giảm đến mức thấp nhất tác hại của công nghệ, cần có sự định hớng phát triển và lựa chọn công nghệ
Theo ý kiến của trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực châu á Thái Bình Dơng thì mục tiêu của đánh giá công nghệ đối với các nớc đang phát triển là:
- Đánh giá tính thích hợp của công nghệ cần đợc chuyển giao và thích nghi
- Lựa chọn công nghệ và phát triển
Trang 8- Kiểm soát các công nghệ không thích hợp để bảo vệ môi trờng.
Đánh giá công nghệ đợc tiến hành nhằm mục tiêu trên khi nào thể chế hoá đợc nó trong quá trình kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội, nghĩa là khi
đánh giá công nghệ đợc coi là bộ phận hợp thành của quá trình ra quyết định, do
đó đánh giá công nghệ không chỉ là công cụ quan trọng đối với các nhà doanh nghiệp các nhà quản lý môi trờng sinh thái mà còn là yếu tố quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cân nhắc ra quyết định kinh tế - xã hội
3 Hình thức đổi mới công nghệ và những vấn đề dặt ra:
3.1 Hình thức đổi mới công nghệ:
Đổi mới công nghệ thờng diễn ra dới 2 hình thức cơ bản:
- Tự đầu t nghiên cứu để đổi mới công nghệ
- Hoặc là mua công nghệ có sẵn rồi nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ mua
Con đờng thứ nhất đòi hỏi vốn lớn, thời gian dài và chấp nhận độ rủi ro cao Con đờng thứ hai ngắn hơn vốn ít hơn và chịu ít rủi ro hơn (tất nhiên nó chỉ tiến hành đợc ở thời điểm công nghệ đã phát triển mạnh và có công nghệ đáp ứng nhu cầu mua) Thật vậy, bằng con đờng nghiên cứu, phát minh, để công nghiêp hoá đất nớc mình, nớc Anh (đất nớc hùng cờng sớm nhất thế giới đã phải mất 120 năm; nớc Mỹ cái nôi của những phát hiến khoa học) cũng phải mất khoảng 80 năm, còn nớc bại chiến trong chiến tranh thế giới lần thứ II) bằng con
đờng công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ mua theo cách riêng của mình chỉ mất khoảng 60 năm Các con Rồng Châu á nh Nam Triều Tiên, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, học theo Nhật Bản, tận dụng thế mạnh của các nớc công nghiệp hoá muộn, bằng con đờng nghiên cứu ứng dụng phát triển công nghệ mua (nhng khác với Nhật Bản các nớc này tiến hành công nghiệp hoá trong bối cảnh thuận lợi hơn, công nghệ đang trong cao trào phát triển, thị trờng công nghệ là yêu cầu tất yếu, mang lại lợi nhuận cao cho cả đôi bên), họ chỉ mất 20 năm! Còn chúng ta, có lẽ còn thuận lợi hơn nữa - xét về mặt thời cơ - học tập kinh nghiệp của các nớc, trớc hết là các nớc trong khu vực, để nhanh chóng công nghiệp hoá đất nớc
Trang 93.2 Vấn đề đặt ra trong việc đổi mới công nghệ bằng cách chuyển giao
từ một nguồn nào đó của nớc ngoài:
Vấn đề đổi mới công nghệ phải mang tính mởi mẻ, sáng tạo và để thực hiện đổi mới phải trả qua nhiều giai đoạn, chịu nhiều chi phí và rủi ro
a- Khó khăn, thuận lợi của bên cung cấp công nghệ
* Về những rủi ro:
- Bất lợi thứ nhất là tạo thêm cạnh tranh Khi chuyển giao công nghệ cho
các nớc đang phát triển ở Châu á, mỗi chủ công nghệ đều trù tính cẩn thận, rà lại các chiến lợc kinh tiêu và thị trờng Nếu cảm nhận có thể với tới thị trờng thế giới thì họ làm ngay vì nh vậy lợi nhuận sẽ lớn hơn
