1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề liên quan tới lao động trong các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

36 981 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Liên Quan Tới Lao Động Trong Các Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài
Tác giả Bùi Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn TS. Vũ Hoàng Ngân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 263 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Một số vấn đề liên quan tới lao động trong các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Ở nước ta hiện nay, số người không có việc làm khá nhiều, thêm vào đó hàng năm có hàng triệu lao động bổ xung cho thị trường sức lao động làm cung vượt quá cầu ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả nhân công Với giá nhân công rẻ, nguồn lao động phong phú cộng nền chính trị ổn định thì đây là điều kiện thuận lợi để thu hút các doanh nghiệp ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Các công ty nước ngoài đã sử dụng một khối lượng lao động lớn để giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động nhưng chất lượng và môi trường lao động cho người Việt Nam ở các công ty có vốn đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập, do chạy theo lợi nhuận các công ty này ít quan tâm tới vấn đề an toàn vệ sinh lao động, làm việc trong môi trường độc hại, cường độ căng thẳng, không có nhà ở gây khó khăn cho công nhân cùng với đó là vấn đề trả lương cho người lao động chưa được hợp lý có tình trạng 2-3 tháng công nhân không được trả lương hoặc trả lương không đúng như hợp đồng đã ký kết Từ đó phát sinh các mâu thuẫn gây ra sự tranh chấp lao động trong doanh nghiệp

Ngoài ra các chính sách, quy định của nhà nước về tiền lương, tiền thưởng chưa được các công ty thực hiện tốt cần có biện pháp cụ thể giám sát chặt chẽ và thực hiện các quy định của Bộ luật lao động

Từ những vấn đề bức xúc cần quan tâm giải quyết ở trên, em chọn đề tài " Một số vấn đề liên quan tới lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài " làm đề án môn học của mình và đưa ra những nhận xét đánh giá của mình để

có thể giúp ích phần nào giải quyết những khúc mắc trên

Bài viết chia làm 3 phần chính:

Chương1: một số vấn đề liên quan tới lao động trong các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài và các nhân tố ảnh hưởng

Chương 2: Thực trạng về AN – VSLĐ, việc làm, thu nhập và tranh chấp lao

động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp về vấn đề liên quan đến lao động

trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 2

Là một sinh viên năm thứ 4, đang còn trong quá trình nghiên cứu khoa học Vì vậy, bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Mong sao những thiếu sót và hạn chế của bài viết được thầy cô và bạn đọc cho lời nhận xét để đề án môn học được hoàn thiện hơn

Cuối cùng em xin chuyển lời tới TS Vũ Hoàng Ngân lời cảm ơn chân thành

nhất về sự chỉ bảo tận tình chu đáo của cô, đã giúp em hoàn thành tốt đề án môn học của mình

Sinh viên thực hiện: Bùi Thị thu Thảo

Trang 3

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DN CÓ VỐN ĐTNN VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG.

I.Một số vấn đề liên quan tới lao động trong các DN có vốn DTNN.

Đặc điểm của lao động trong các doanh nghiệp có vốn DTNN.

Với dân số khá đông, Việt Nam là một nước có nguồn lao động dồi dào lại là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn trong giai đoạn chuẩn bị cất cánh Vì vậy chi phí trả cho lao động việt nam khá rẻ so với các nước trong khu vực Kết hợp với nguồn tài nguyên phong phú đa dạng và nền chính trị ổ định, Việt Nam được coi là điểm dừng chân lý tưởng của các nhà đầu tư Mức lương hấp đẫn hơn các doanh nghiệp nhà nước do vậy lao động đổ xô vào các doanh nghiệp nước ngoài khá đông nhưng đa số là lao động trẻ và lao động đang trong giai đoan tích lũy

Các doanh nghiệp nước ngoài đòi hỏi sự nhanh nhạy và sự dẻo dai bền bỉ của sức trẻ cho nên lực lượng lao động trong khu vực này ở độ tuổi chủ yếu là 20-35, do tính chất công việc, yêu cầu khắt khe trong sản xuất mà lao động trong khu vực này chấp hành tính kỷ luật khá cao

2 Một số vấn đề liên quan đến lao động trong các doanh nghiệp nước ngoài.

Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước nói chung và trong các doanh nghiệp nước ngoài nói riêng đều bị chi phối bởi nhiều vấn đề khác nhau, các vấn đề đó có ảnh hưởng tốt hay xấu tới kết quả kết quả hoạt động, đời sống của người lao động từ đó ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động của cả doanh nghiệp Nhất là trong các doanh nghiệp nước ngoài các vấn đề như an toàn- vệ sinh lao động, việc làm, thu nhập, tranh chấp lao động càng cần xem xét kỹ

2.1 An toàn và vệ sinh lao động.

Khái niệm: An toàn lao động là tình trạng điều kiện lao động không gây nguy hiểm trong sản xuất

Điều kiện lao động là tập hợp các yếu tố của môi trường lao động( yếu tố vệ sinh, tâm sinh lý, tâm lý xã hội, thẩm mỹ) có tác động lên trạng thái, chức năng của

