1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 2001 – 200

38 698 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 2001 – 2005
Tác giả Đặng Trung Nghĩa
Người hướng dẫn Cô Vũ Thị Ngọc Phùng, Thầy Ngô Thắng Lợi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 2001 – 200

Trang 1

Lời nói đầu

Chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn

là một vấn đề cơ bản, cốt lõi của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá củabất cứ một quốc gia nào nếu không muốn đứng vào danh sách các nớc nghèonhất thế giới

Chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp, hoá hiện đại hóa, phù hợpvới các yêu cầu và bớc đi trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế khu vực vàthế giới là một trong những nội dung cơ bản của đờng nối đổi mới kinh tế đất

nớc do Đại hội lần thứ VII, VIII và IX của Đảng đề ra Mục tiêu phấn đấu

đến năm 2005 ở nớc ta có cơ cấu GDP theo ngành là: Tỷ trọng nông, lâm ngnghiệp khoảng 20 – 21%, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng khoảng 38 –39%, tỷ trong dịch vụ khoảng 41 – 42% Để đạt đợc mục tiêu đề ra trên đây,góp phần thực hiện chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa, mỗi nhóm ngành phải đạt tốc độ tăng tr-ởng: Nông nghiệp 4,8%/năm, công nghiệp 13%/năm, dịch vụ 7,5%/năm.Nhằm tìm kiếm các phơng hớng và giải pháp cơ bản thực hiện chủ trơng vànhiệm vụ quan trọng này, đã có nhiều công trình nghiên đợc tiến hành và thửnghiệm trong những năm vừa qua Nhiều ấn phẩm khoa học đã đợc xuất bản.Qua các kết quả nghiên cứu đó, nhiều vấn đề lý luận, quan điểm định hớng đãtừng bớc đợc luận giải và làm sáng tỏ, nhiều chính sách, giải pháp đã đợctriển khai và áp dụng trong thực tế Tuy vậy, chuyển dịch cơ cấu theo hớngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, phù hợp với các yêu cầu và bớc đi trong tiếntrình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một vấn đề có nội dungphong phú và phức tạp, mục tiêu, yêu cầu và bớc đi của chuyển dịch cơ cấukinh tế phải đợc xem xét gắn với mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế.Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của Việt Nam và đờng hớng phát triểnkinh tế của Đảng và Nhà nớc trong thời gian tới Vì vậy, em đã chọn viết đề

tài: “Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nớc ta thời kỳ 2001 – 2005” Mặc dù đã có cố gắng nhiều trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu đề

tài, song đây là một vấn đề phức tạp, nên chắc chắn đề án không tránh khỏicòn những thiếu sót Em rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của cácthầy (cô) giáo, các quý vị và các bạn Em xin chân thành cảm ơn về các ý kiến

đóng góp quý báu đó

Cuối cùng, em xin cảm ơn cô giáo Vũ Thị Ngọc Phùng, thầy giáo NgôThắng Lợi và toàn thể các thầy (cô) giáo khác đã giúp em hoàn thành đề ánmột cách tốt nhất

Sinh viên: Đặng Trung Nghĩa

Trang 2

Chơng i những vấn đề lý luận chung về chuyển dịch

Có nhiều cách tiếp cận, nhng nhìn chung bản chất chủ yếu của cơ cấukinh tế bao gồm các vấn đề sau:

- Tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế củamột quốc gia

- Số lợng và tỉ trọng các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệthống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nớc

- Các mối quan hệ tơng tác với nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố hớng vào các mục tiêu đã định Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu t ợng;muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằmchuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu

cụ thể của nền kinh tế quốc dân

b Cơ cấu ngành kinh tế

Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế hợp thành các tơngquan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các nhóm ngành và vị trí, tỷ trọng củamỗi ngành tổng thể kinh tế quốc dân Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình

độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển củalợng sản xuất Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trng của các nớc

đang phát triển Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia ngời ta thờngphân tích theo ba nhóm ngành chính:

- Nhóm ngành nông nghiệp: bao gồm các ngành nông, lâm, ng nghiệp

- Nhóm ngành công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xâydựng

- Nhóm ngành dịch vụ: bao gồm thơng mại, bu điện, du lịch

Nhìn vào thực trạng cơ cấu ngành kinh tế nớc ta hiện nay có thể nhận xét:nớc ta hiện nay về cơ bản còn đang là một nớc nông nghiệp Xu hớng có tínhquy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo h-ớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nghĩa là tỷ trọng và vai trò của ngành côngnghiệp và dịch vụ có xu hớng tăng nhanh, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp

có xu hớng giảm Kinh nghiệm thế giới cho thấy, muốn chuyển từ một nềnkinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bớc:chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 40 –60%, công nghiệp từ 10 –20%, dịch vụ 10 – 30% ) sang nền kinh tế công ,nông ( tỷ trọng ngành nông nghiệp 15 – 25%, công nghiệp 25 –35%,dịch vụ

40 – 50%), để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển ( tỷtrọng ngành nông nghiệp dới 10%, công nghiệp 35 – 40%, dịch vụ 50 –60%)

c Cơ cấu lãnh thổ

Trang 3

Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xãhội và chuyên môn hoá sản xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại đợc hình thànhchủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý.

Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế thực chất là hai mặt của một thểthống nhất và đều là sự biểu hiện của phân công lao động xã hội Cơ cấu lãnhthổ hình thành gắn liền với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế.Trong cơ cấu lãnh thổ, có sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện cụthể của không gian lãnh thổ Xu hớng phát triển của kinh tế lãnh thổ thờng làphát triển nhiều mặt, tổng hợp, có u tiên một vài ngành và gắn liền với sự hìnhthành và phân bổ dân c phù hợp với các điều kiện, tiềm năng phát triển kinh tếcủa lãnh thổ Việc chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ phải bảo đảm sự hình thành vàphát triển có hiệu quả của các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế theo lãnhthổ và trên phạm vi cả nớc, phù hợp với các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội,phong tục tập quán, truyền thống của mỗi vùng, nhằm khai thác triệt để thếmạnh của vùng đó

d Cơ cấu thành phần kinh tế

Nếu nh phân công lao động xã hội đã là cơ sở hình thành cơ cấu ngành vàcơ cấu lãnh thổ, thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phầnkinh tế Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổchức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lợngsản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội Theo nghĩa đó, cơ cấu thànhphần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấulãnh thổ Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ giữa cácloại cơ cấu trong nền kinh tế

Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu ngành kinh tế, cơcấu thành phần kinh tế, cơ cấu lãnh thổ có quan hệ chặt chẽ với nhau.Trong đócơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả Cơ cấu ngành và thànhphần kinh tế chỉ có thể đợc chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gianlãnh thổ và trên phạm vi cả nớc Mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổmột cách hợp có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thànhphần kinh tế trên lãnh thổ

2 Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế

a KháI niệm

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình thay đổi cơ cấu ngành kinh

tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phân công lao động xã hội, sựphát triển của lực lợng sản xuất và các nhu cầu phát triển khác của xã hội Sức ép của nhu cầu thị trờng và yêu cầu phát triển kinh tế, đòi hỏi phảithay đổi cơ cấu ngành của nền kinh tế – còn gọi là chuyển dịch cơ cấungành Có một số quan niệm sau đây cần phải quán triệt:

- Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế là sự thay đổi có mục đích,

có định hớng và dựa trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn,cùng với việc áp dụng đồng bộ các giải pháp cần thiết để chuyển cơ cấu ngành

từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và hiệu quả hơn

Trang 4

hội cao trong sự phát triển Ngợc lại, sẽ phải trả giá đắt cho những sự pháttriển về sau.

- Trong thời đại ngày nay, sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trờng

và tiến bộ khoa học công nghệ, ở tất cả các nớc đều đặt ra vấn đề chuyển dịchcơ cấu ngành Riêng ở các nớc đang phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành phảiluôn luôn gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là tạo lập cơ cấu ngành phùhợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Yêu cầu đặt ra là phải

định vị đợc một cơ cấu các ngành kinh tế, xác định hợp lý các ngành, vùngtrọng điểm, mũi nhọn cho phù hợp với mỗi giai đoạn công nghiệp hoá, hiện

đại hoá

- Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế thành công hay thất bại phụthuộc rất nhiều vào khâu quyết định chủ trơng chuyển dịch và tổ chức thựchiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định ở đây, Nhà nớc có vai trò quyết

định trong việc hoạch định chủ trơng và chính sách kinh tế vĩ mô còn cácdoanh nghiệp thì có vai trò quyết định việc thực thi phơng hớng, nhiệm vụchuyển dịch

3 Các đặc điểm của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đểbảo đảm hội nhập có kết quả là quá trình có tính quy luật phổ biến ở tất cả cácnớc, song trong mỗi giai đoạn khác nhau của sự phát triển, quá trình này cũng

có những đặc điểm riêng, đòi hỏi phải đợc các chủ thể nhận thức đúng đắn và

có những ứng xử phù hợp

ở nớc ta hiện nay, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có những đặc

điểm sau đây:

Chúng ta vẫn đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá, tuy rằng thời gian qua chúng ta đã có những bớc chuyển biếnmạnh mẽ Biểu hiện chủ yếu của đặc điểm này là nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệlớn trong cơ cấu kinh tế nói chung, tỷ trọng công nghiệp có tăng nhng cha đạtmức mong muốn Trong nội bộ 3 nhóm ngành lớn, cơ cấu ngành đã có hớngthay đổi tích cực, có tác động bớc đầu đối với sự phát triển chung của toàn bộnền kinh tế quốc dân, song cha vững chắc, cha đáp ứng đợc yêu cầu của sự hộinhập quốc tế và khu vực Trong nội bộ các nhóm ngành, đặc biệt là trong nông