- Bất lợi thứ hai là cách ly với khách hàng Nếu ngời cung cấp công nghệ
là ngời nớc ngoài thì sự tiếp xúc trực tiếp với khách hàng sẽ ít đi, hoặc thậm chí không còn nữa, trong những khu vực mà ngời tiếp nhận sở tại làm chủ thị trờng sản phẩm
- Bất lợi thứ ba là giảm bớt sự kiểm soát về số lợng, chất lợng thời gian
giao hàng và sự phát triển thị trờng
Bất lợi thứ t có khả năng bên cung cấp công nghệ bị mất những chuyên
gia có kinh nghiệm quan hệ, lôi kéo họ làm việc cho mình (đây là điều bất lợi
mà bên cung cấp không muốn có)
- Cuối cùng, một bất lợi nữa mà bên cung cấp công nghệ lo ngại là những rủi ro về hợp đồng nh không thanh toán tiền kỳ vụ tiền công, chậm chễ trong sản xuất, vi phạm điều khoản về giữ bí mật ngừng trả tiền sau khi hết hạn hợp đồng
* Về những thuận lợi:
- Cải tiến và tích ứng công nghệ với điều kiện của nớc sở tại; ví nh nhiệt
đới hoá và thích nghi môi trờng khắc nghiệt đối với các nớc Châu á
- Những lợi ích không định trớc (Spin - off effects) Ví dụ nh quá trình sản xuất của bên sở tại dẫn tới những đề án đa dạng hoá cụ thể mà bên cung cấp công nghệ cha nghĩ tới
Trang 10- Tăng thêm lợi nhuận mà không cần sản xuất
- Tiếp cận nhanh các thị trờng mới Qua cung cấp công nghệ, bên cung cấp công nghệ có điều kiện thuận lợi nắm đợc kiến thức và kinh nghiệm ở nớc
sở tại về tiêu thụ, phân phối thị trờng
- Sử dụng lao động rẻ và lành nghề vốn có số lợng đáng kể ở các nớc Châu á
- Sử dụng đợc tài nguyên cho sản xuất mà các nớc đang phát triển nhất là các nớc Châu á, rất phong phú
- Xâm nhập lẫn nhau về công nghệ, thông qua chuyển giao công nghệ, việc trao đổi công nghệ lẫn nhau giữa 2 phía là vấn đề quan trọng
- Những ràng buộc có lợi Cùng chuyển giao công nghệ đôi khi họ có thể bán đợc vật liệu, thiết bị cho bên tiếp nhận công nghệ Ngoài ra họ còn có thể cung cấp các dịch vụ liên quan đến việc chuyển giao
- Tạo uy tín với khách hàng qua việc bên nhận công nghệ bắt đầu sản xuất
và bán các sản phẩm của bên cung cấp công nghệ trong nớc và cả nớc láng giềng với dang nghiệp "sản xuất theo lixăng của " hoặc theo "nhãn hiện của "
3.2 Khó khăn, thuận lợi của bên nhận công nghệ
* Những rủi do:
- Tiến bộ kỹ thuật đi đôi với sự lệ thuộc vào bên cung cấp cho tới giai
đoạn hoàn toàn làm chủ đợc công nghệ đó Vì vậy, bên nhận công nghệ phải cố gắng loại trừ mọi cản trở có thể xẩy ra trong thực tế hoặc do hợp đồng, nh không chấp nhận bất cứ sự hạn chế nào đối với nghiên cứu và triển khai của bên nhận
- Có thể rủi ro, thất bại về mặt kỹ thuật của việc chuyển giao, thậm chí có thể dẫn tới chấm dứt quá trình chuyển giao nếu bên nhận công nghệ không đánh giá đầy đủ năng lực và các điều kiện tiếp nhận của họ, cả việc tìm hiểu những u nhợc điểm của bên cung cấp công nghệ Không nắm đợc, không thích nghi đợc công nghệ nhập, nhất là sau khi chuyên gia nớc ngoài rút đi thì tất yếu sẽ dẫn tới thất bại
Trang 11- Những rủi ro xuất phát từ bản thân bên cung cấp công nghệ và kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng của chính công nghệ chuyển giao.