Trang 4

cơ thể con người, khả năng làm việc, thái độ lao động, sức khỏe, quá trình sản xuất sức lao động và hiệu quả lao động của họ trong hiện tại cũng như trong lâu dài

Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề an toàn vệ sinh lao động:

Một trong những mục tiêu của doanh nghiệp đó là tăng năng suất lao động dẫn tới tăng ồ ạt sản phẩm bằng cách thúc đẩy người lao động làm việc nhiều hơn Nhưng trong quá trình lao động dù sử dụng công nghệ thông thường hay công nghệ hiện đại, đều phát sinh và tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm, có hại Nếu không được phòng ngừa cẩn thận, chúng có thể tác động gây chấn thương, bệnh nghề nghiệp đối với người, làm giảm sút hoặc mất khả năng lao động hoặc tử vong Cho nên, việc chăm

lo cải thiện điều kiện lao động đảm bảo nơi làm việc an toàn, vệ sinh vừa là quyền lợi của cả người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời đó là một trong những yếu tố quan trọng để phát triển sản xuất và tăng năng xuất lao động Chính vì vậy, công tác bảo hộ lao động có vị trí rất quan trọng và là một trong yêu cầu khách quan của hoạt động sản xuất kinh doanh

( 2 ) Thu nhập

Khái niệm: Là tất cả khoản tiền mà người lao động nhân được

Sự cần thiết: Các doanh nghiệp nước ngoài hiện nay tạo ra khối lượng việc làm rất lớn, vấn đề tạo việc làm cho người lao động là rất cần thiết nhằm giảm thất nghiệp, công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu đối với các quốc gia muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sống thấp sang nền kinh tế công nghiệp, năng suất cao Trong quá trình phát triển nền kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ kéo theo chuyển dịch cơ lao động Vì vậy, có nghề mới, hoạt động sản xuất mới ra đời, trong khi một số nghề cũ, hoạt động cũ bị mất đi, thất nghiệp phát sinh, có việc làm đồng nghĩa có thu nhập nâng cao vị thế của người

Trang 5

lao động trong gia đình và ngoài xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế các tiêu cực xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và bình ổn xã hội nếu không có việc làm sẽ không có thu nhập, không có điều kiện thỏa mãn nhu cầu chính đáng về vật chất, tinh thần của người lao động , chất lượng cuộc sống giảm sút Như vậy việc làm

và thu nhập là các vấn đế mà không chỉ các doanh nghiệp mà các quốc gia đều phải lưu tâm, nhất là trong các doanh nghiệp nước ngoài chất lượng lao động quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất và cần phải nghiên cứu để đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho người lao động

2.3 Tranh chấp lao động

Khái niệm: Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện khác về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề

Khi làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài, người lao động thường chịu rất nhiều áp lực về tiền lương, thu nhập, hợp đồng lao động…vv thường từ phía người

sử dụng lao động từ đó có thể dẫn tới các mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, giữa người lao động và người sử dụng lao động kiến cho hoạt động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không tốt Chính vì vậy để giải quyết ổn thỏa những mâu thuẫn này cần phải xem xét nguyên nhân, và tìm ra những biện pháp để hạn chế và ngăn ngừa những mâu thuẫn đó

II Các nhân tố ảnh hưởng tới an toàn lao động, việc làm, thu nhập, tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

1 Người lao động.

Có thể nhận thấy rằng người lao động là một trong những nguyên nhân lớn gây tác động tới ATLĐ, VSLĐ, thu nhập, tranh chấp lao động Như nguyên nhân chính gây nên tai nạn lao động chết người nói riêng là do người lao động vi phạm an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nước ngoài luôn luôn có đầu tư kinh phí rất lớn để cải thiện điều kiện lao động, trang bị bảo hộ lao động, huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động, nhưng một sai lầm là không coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục cho người lao động có ý thức chấp hành quy chế

an toàn, vệ sinh lao động Như vậy người lao động có ý thức kém trong vấn đề an toàn vệ sinh lao động Do đó dẫn tới những thiếu sót trong hoạt động sản xuất cuả

Trang 6

người trực tiếp điều khiển, những nhân viên bảo quản, người quan sát, vv Bên cạnh vấn đề an toàn vệ sinh lao động, đó là vấn đề về thu nhập và việc làm Trong bối cảnh một đất nước đang phát triển như việt nam, cung về số lượng lao động không phải là vấn đề đáng bàn vì dư cung.