- lâm – ng nghiệp, trình độ trang bị kỹ thuật còn thấp, năng suất cây trồng,vật nuôi cha cao, chất lợng hàng hoá còn thấp đã hạn chế xuất khẩu ra thị tr-ờng thế giới Trong công nghiệp, máy móc thiết bị ít về chủng loại, lại lạc hậu

về công nghệ, phần lớn thuộc thế hệ cũ, trang bị chắp vá Một nửa số doanhnghiệp Nhà nớc có hệ số hao mòn tài sản cố định trên 50%, trong đó có 27%

số doanh nghiệp hao mòn trên 60% Lao động thủ công và bán cơ giới cònphổ biến nên năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lợng sảnphẩm cha đủ cạnh tranh trên thị trờng quốc tế, công nghiệp nông thôn còn nhỏ

bé, cha phát triển tơng xứng với tiềm năng nên cha có sức thu hút lao động dthừa trong nông nghiệp

Nến kinh tế Việt Nam đã bớc sang một giai đoạn mới về chất, giai đoạn

mà sự phát triển theo chiều rộng, đòi hỏi nền kinh tế và nhóm ngành phảichuyển hớng sang tìm kiếm và khai thác các yếu tố phát triển theo chiều sâu.Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta theo hớng hội nhập với nền kinh tếkhu vực, thế giới diễn ra trong bối cảnh của giai đoạn chuyển đổi cơ chế quảnlý.Trong giai đoạn này, một số yếu tố của cơ chế mới từng bớc đợc hìnhthành, song cần có thời gian để củng cố khẳng định, các yếu tố của cơ chế cũvẫn còn hiện diện và phát huy vai trò của nó trong nền kinh tế , nhiều yếu tốquản lý ở tầm chiến lợc còn cha đợc định hình rõ nét Trong hoàn cảnh đó, có

Trang 5

thể và cần tìm các giải pháp và các bớc đi có tính quá độ để thực hiện chuyểndịch cơ cấu kinh tế đất nớc.

Một điều khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nớc ta hiện nay làtrong khi cần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế , sớm hình thành cơ cấu mớitích cực để hội nhập thì lại thiếu nguồn lực cơ bản cho sự phát triển: thiếuvốn, trình độ kỹ thuật công nghệ thấp kém, lao động trình độ thấp Bởi vậy,các khó khăn bất cập xảy ra thờng xuyên trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu

là điều tất yếu và đòi hỏi chúng ta phải có các giải pháp và điều kiện điềuchỉnh thích hợp

Việt Nam đi vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trùng vớithời điểm thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn về chính trị và kinh tế Xuthế hoà bình và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc; toàncầu hoá và khu vực hoá đời sống kinh tế đã trở thành một trong những xu thếphát triển chủ yếu của quan hệ quốc tế hiện đại Cuộc cách mạng khoa họccông nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tácgiữa các quốc gia làm cho lực lợng sản xuất đợc quốc tế hoá ngày càng cao.Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là ngành tin học, đã dẫn tớihình thành mạng lới toàn cầu nh : “ xa lộ thông tin”, ” thơng mại diện tử”

Đặc điểm này đòi hỏi các nớc phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điềuchỉnh chính sách theo hớng mở cửa Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập khuvực và quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triểnkinh tế, củng cố an ninh chính trị giữ gìn bản sắc dân tộc Quán triệt đặc điểmnày là yếu tố quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hớng và có hiệuquả

II Một số vấn đề lý luận cơ bản về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

1 Cơ sở lý luận của mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và quá trình phát triển kinh tế.

a Học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về táI sản xuất t bản xã hội

Quá trình phát triển tăng trởng kinh tế của một quốc gia thờng đợc xemxét nh là một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu ngời Mặc dù cónhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trởng, nhng chỉ tiêu trênvẫn đợc coi trọng và làm thớc đo cho sự phát triển về kinh tế Một xu hớngmang tính quy luật là cùng với sự phát triển về kinh tế, cũng diễn ra một quátrình thay đổi về cơ cấu kinh tế tức là một sự thay đổi tơng đối về vai trò mức