- Do thiếu kinh nghiệm (và kiến thức), lại không sử dụng các cố vấn và luật sự (sự tốn tiền) nên thờng chấp nhận đàm phán và hợp đồng với những điều kiện bất lợi khi nhận công nghệ
- Tuy khó nhng nếu có cố vấn tốt thì bên nhận công nghệ có thể giành
đ-ợc các điều khoản tiếp nhận trong hợp đồng có lợi cho mình Những điều khoản quan trọng cần đặc biệt lu tâm là: Phạm vi của công nghệ, huấn luyện, giá cả, các điều khoản về thanh toán, các bảo đảm và cam đoan của bên cung cấp công nghệ Nên nhớ rằng, các nớc phát triển cung cấp công nghệ cho các nớc đang phát triển trớc hết vì nhu cầu và lợi ích của chính họ, nhng họ không thể không quan tâm tới sự phát triển cần thiết của các nớc đang phát triển, trong đó có sự giúp đỡ nhất định của họ cả về tài chính và kỹ thuật Ngời ta tính rằng cứ 3% gia tăng kinh tế ở các nớc đang phát triển sẽ dẫn tới 1% gia tăng ở các nớc phát triển
Phần lớn chi phí viện trợ phát triển kỹ thuật và tài chính cho các nớc đang phát triển (của các nớc phát triển) sẽ đợc hoàn trả lại dới dạng các đơn đặt hàng công nghiệp Đó là sự phụ thuộc lẫn nhau mà các nớc đang phát triển có thể tận dụng đợc
3.3 Khó khăn, thuận lợi của các nớc đi sau:
* Những thách thức lớn nhất của các n ớc đang phát triển là:
Trang 12- Khoảng cách kinh tế ngày càng xa giữa 2 nhóm nớc Bắc và Nam Dới tác động của cuộc cách mạng công nghệ, các nớc đang phát triển sẽ mất dần lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú và nguồn lao động dồi dào của mình.
Sự chênh lệch khá lớn về mức sống giữa các nớc phát triển và đang phát triển Vấn đề đặt ra cho các nớc đang phát triển là: Từ một điểm xuất phát thấp, làm sao để vừa đảm bảo đời sống của nhân dân vừa tăng đợc tích luỹ để tăng tr-ởng kinh tế với tốc độ cao
- Khoảng cách về khoa học và công nghệ ngày càng lớn giữa các nớc phát triển và các nớc đang phát triển Trong khi đó nớc đang phát triển lại bị hạn chế
về nguồn lực (thiếu tiền, thiếu đội ngũ có kiến thức và kinh nghiệm, quản lý kém )
- Quản lý, trớc hết là quản lý vĩ mô, còn quá yếu và kém hiệu lực Đối với công nghệ phải gắn liền với hoàn thiện quản lý thì mới phát triển nhanh và vững chắc
- Do không có kinh nghiệm trong việc chuyển giao công nghệ, nên có thể
có nhiều trờng hợp không kiểm tra, đánh giá đợc đầy đủ mức độ phù hợp hay không phù hợp với công nghệ nhập
Mặt khác, do vị thế bất lợi khi nhận công nghệ nớc ngoài nên có thể kéo theo những rủi ro, tác động xấu không chỉ đối với bản thân nhà kinh doanh mà cả đối với lợi tích quốc gia (thể hiện trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ không có lợi cho bên nhận đối với cán cân thành toán, chỉ só nhập và xuất khẩu )
* Những thuận lợi của các n ớc đang phát triển:
- Không phải tự sáng tạo ra những gì cần thiết bằng chuyển giao công nghệ, các nớc đang phát triển có thể nhanh chóng nâng cao năng lực công nghệ của mình trong nhiều ngành kinh tế mà không mất nhiều thời gian và ít gặp rủi ro
- Có thể chọn một số công nghệ mới đẩy mạnh phát triển, sớm khắc phục
sự lạc hậu về công nghệ
Trang 13- Có thể rút kinh nghiệm bài học thành công và thất bại của một số nớc đi trớc.