Vấn đề quan trọng hơn là chất lượng sức lao động, khi làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài không phải bất cứ cá nhân nào cũng có một mức lương khá ổn mà

đó còn tùy thuộc vào sức lao động mà người lao động bỏ ra Do vậy người lao động muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp với năng lực, trình độ, cần có thông tin thị trường lao động, cần đầu tư cho sức lao động của mình tức đầu tư cho vốn con người cả về thể lực và trí lực, luôn luôn bồi bổ, tìm tòi học hỏi

2 Trình độ tổ chức và quản lý.

Bên cạnh ý thức kỷ luật của người lao động thì tổ chức công đoàn có vai trò quan trọng trong công tác an toàn- sức khỏe thu nhập của tổ chức

Nhiều cán bộ quản lý có trách nhiệm về mặt xã hội và chủ sở hữu đã lưu tâm tới vấn

đề an toàn sức khỏe, tổ chức thực hiện thanh tra báo cáo theo định kỳ, phổ biến tới toàn thể người lao động, trang bị đầy đủ các dụng cụ an toàn lao động, tổ chức một cuộc diễn tập phòng chống tai nạn trong quá trình sản xuất giúp cho người lao động tiếp cận và sử lý kịp thời khi có tình huống đó xảy ratrong công tác giảm an toàn lao động hay cũng như tăng thu nhập của người lao động thì vai trò của tổ chức, quản lý khá là quan trọng Để người lao động hoàn thành công việc được tốt, suất sắc thì cần phải có sự hướng dẫn của người quản lý Vậy người quản lý phải quản lý như thế nào? Người quản lý phải hiểu từng loại đối tượng, loại lao động, công việc cụ thể để

có cách quản lý phù hợp Người lao động làm việc tốt hay không, đạt hiệu quả cao hay không một phần lớn phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý của người sử dụng lao động

3 Đặc điểm nghành nghề.

Tùy thuộc vào nghành nghề khác nhau mà người lao động có mức thu nhập khác nhau Đối với người công nhân sản xuất thường làm việc theo dây truyền sản xuất, sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm khác hẳn với người quản lý không thể dựa vào khối lượng công việc mà họ làm ra để xác định lương cho họ, và thu nhập của

Trang 7

hai đối tượng này cũng khác nhau Thường nghành nghề đòi hỏi lượng chất xám cao thì mức lương được đánh giá là cao hơn so với nghành nghề lao động thủ công và tùy thuộc vào đặc điểm của nghành nghề này mà việc áp dụng hướng dẫn công tác an toàn lao động khác nhau, mỗi nghành nghề gây ra những ảnh hưởng khác nhau, vì vậy phải có cách phòng hộ riêng biệt.

Trang 8

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG VỀ AT-VSLĐ, VIỆC LÀM, THU NHẬP

VÀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI.

1 An toàn và sức khỏe người lao động

Cùng bước nhịp với nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhà nước đưa ra các chính sách khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài thuộc các thành phầm kinh tế, các

tổ chức cá nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong khu vực này

Nhiều khu công nghiệp có từ 90%-100% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như khu công nghiệp: Sài Đồng (Hà Nội), khu chế xuất Linh Trung (TP.HCM), khu công nghiệp AMATA(Đồng Nai)…Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực gia công, lắp giáp và sản xuất các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu thụ thị trường trong nước với các mặt hàng chủ yếu là hàng may mặc xuất khẩu, lắp giáp điện tử, lương thực thực phẩm Các doanh nghiệp đã thu hút một lượng lao động đáng kể đặc biệt là lao động nữ.Ví dụ ở khu chế xuất Tân thuận(tp.HCM) với 84 doanh nghiệp sử dụng 16034 lao động trong đó có 11334 là lao động nữ; hoặc khu chế xuất Linh trung với 14 doanh nghiệp trong đó có 7844 lao động nữ Nhiều doanh nghiệp trong khu chế xuất đã sử dụng hơn 90% lao động nữ như tại công ty TNHH Bultel- internationl(khu công nghiệp Biên Hòa 2) chuyên sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của Đức, nữ chiếm tới 92% lượng lao động Do được xây dựng biệt lập với khu dân cư và có lợi thế về cơ sở hạ tầng ban đầu cũng như vốn ĐTNN mà doanh nghiệp có điều kiện xây dựng cơ sởa sản xuất, thiết kế nhà xưởng theo đúng tiêu chuẩn an toàn- vệ sinh lao động Nhìn chung người lao động làm việc

ở các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại các khu chế xuất, khu công nghiệp được hưởng điều kiện lao động thuận lợi, tiện nghi hơn do những dây truyền công nghệ được cơ giới hóa, tự động hóa, làm giảm bớt cáccông việc thủ công, các yếu tố nguy hiểm, độc hại, môi trường làm việc cũng được cải thiện, ít ôi nhiễm và khang trang

Trang 9

sạch sẽ hơn.Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã áp dụng những kinh nghiệm tốt trong quản lý lao động đặc biệt là đảm bảo vệ sinh và an toàn cho người lao động Trong các khu công nghiệp người sử dụng lao động trong nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được đúng mối quan hệ giữa cải thiện điều kiện lao động và năng suất lao động cũng như sự khang trang và bề thế của công ty là lời bảo đảm uy tín chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp mình với bạn hàng

Bên cạnh đó, trong khu vực này người lao động đang phải đối đầu với cường độ làm việc căng thẳng, gánh nặng tâm lý, làm việc trong dây truyền công nghệ mới với

tư thế không phù hợp Qua nghiên cứu tìm hiểu về an toàn – sức khỏe của người lao động có vốn ĐTNN tại khu công nghiệp, nhất là các doanh nghiệp lắp giáp điện tử, may mặc, giầy da, chế biến nông sản và hải sản nhận thấy:

Người lao động khi làm việc phải thực hiện những thao tác đơn điệu đòi hỏi phải tập chung cao độ các giác quan để hoàn thành nhanh chóng các nhiệm vụ của mình trong dây truyền Họ gần như phụ thuộc vào nhịp độ dây truyền công nghệ khép kín,

có công đoan phải đứng suốt một ca Chính vì vậy người lao động trụ lại được ở doanh nghiệp thường là người có sức khỏe dẻo dai, tác phong nhanh nhẹn, đi nhanh, làm nhanh, nhanh mắt,nhanh tay, đã không ít người lao động ngất tại nơi làm việc do chưa quen, quá mệt mỏi, căng thẳng

Số liệu điều tra:Dây truyền lắp giáp trong doanh nghiệp ĐTNN.(SÀI ĐỒNG)

Mức độ mệt mỏi căng thẳng tăng qua độ run rẩy của

Kết quả điều tra chỉ ra rằng chỉ số thần kinh tâm lý, thị giác sau lao động giảm hơn trước lao động, nhịp điệu thao tác tăng hơn so với trước là 1.84 lần từ đó dẫn tới

sự căng thẳng trong làm việc, mệt mỏi thông qua độ run rẩy của chân tay, nhịp đập của tim tăng lên rất nhiều so với người làm việc ngoài dây truyền Bên cạnh đó do khâu nhập khẩu chưa chặt chẽ, nhập các thiết bị máy móc cũ lạc hậu, nhiều dây truyền sản xuấttừ những naem 1974 đã hết hạn gây ô nhiễm môi trượngg và ản hưởng đến suất khẩu của người lao động, ngoài ra, công nghệ mới cũng xuất hiện những bất lợi, độc hại mới, người lao động phải làm việc ở nhiều vị trí có tư thế

Trang 10

không phù hợp gây sự mệt mỏi tâm lý Kết quả điều tra 106 lao động kỹ thuật cao trong ngành nhiệt điện, xi măng, truyền tải, phân phối điện cho thấy:

Các trung tâm điều khiển đều được lắp đặt theo thiết kế nước ngoài, nênchỉ phù hợp với 65% người lao động việt nam Khi người việt nam làm vịêc trên dây truyền công nghệ này, họ phải chịu đựng căng thẳng hơn, hoặc phải đưa bớt công việc cho người khác

Sự phù hợp của người lao động với công ngệ:

lý, cộng với tư thế lao động bất lợi, người lao động làm việc trên dây truyền mới thường mắc các bệnh nghề nghiệp như rối loạn cơ xương và một số các bệnh khác dẫn tới sức khỏe của người lao động bị giảm sút và một số người lao động đã phải bỏ việc kết quả khám sức khỏe trong một số doanh nghiệp cho thấy những biểu hiện lâm sàn tim mạch tim mạch của người lao động trong các doanh nghiệp này cũng khá cao mà nguyên nhân có thể là do quá căng thẳng về thời gian và tâm lý Việc tuân thủ lao động liên quan đến vấn đề an toàn sưc khỏe người lao động trong các khu công nghiệp còn nhiều hạn chế Nhiều doanh nghiệp đã không khai báođăng ký xin phép

sử dụng một số thiết bị có yeu cầu nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh lao độngnhư nồi hơi, bình nén khí, thang máy Chưa lập kế hoạch về an toàn- vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện làm việc và khám sức khỏe định kỳ cho người lao động điều này có

Trang 11

thể thấy rõ ở các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Biên Hòa hoặc Sài Đồng các công ty này chỉ biết các thông tư dưới luật liên quan tới việc khai báovà xin giấy phép các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn sau khi làm việc với thanh tra lao động Nhưng cơ chế phối hợp lao động giữa các ban quản lýkhu công nghiệp và

cơ quan lao động địa phương còn chưa hoàn thiện nên với nhiều lý do, chủ sử dụng lao động không thực hiện nghiêm chỉnhvà càng gây khó khăn hoặc cố tình ngăn cản các hoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước vì vậy còn nhiều tồn tại trong công tác an toàn và vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp này chưa được phát hiện và sử lý kịp thời

Cường độ làm việc căng thẳng và nhiều bất lợi do sự không quản lý chặt chẽ

từ đầu quá trình chuyển giao công nghệ có thể dẫn tới nguy cơ người lao độngphải dời khỏi dây truyền sản xuất sớm hơn nhiều so với tuổi về hưu theo định của pháp luật, điều này đã xảy ra ở nhiều nước trong khu vưc như thái lan, philipin, đang phải đối đầu với đông đảo lực lượng lao động mà phần đông là lao động nữ phải dời khỏi dây chuyền sản xuất