- Trong việc chuyển giao công nghệ có thể tranh thủ đợc những thuận lợi
nh tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập ngoại tệ chủ động trong việc sử dụng nguyên liệu địa phơng, thây thế nhập khẩu, giảm thời gian và chi phí cho nghiên cứu), triển khai (R - D).v.v
III- Kinh nghiệm của một số nớc trớc.
1- Quản lý khoa học và công nghệ ở nớc cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc):
Là một nớc đang phát triển, đất rộng 9,6 triệu km2, dân số hơn 1,1 tỷ ngời (1992), có nguồn tài nguyên phong phú, Trung Quốc cũng nh hầu hết các nớc
đang phát triển đều thực hiện vai trò của Nhà nớc trong hầu hết các hoạt động chuyển giao công nghệ, thông qua các Bộ luật và chính sách dới luật để xác lập
sự kiểm tra giá cả công nghệ đợc chuyển giao; thực hiện việc kiểm tra hậu quả Trung Quốc đã ban hành điều lệ khen thởng, phát minh, giải thởng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thực hiện chế độ bản quyền và sử dụng kỹ thuật có hoàn lãi, xây dựng và mở rộng thị trờng kỹ thuật; thử nghiệm chế độ hợp đồng nhận thầu thành lập quỹ nghiên cứu khoa học; tổ chức cơ quan trao đổi nhân tài và dịch vụ
kỹ thuật tổng chiến lợc phát triển khoa học và công nghệ của Trung Quốc chi làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1, sẽ phát triển mạnh mẽ công nghệ truyền thống và sử dụng
công nghệ, đặc biệt là vi điệnn tử để biến đổi công nghệ và công nghệ truyền thống
- Giai đoạn 2, là giai đoạn đẩy mạnh phát triển công nghệ cao trong khi
vẫn tiếp tục phát triển công nghệ và công nghệ truyền thống, đặc biệt chú trọng cả công nghệ cao lẫn công nghệ truyền thống đẻ tạo ra những công nghệ hỗn hợp Nhiệm vụ công nghiệp hoá nhờ đó sẽ hoàn thành trên cơ sở trình độ công nghệ tơng đối cao
Để làm đợc điều đó, hoạt động nghiên cứu và triển khai của Trung Quốc
đợc ỏt mạnh mẽ và không thể không quan tâm xây dựng một kết cấu hạ tầng
Trang 14t-ơng ứng Cùng với việc đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật và chuyên gia tài giỏi, phải chú trọng đúng mức công tác giáo tiền dục và nâng cao dân trí Xu hớng phát triển công nghệ phải nhanh chóng tiến lên sử dụng công nghệ cao.
2- Quản lý khoa học và công nghệ ở Hàn Quốc:
Nhận thức rõ vai trò của khoa học và công nghệ, Hàn Quốc rất quan tâm
đến chính sách và vai trò của khoa học và công nghệ Nhà nớc coi khoa học và công nghệ là công cụ quan trọng trong chính sách phát triển quốc gia từ đầu thập kỷ 60 Chiến lợc khoa học và công nghệ để hỗ trợ công nghiệp hoá đợc thực hiện trong ba giai đoạn:
- Giai đoạn đầu vào những năm 60, với mục tiêu phát triển và đặt nền cho công nghiệp hoá đất nớc thông qua việc thất nghiệp lập các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu, chiến lợc khoa học và công nghệ là đẩy mạnh giáo dục khoa học và kỹ thuật , xây dựng kết cấu hạ tầng công nghiệp và tăng cờng nhập khẩu công nghệ nớc ngoài Trong giai đoạn này, các cơ quan quản lý và đào tạo khoa học công nghệ quan trong đợc thành lập Bộ khoa học và Công nghệ (MOST), Viện khoa học và công nghệ (KIST)
- Giai đoạn thứ hai vào thập kỷ 70, khoa học và công nghệ tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu nghiên cứu phục vụ phát triển ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá Nhà nớc ban hàng Luật hỗ trợ các dịch vụ kỹ thuật
- Giai đoạn thứ ba vào những năm 80, khoa học và công nghệ nhằm vào việc chuyển hớng cơ cấu công nghiệp sang công nghiệp công nghệ cao, phát triển đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ trình độ cao bằng cách đào tạo trong và ngoài nớc, khuyến khích hồi hờng các nhà khoa học hàng đầu, khuyến khích hợp tác các cơ quan R & D, trờng đại học và các ngành công nghiệp thông qua dự án quốc gia tiến bộ cao
3- Kinh nghiệm của Nhật Bản:
Nhật Bản là một nớc nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhng với bí quyết của một chiến lợc có hiệu quả là nhập và đồng hoá công nghệ nớc ngoài (trớc khi chuyển sang chính sách hiện nay là sáng tạo công nghệ có tầm cỡ), Nhật Bản trở
Trang 15thành nớc đạt thành tựu cao và hoàn thiện nhất thế giới về khôi phục và phát triển kinh tế bằng một chính sách công nghệ thực dụng và có hiệu quả.