Do xu hướng muốn tăng năng suất, tăng sức cạnh tranh, nhiều người sử dụng lao động trẻ hơn- đối tượng dễ nhận tiền lương thấp và cókhả năng đáp ứng đòi hỏi của dây truyền công nghệ cao- sự thay đổi của khoa học công nghệ được dùng như một cớcho việc giảm biên chế Thay cho việc đào tạo lại để sử dụng công nghệ mới, những người phụ nư sấp sỉ 40tuổi mà phần lớn mới ở trình độ lớp 6 phổ thông bị thay thế Như ở doanh nghiệp đèn hình orion-hanel do tính chất công việc, các thao tác của người lao động đòi hỏi phải tinh mắt, nhanh tay mới đáp ứng được về mặt thời gianvà tốc độ của dây truyền, mặc dù độ tuổi trung bình của công nhân hiện nay là 22 tuổi nhưng với cường độ và tính chất công việc như hiện tại thì những công nhân ở

độ tuổi 35 không thể tiếp tục công việc Đây thực sự là thách thứcđối với người lao động trong các DNNN, khi họ bước qua ngưỡng tuổi thanh xuân, việc làm không còn, chế độ không có…họ có thể bị nghỉ việc hay có thể mắc những căn bệnh mà do trước đấy họ đã cống hiến hết mình cho công việc

Thực hiện pháp luật về an toàn vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Trang 12

Một hệ thống an toàn vệ sinh lao động hữu hiệu, điều kiện làm việc thuận lợilà nhu cầu quyền lợi chính đáng đầy tính nhân văn, nhân đạo cho mỗi người lao động tham gia vào các quá trình lao động xã hội đó là nhân tố bảo toàn sức khỏe khả năng sáng tạo của người lao động, cái quý nhất của mỗi con ng cũng như bảo toàn sức lao động xã hội để không ngừng tăng năng suất lao động và phát triển lực lượng sản xuất Tuy nhiên vấn đề an toàn lao động hầu như đối với mỗi quốc gia, ở mọi thời điểm luôn mang tính bức xúc, bởi nó liên quan tới tất cả các khâu của tất cả hệ thống sản xuất, hạch toán kinh tế, thành tịu khoa học, công nghệ sản xuất và an toàn lao động an toàn lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có những đặc trưng riêng về kinh tế, công nghệ, quản lý sản xuất kinh doanh, quan hệ xã hội doanh nghiệp môi trường áp dụng pháp luật viện lao động khoa học- lao động và các vấn đề xã hội thuộc bộ lao động- thương binh xã hội vừa thực hiện dự án điều tra

áp dụng bộ luật lao động trong đó có vấn đề thực hiện dự án điều tra áp dụng bộ luật lao động trong đó có vấn đề thực hiện pháp luật về an toàn lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Dưới đây là một số vấn đề quan tâm nôi lên khá đậm nét cần đước sự nghiên cứu xử lý và chấn chỉnh Tại thời điểm quý IV năm 2000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tỉnh phía bắc có 27% tổng số lao động đang phải làm việc trong điều kiện không thuận lợi, bao gồm các yếu tố tải trọng thể lực cao, nguy hiểm độc hại, trật trội, tổ chức nơi làm việc không phù hợp với nhân trắc học, tính đơn điệu cao của chỗ làm việc Tỷ lệ này cao hơn mức bình quân chung là trong một số ngành, như ngành công nghiệp nặng số lao động làm việc trong điều kiện không thuận lợi chiếm 44.3%, ngành xây dựng là 63.3% Chủ yếu các ngành này

có số lao động làm việc không thuận lợi là thuộc doanh nghiệp có vốn đầu tư của Đài Loan, Nhật Bản, nước châu Mỹ, thấp nhất là doanh nghiệp Hàn Quốc(81% tổng số lao động) tại một bộ phận doanh nghiệp hệ thống kỹ thuật an toàn lao động tăng, bao gồm các phương tiện kỹ thuật và thao tác làm việc bảo đảm an toàn cho người lao động chưa được trang bị đầy đủ(giầy, khẩu trang, quần áo bảo hộ, mũ,găng tay…) đó

là chưa xét đến chất lượng chủng loại được cung cấp số này chủ yếu ở các doanh nghiệp Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore.tuy nhiên điều đáng mừng trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các nước châu mỹ 100% trang bị đầy đủ phòng hộ lao động nhưng bộ phận khá lớn trong doanh nghiệp này là không được huấn luyện

Trang 13

an toàn lao động chiếm 37% do đó những lao động này thườngtiến hành những công việc, thao tác một cách tùy tiện coi thường nguy cơ an toàn lao động bên cạnh đó một bộ phận lao động được tuyển vào (đặc biệt lao động nông thôn) chưa quen với lối sản xuất và văn minh công nghiệp, ý thức chấp hành quy trính công nghệ, quy trình kỹ thuật an toàn lao động thấp làm cho chủ sử dụng lao động một số doanh nghiệp ngánngẩm.việc vi phạm thực hiện huấn luyện an toàn lao động có phần nghiêm trọng hơn là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các nước châu

mỹ, Hồng Kông, Nhật Bản, các nước châu Âu đóng tại các địa phương: Hà Tây, Thái Nguyên,Hải Dương