Việc đa công nghệ nớc ngoài vào đợc sự hỗ trợ mạnh mẽ của Nhà nớc với những chính sách thích hợp Thời kỳ đầu, vốn của khu vực t nhân nhỏ bé nên Nhà nớc đầu t trực tiếp Khi khu vực t nhân phát triển khá, Nhà nớc giảm dần sự tác động trực tiếp (thờng thua lỗ do cách quản lý quan liêu ) và t hữu hoá dần hoạt động công nghiệp Với các xí nghiệp t nhân, Nhà nớc bảo hộ cho tới khi tự lực đợc
Hiện nay Nhật Bản đã trở thành cờng quốc đứng th 2 về công nghệ, với trình độ rất cao về công nghệ Trên cơ sở đó chính sách Nhà nớc đã có sự thay
đổi Từ nay sẽ định hớng vào kỹ thuật công nghiệ nhiều hơn là vào thơng mại; sẽ chú trọng đẩy mạnh phát minh sáng chế hơn là chấp nhận và thích nghi công nghệ nớc ngoài
* Từ những bài học và kinh nghiệm của các n ớc rút ra một số kết luận sau:
1- Tất cả các nớc phát triển đều dựa trên thành tựu của khoa học và công nghệ và triển khai của thế giới, đồng thời có sự vận dụng sáng tạo vào nớc mình
2- Các nhà nớc đều tiến hành quản lý và có những chính thích đáng trong lĩnh viực khoa học và công nghệ, và triển khai phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế của nớc mình bằng việc Nhà nớc đầu t cho lĩnh vực khoa học và công nghệ, tổ chức thực hiện việc chuyển giao công nghệ một cách có hiệu quả
3- Các nớc phát triển có thể sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ song song với chiến lợc phát triển kinh tế Lấy sự phát triển giáo dục làm nền tảng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ
4- Xây dựng chiến lợc đầu t cho hệ thống khoa học và công nghệ song song với chiến lợc phát triển kinh tế Lấy sự phát triển của giáo dục làm nền tảng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ
5- Trong công tác quản lý và kế hoạch hoá khoa học và công nghệ cần kết hợp giữa Trung ơng với địa phơng Trung ơng chỉ đạo thống nhất cả nớc về ch-
ơng trình, mục tiêu nghiên cứu, khoa học và công nghệ Nhng địa phơng phải vận dụng sáng tạo để phù hợp với điều kiện cụ thể về thiên nhiên, dân c và lao
Trang 16động, truyền thống, và đặc biệt là phù hợp với điều kiện cân đối ngân sách địa phơng.
Trang 17Ch ơng II Tình hình đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc Việt Nam trong thời gian qua.
I- Tổng quan về các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay và thực trạng công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc Việt Nam.