Công tác an toàn lao động chưa hoàn chỉnh còn do từ phía người sử dụng lao động Thống kê hiện nay có khoảng 30% tổng số doanh nghiệp chưa cử người làm công tác giám sát an toàn lao động, việc xây dựng kế hoạch, chương trình, biện pháp an toàn lao động không thực hiện trong các doanh nghiệp, chỉ có 4% tổng số lao động ngành công nghiệp nặnglà có thực hiện, kể cả doanh nghiệp một số nước thực hiện khá hơn

về công tác an toàn lao động thì cũng mới chỉ chú trọng về cung cấp trang bị phòng

hộ lao động mà chưa có biện pháp toàn diện về bảo đảm an toàn lao động hiện tạivà lâu dài cho người lao động Chính vì vậy khi có các khâu đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị vật tư sản xuất chưa tiến hành xây dựng nội quy, quy trình an toàn lao động để phổ biến huấn luyện kịp thời cho người lao động Đối với công tác khám sức khỏe định kỳ cho người lao động thấy sự vi phạm khá phổ biến của chủ sử dụng lao động, gần nửa số lao động trong doanh nghiệp không được khám sức khỏe định kỳ Bình quân chung các doanh nghiệp mới chỉ có 64.7% tổng số lao động được khám sức khỏe định kỳ Trong các doanh nghiệp công nghiệp chỉ đạt 50.7% lao động được khám sức khỏe định kỳ, phần lớn là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại địa phương Quản Ninh, Hải Dương, Thái Nguyên, Hà Tây Nguyên nhân chủ yếu của sự vi phạm này là do tính toán lợi ích kinh tế của chủ sử dụng lao động, một phần

do hệ thống dịch vụ y tế không thuận lợi do một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở địa bàn khó khăn Chính từ những tồn tại trên của công tác an toàn lao động

mà tình hình tai nạn lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tính chất khá nghiêm trọng về quy mô

Trang 14

Qua nghiên cứu một số doanh nghiệp, công ty nước ngoài thu được kết quả số vụ tai nạn như sau:

Trong các Doanh nghiệp trên đối với các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư càng lớn thì số vụ tai nạn lại càng tăng, số người ảnh hưởng của các vụ tai nạn lao động tính bình quân là 2.04 người hầu hết các tai nạn lao động làm mất sức lao động (giảm khả năng lao động) từ 0-31% Tai nạn lao động xảy ra nhiều hơn là trong ngành công nghiệp nặng, điện tử, xây dựng, công nghiệp nhẹ, nếu tính theo tổng số lao động thì chỉ số tần suất tai nạn lao động là 100%, bệnh nghề nghiệp cũng được phát hiện trong doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, một số nước hầu hết thuộc ngành xây dựng Trong doanh nghiệp đầu tư nước ngoài các nước Mỹ là 14.6‰, Nhật Bản

là 6.54‰, Hồng Kông là 1.12‰ và chỉ phát hiện được 3 ngành xây dựng là 19.67‰, điện tử 0.93‰, dịch vụ 037‰ số liệu cung cấp của người sử dụng lao động và số liệu điều tra người lao động cho biết 66.80% trường hợp tai nạn lao động xảy ra là do người lao động vi phạm quy chế an toàn lao động và 20-34% do chủ sử dụng lao động vi phạm quy định pháp luật về an toàn lao động Còn nguyên nhân của bệnh nghề nghiệp phát sinh ở người lao động chủ yếu là người sử dụng lao độngchưa chú trọng đúng mức thực hiện các biện pháp vệ sinh công nghiệp, bảo đảm tiêu chuẩn giới hạn cho phép các yếu tố môi trường lao động( chất độc hại, từ trường, rung động, ít hiểu biết về vệ sinh trong lao động-cũng là nguyên nhân của phát sinh bệnh nghề nghiệp) Một vấn đề nữa là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài các quy địngvề điều kiện lao động cho lao động nữchưa được thực hìện tốt trên tổng thể còn có 33% tổng số lao động nữ làm việc trong cả doanh nghiệp không có nhà tắm, tương tự 11.7%không có nhà vệ sinh, 25.1% không có nơi thay quần áo, gây khó khăn cho lao động nữ, thậm chí còn có tính trạng đại tiểu tiện trong doanh nghiệp làm giảm mỹ quan chung Chính vì vậy ngành luật lao động có quy định riêng đối với lao động nữ nhằm đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, tạo điều kiện cho người lao động nữ làm việc nâng cao hiệu quả năng lực nghề

Trang 15

nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình đó là những vấn đề

về chế độ nghỉ hưu do trông con, chế độ ưu tiên lao động nữ mang thai, đảm bảo nơi

vệ sinh cho lao động nữ sự công bằng trong công tác trả lương

2 Tranh chấp lao động- nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.

Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa chấp hành đầy đủ pháp luật lao động để tranh chấp lao động xảy ra thường xuyên kéo dài và đôi khi rất gay gắt, nguyên nhân chủ yếu từ người sử dụng lao động dẫn đến cuộc đình công từ phía người lao động theo thiết kế chỉ 6 tháng đầu năm 2006 đã có 303 cuộcđình công tăng gầp đôi năm 2005- các cuộc đình công tăng nhanh về số lượng, ngày càng lớn về quy

mô và tính chất ngày càng gay gắt phức tạp Đình công đã xảy ra ở các ở các thành phố kinh tế và mọi loại hình doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hơn 850 cuộc chiếm 66.5% nhiều nhất là ở các doanh nghiệp Hàn Quốc đình công chủ yếu xảy ra ở các tỉnh phía nam có các khu công nghiệp đông công nhân, lao động TP HCM có hơn 5 cuộc(40.4%), Bình Dương 21,8% với 280 cuộc, Đồng Nai sấp sỉ 20% với 225 cuộc(28/12/2005 là vụ đình công tại công ty freedend được coi là

số lượngcông nhân tham gia lớn nhất từ trước đến nay tại TP.HCM) Các cuộc đình công có xu hướng phát triển lam rộng tới một số tỉnh miền bắc và miền chung như: Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Đà Nẵng…) Những nguyên nhân dẫn đến các cuộc đình công, tranh chấp chủ yếu là vi phạm trái pháp luật từ phía người sử dụng lao động, chủ doanh nghiệp đối sử thô bạo với người lao động( đánh đập) lăng nhục

về tinh thần, đối phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, có doanh nghiệp lấy mức lương tối thiểu làm mức lương cơ bản để trả cho người lao động, đánh giá tiền lương quá thấp, định mức công việc quá cao, thanh toán không đầy đủ chế độ phụ cấp, làm thêm giờ, nợ lương, chậm trả kéo dài không ký hợp đồng lao động, sa thải không lý do Những vi phạm đó là thủ phạm dẫn đến thu nhập thấp kém của người lao động từ đó tích tụ mâu thuẫn giữa công nhân với giớ chủ ngày cáng lớn, điều kiện sinh hoạt đặc biệt là nhà thực sự khó khăn, đời sống văn hóa nghèo nàn, sinh họat đắt đỏ sẽ là mồi lửa châm ngòi nổ đình công Như vậy trong lao động sản xuất và phân phối thành quả lao động, việc phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp lao động đều khó tránh khỏi ở bất cứ quốc gia nào, song việc phấn đấu để giảm tới mức thấp nhất các tranh chấp nhất là ở các công việc không đáng để xảy ra nhằm tạo

Trang 16

lập mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động là một ý tưởng tốt đẹp và phải trở thành mục tiêu phấn đấu chung Từ việc tổng kết các loại tranh chấp thường gặp trên đây, nguyên nhân chủ yếu là do:

Việc tìm hiểu bộ luật lao động và các văn bản hướng dẫn để hiểu cho rõ làm cho đúng chưa được doanh nghiệp đầu tư nước ngoài quan tâm đúng mức, ý thức pháp luật chưa được đề cao, nhiều chủ doanh nghiệp khi được hỏi về những sai phạm thường hay đổ lỗi cho người giúp việc, vịn cớ ngôn ngữ bất đồng, chưa am hiểu nên làm sai, khi có tranh chấp chủ doanh nghiệp thường ủy quyền cho người giúp việc không đủ thẩm quyền quyết định và bỏ về nước làm cho vụ kiệnkéo dài và đôi khi phải tạm đình chỉ, làm cho tranh chấp phát sinh càng thêm trầm trọng

Việc ký hợp đồng lao động chưa theo đúng quy định của bộ luật lao động: điều khoản mập mờ, không rõ ràng, nhiều doanh nghiệp đã tuyển dụng công nhân vào tổ chức sản xuất hàng năm mà không ký hợp đồng với người lao động, cố tình kéo dài thời gian thử việc, ký hợp đồng ngắn hạn đối với công việc có tính thường xuyên lâu dài để tăng cường bóc lột và dễ dàng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không phải bồi thường tiền lương cho người lao động

Một số doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, đãi ngộ không tương xứng với thời gian và cường độ lao động mà họ bỏ ra, chưa quan tâm chăm lo tay nghề, kỹ năng kỹ sảo cho công nhân, chưa gắn chặt kế hoạch sản xuất kinh doanh với chiến lược xây dựng con người

Đội ngũ cán bộ là người Việt Nam trong các liên doanh thường chưa đề cao trách nhiệm, là cầu nối trung thực giữa người lao động và người sử dụng lao động , một số người là vì địa vị cá nhân, vì tư lợi đã phụ họa với chủ doanh nghiệp coi thường người lao động, không trung thực, khách quan, đề cao trách nhiệm trong việc giải quyết các tranh chấp lao động, ngăn chặn ngay từ khi mâu thuẫn mới phát sinh trong doanh nghiệp

Tính kỷ luật, tác phong công nghiệp, tự giác chấp hành nội quy, quy chế của doanh nghiệp ở một bộ phận người lao động chưa cao Nhiều người còn thiếu tính tự giác trong lao động sản xuất, trong quản lý và chưa đáp ứng được yêu cầucủa doanh nghiệp

Trang 17

Việc xây dựng nội quy, quy chế, quy trình, quy tắc kỹ thuật, bảo vệ tài sản, ở một số doanh nghiệp chưa sát hợp, cụ thể và không bổ xung kịp thời nên khi xảy ra tranh chấp rất khó phân xử

Nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm xây dựng cơ chế bảo đảm quyền lợi làm chủ ở doanh nghiệp, từ chối thành lập công đoàn hoặc có ý kiến cho rằng công đoàn đứng về một phía, bảo vệ một chiều, nên tìm cách chhống lại hay tạo dựng một đội ngũ công đoàn là người đại diện bảo vê quyền lợi hợp pháp của người lao động đồng thời cũng là người bạn đường của người sử dụng lao động, biết ngăn chặn những sai phạm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả hai phía

Việc thi hành kỷ luật đối với người lao động chưa tuân thủ cácquy định của bộ luật lao động, còn áp đặt, truy chụp dẫn đến viễc xử lý sai, gây bất công cho người lao động Khắc phục được những nguyên nhân , tồn tại nêu trên chăc chắn sẽ làm giảm đáng kể những phát sinh tranh chấp lao động, xây dựng quan hệ lao động tốt đẹp,hài hòa ổn định và đemlại lợi ích to lớn cho cả người lao động

Việc ban hành chính sách tiền lương đối với lao động tại các doanh nghiệp nước ngoài chậm sửa đổi Từ trước tới nay mức lương tối thiểu mới chỉ được điều chỉnh 3 lần trong khi vật giá sinh hoạt, dịch vụ đã khác xa Mức điều chỉnh này không theo kịp yêu cầu của cuộc sống, không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của đời sống công nhân

3 Việc làm và thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

3.1 Việc làm.

3.1.1 Việc làm trực tiếp.

Từ đầu năm 2000 đến nay có 303 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, Trên 70 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam số vốn đầu tư hàng đầu là singapore với tổng số vốn đầu tư khoảng 6.8 tỷ usd, chiếm 19% tổng vốn đăng ký trực tiếp đầu tư nước ngoài Tiếp đến là Đài Loan có số vốn đầu tư khoảng 4.88 tỷ usd Nhật Bản thứ 3, với số vốn khoảng 3.8 tỷ usd Các dự án này đã tạo ra nhiều việc làm giải quyết nhiều khó khăn cho người lao động Theo thống kê chính thức số người làm việc trong khu vực có vốn FDI ngày càng tăng Nếu như năm 1993

số lao động trong khu vực này chỉ có 49.892 người ( niên gián thống kê 1994), đến

Trang 18

giữa năm 1994 con số này đã là 88.054 người tức tăng 1.76 lần, đến tháng 12 năm

1998 con số này là 281.000 người, năm 2001 là 370.000 người, và giữa năm 2003 tăng lên tới 620.000 người cho đến thời điểm hiện nay các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài đã tạo ra cho người lao động Việt Nam khoảng 1.090.000 chỗ làm việc trực tiếp Ta thấy từ năm 2003-2006 chỉ trong vòng 3 năm mà đã tăng lên 470.000 chỗ làm việc, đó là sự vượt bậc đáng kể Tuy nhiên so với tổng số lực lượng lao động của cả nước thì số lượng việc làm trực tiếp do FDI tạo ra không nhiều Năm 1991 lực lượng này mới chiếm 0.04% lực lượng lao động cả nước, tới năm 2000 là 0.83% và năm 2003 là 1.5% Nhưng so với khu vực nhà nước, số lao động trong các bộ phận có liên quan đến họat động của các dự án đầu tư nước ngoài bằng 40% tổng số lao động bình quân hàng năm trong khu vực nhà nước thì quả thật đây là thành tích đáng khích lệ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này cũng phù hợp với xu hướng chung của FDI trong tạo việc làm của các nước trên thế giới

Trong các doanh nghiệp có FDI, các doanh nghiệp liên doanh sử dụng nhiều lao động nhất, sau đó đến các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài và hợp đồng hợp tác kinh doanh

Lao động hoạt động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, có mặt ở các ngành kinh tế khác nhau trong đó những ngành thu hút dự án và vốn FDI cũng thu hút lao động Tuy nhiên, khả năng thu hút lao động không phải bao giờ cũng theo tỷ

lệ thuận với vốn và công nghệ Có tới 71% tổng số lao động hoạt động trong khu vực

có vốn FDI là tập trung ở ngành công ngiệp, trong đó công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm là 57%, công nghiệp nặng là 14% Các dự án đầu tư nước ngoài vào nông lâm nghiệp, thủy sản chỉ chiếm khoảng 13% trong tổng lao động do FDI tạo ra Điều này đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách cần có những bước đi thích hợp để chuyển đổi cơ cấu lao động phù hợp với tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thu nhập bình quân của lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài là 70USD/tháng – tương đương với khoảng 1.000.000 VND, bằng khoảng 150% mức thu nhập bình quân của lao động trong khu vực nhà nước Đây là yếu tố hấp dẫn đối với lao động Việt Nam, do đó đã tạo ra sức cạnh tranh nhất định trên thị trường sức lao động nhị nguyên Tuy nhiên, lao động làm việc trong các

Ngày đăng: 21/12/2012, 16:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Về mức lương tối thiểu, thang lương, bảng lương và phụ cấp lương. - Một số vấn đề liên quan tới lao động trong các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
m ức lương tối thiểu, thang lương, bảng lương và phụ cấp lương (Trang 27)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w