1- Tổng quan về các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc Việt Nam:
Doanh nghiệp Nhà nớc là tổ chức kinh tế do đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nớc giao (luật doanh nghiệp Nhà nớc)
Các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc: Trong quá trình cải cách số doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc giảm mạnh, năm 1986 có 3141 doanh nghiệp, năm 1994 còn 2001 doanh nghiệp, giảm 1139 doanh nghiệp do địa ph-
ơng quản lý giảm 39,9% Ngành điện năng giảm 91,5%, sành, sứ, thuỷ tinh giảm 46,2%, chế biến sản phẩm kim loại giảm 35% số doanh nghiệp Có một số ngành số lợng doanh nghiệp có tăng Luyện kim đen tăng 37,5%, luyện màu tăng 150%, ngành may mặc tăng 5,2%, công nghiệp Việt Nam tăng 8,9% số doanh nghiệp
Quy mô của các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc trong các năm qua
có xu hớng tăng lên, nhất là các doanh nghiệp ngành năng lợng, nhiên liệu, luyện kim đen, sản xuất thiết bị máy móc, kỹ thuật điện, hoá chất, cao su chế biến gỗ và lâm sản, chế biến lơng thực, công nghiệp thực phẩm, may công nghiệp da và gỉa da (thí dụ quy mô bình quân của doanh nghiệp Nhà nớc) trong ngành công nghiệp năng lợng năm 1993 tăng 2,8 lần về vốn, tăng 2,8 lần về lao
động so với năm 1991)
Các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ Chỉ tích riêng 5 tỉnh và thành phố Hà Nội, hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Trang 18Quảng Nam - Đà Nẵng có số lợng các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc chiếm tỷ lệ 38,3% (1992) và 40,3% (1994) của cả nớc.
2- Thực trạng các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc Việt Nam.
Hiện nay, trong khi các nớc khác có thể hiện đại hóa đất nớc đầu t 300 - 500USD/ngời/năm, còn chúng ta chỉ có thể ở mức 1,3 - 1,5 USD/ngời/ năm Do
đó, các doanh nghiệp của ta có công nghệ lạc hậu (bình quân lạc hậu khoảng 15
- 20 năm)
Một loạt các nghiên cứu gần đây về doanh nghiệp công nghiệp trong đó phần đông là các doanh nghiệp Nhà nớc một lần nữa tái khẳng định bức tranh công nghệ không mấy sáng sủa của các doanh nghiệp Việt Nam
Xin trích dẫn ra đây kết quả nghiên cứu, những nhận xét có liên quan đến các bức tranh công nghệ ở các doanh nghiệp chọn lựa ở Việt Nam rút ra từ một
dự án do tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) tài trợ và Viện chiến lợc phát triển thuộc Bộ kế hoạch và Đầu t thực hiện năm 1998 là nh sau:
a- Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm:
- Vốn cố định nhỏ, quy mô doanh nghiệp nhỏ (62% các doanh nghiệp này
có số lao động ít hơn 10 công ngân)
- Công nghệ đơn giản, cũ kỹ
- Khả năng cạnh tranh của sản phẩm không chấp nhận đợc
b- Các doanh nghiệp xay xát gạo xuất khẩu.
- Chỉ có một số ít nhà máy xay xát loại lớn là có khả năng đảm bảo chất ợng cho xuất khẩu
l Hạ tầng bến cảng nơi xuất khẩu gạo Việt Nam còn kém chi phí bốc xếp cao gấp đôi ở Băng Cốc, Thái Lan, tóc độ bốc dỡ rất chậm
c- Các doanh nghiệp chế biến cà phê:
- Chất lợng cà phê chế biến thấp (chỉ có 2% số lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam thảo mãn các yêu cầu nghặt nghèo của loại 1)
- Máy móc chế biến tơng đối đơn giản
Trang 19- Hệ thống nghiên cứu và triển khai cho cà phê không phù hợp với tầm quan trọng của ngành này.
d- Các doanh nghiệp chế biến rau quả:
- Chất lợng sản phẩm còn là một vấn đề lớn
- Công nghệ đóng hộp lạc hậu (vẫn sử dụng phơng pháp hàn thiếc)
- Việc suất khẩu chủ yếu dựa vào chi phí chế biến thấp và trái vụ chứ cha phải là dựa vào dịch vụ kèm sản phẩm
e- Các doanh nghiệp chế biến hải sản:
- Đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh sản phẩm hải sản chế biến là khó khăn lớn nhất
- Tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng còn thấp
- Công nghệ chế biến còn cha cao và không đồng bộ (rất ít nhà máy chế biến hải sản có trang bị thích hợp để xử lý nguyên liệu thô trớc khi đa vào chế biến)
g- Các doanh nghiệp ngành dệt may:
- Máy móc thiết bị rất lạc hậu, đặ biệt là ngành dệt (trong số các doanh nghiệp dệt quốc doanh, có khoảng 15% máy móc là đạt chất lợng sản xuất, 45% cần đợc sửa chữa, 40% còn lại cần đợc thay thế)
- Năng suất lao động tính bằng GTGT theo lao động là rất thấp so với các nớc trong khu vực (Trung Quốc, Malaixia, Inđônêxia, Hàn Quốc, Đài Loan )
- Công nghệ quản lý doanh nghiệp Nhà nớc xơ cứng, kém năng động)
h- Các doanh nghiệp ngành điện tử:
- Công nghệ lắp ráp chiếm u thế (80% CJD)
- Cha có phát triển thiết kế gốc và chế tác mang tính thơng mại
- ít các công nhân đa kỹ năng
- Chất lợng sản phẩm cha hoặ ít có sản phẩm đạt tiêu chuẩn IS0 9000
- Năng suất có xu hớng giảm, chi phí có xu hớng tăng
- Tỷ lệ huy động năng suất trung bình thấp
- Cha có khả năng cạnh tranh quốc tế
i- Các doanh nghiệp công nghiệp ô tô
Trang 20- Đầu t cơ bản nhỏ so với mức cần thiết để đảm bảo chất lợng sản phẩm
- Công nghệ hầu nh lắp ráp (gấp 5 lần so với chính quốc)
- Tỷ lệ khai thác năng lực máy móc thiết bị thấp
k- Các doanh nghiệp cơ khí.
- Máy móc cũ kỹ và hỗn tạp: Hệ thống sản xuất lỗi thời Trình độ công nghệ ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất cơ khí không phù hợp để sản xuất các sản phẩm có chất lợng và hiệu suất cao
- ít tiếp cận với các dịch vụ thiết kế kỹ thuật (khâu lợng đầu vào "mềm" trong quá trình chế biến rất nhỏ bé so với quốc tế)
- Tỷ lệ phế phẩm cao
- Thiếu các ngành hỗ trợ (chế tác khuôn mẫu, đúc, rèn, xử lý bề mặt)
- Nhân lực có nhiều vấn đề về số lợng, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu, và hiện đang mất dần cơ sở để duy trì và phát triển nguồn nhân lực
- Các sản phẩm cơ khí không có tính cạnh tranh quốc tế (do chất lợng sản phẩm thấp, giá thành cao)
II- Tình hình đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc trong thời gian qua:
Từ khi đổi mới, chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc đã có nhiều cố gắng tích cực trong đổi mới toàn diện các hoạt động sản xuất và kinh doanh, thích nghi và khẳng định vị trí và thị phần của mình trong cạnh tranh Theo đánh giá chung của các cơ quan chức năng của Nhà nớc từ khi đổi mới cơ chế quản lý đến nay, dới áp lực của cạnh tranh, của thị trờng, công nghệ sản xuất ở các doanh nghiệp nói chung, ở các doanh nghiệp công nghiệp Nhà nớc nói riêng, đặc biệt là các liên doanh với nớc ngoài, đã có những đổi mới đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào sự tăng trởng của sản xuất, canh tranh và trụ vững trong cạnh tranh với sản phẩm và dịch vụ của nớc ngoài ở một số lĩnh vực
và sản phẩm công nghiệp nh quạt điện, xe đạp, thực phẩm chế biến Cũng theo
đánh giá của các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền (Bộ khoa học công nghệ môi trờng, Bộ công nghiệp) thì công nghệ đợc đổi mới đóng góp tới vài ba chục phần