đóng góp, tốc độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấuthành nên toàn bộ nền kinh tế Một trong những cơ cấu kinh tế đợc quan tâm

và nghiên cứu nhiều trong mối liên hệ với quá trình tăng trởng và phát triểnkinh tế là cơ cấu ngành Cơ cấu đó về phần mình lại đợc thể hiện trong quátrình sản xuất tiêu dùng và ngoại thơng Mối quan hệ giữa vấn đề chuyển dịchcơ cấu xét theo khía cạnh này với sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế

là có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi vì gắn với nó là cả một động thái về phân

bố các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất địnhvào những lĩnh vực hoạt động sản xuất riêng Điều này có thể giúp chúng taphân tích, nhận biết tính hiệu quả của việc phân bố nguồn lực, từ đó có thể rút

ra những kết luận tơng ứng về khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế.Tơng tự, cơ cấu ngành trong quan hệ ngoại thơng cũng thể hiện các lợi thế t-

ơng đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu.Quá trình chuyển dịch cơ cấu là một quá trình tất yếu gắn liền với sự pháttriển kinh tế Đồng thời nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quá trình

Trang 6

tăng trởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linh hoạt, phù hợpvới những lợi thế bên ngoài và các điều kiện tơng đối của một nền kinh tế.Một trong những đặc điểm rõ nét nhất trong việc thay đổi cơ cấu kinh tếtrong quá trình phát triển là việc tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong tổngsản phẩm quốc nội trong khi tỷ trọng của nông nghiệp lại giảm sút Có hai lý

do chính lý giải cho hiện tợng này đó là luật Engel Luật Engel cho rằng khithu nhập của gia đình tăng lên thì phần chi tiêu dành cho thực phẩm giảmxuống Nguyên nhân thứ hai là sự phát triển kinh tế làm cho năng suất lao

động nói chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng đợc tăng lên, do vậy tỷtrọng trong ngành nông nghiệp có xu hớng giảm

Tuy tất cả các nớc đều có xu thế chuyển dịch cơ cấu nh nhau, nhng tốc

độ chuyển dịch lại hoàn toàn không giống nhau vì bị chi phối bởi nhiều yếu tốkhác Quá trình chuyển dịch diễn ra nh thế nào phụ thuộc vào các yếu tố nhquy mô kinh tế, dân số của một quốc gia, các lợi thế về tự nhiên, nhân lực,

điều kiện kinh tế, văn hoá Không có bất cứ một con đờng sẵn có, một liệupháp cho tất cả các nền kinh tế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu Có hainhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu, đó là quá trìnhchuyên môn hoá và thay đổi công nghệ, tiến bộ kỹ thuật (theo Tomich vàKilby) Quá trình chuyên môn hoá mở đờng cho việc trang bị kyc thuật hiện

đại, hoàn thiện tổ chức, áp dụng công nghệ tiên tiến nâng cao năng suất lao

động Chuyên môn hoá cũng tạo ra những hoạt động dịch vụ và chế biến mới

Điều đó làm cho tỷ trọng các ngành truyền thống giảm trong khi đó thì tỷtrọng của các ngành dịch vụ kỹ thuật mới càng đợc tăng trởng nhanh chóng,dần dần chiếm u thế Chuyển dịch cơ cấu tạo ra những tiền đề cho sự pháttriển và hoàn thiện của các thị trờng yếu tố sản xuất và ngợc lại, việc hoànthiện và phát triển của thị trờng đó lại thúc đẩy quá trình phát triển, tăng trởngkinh tế và do vậy làm sâu sắc thêm quá trình chuyển dịch cơ cấu Hai thị trờnglao động và tài chính và hai yếu tố lao động và vốn có sự liên hệ chặt chẽ vớiquá trình chuyển dịch cơ cấu Không thể có một chính sách chuyển dịch cơcấu đáng kể nếu không có các điều kiện hỗ trợ cần thiết về mặt tài chính vànguồn lực con ngời

b Khả năng ứng dụng vào Việt nam

2 Kinh tế học thuộc trào lu chính

a Điểm xuất phát, kế thừa của kinh tế học cổ điển

“Kinh tế học thuộc trào lu chính” là một trong những trờng phái kinh tếlớn nhất hiện nay Nó có cội nguồn từ kinh tế học cổ điển Vì đối tợng củakinh tế học thuộc trào lu chính là các nền kinh tế thị trờng phát triển nên vềphơng diện nào đó, có thể thấy rằng vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tếtrong thời kỳ công nghiệp hoá không phải là mục tiêu phân tích chính của nó.Song, không phải vì vậy mà vấn đề này không đợc đề cập đến dới hình thứcnày hoặc hình thức khác Khi nhằm mục tiêu đuy trì hiệu quả của nền kinh tế,kinh tế học thuộc trào lu chính một mặt đi sâu phân tích các điều kiện đảmbảo sự hoạt động hữu hiệu của thị trờng với t cách là động lực phát triển kinh

tế, mặt khác đề cao vai trò can thiệp của nhà nớc thông qua một loạt các chínhsách kinh tế vĩ mô với chức năng đảm bảo cho thị trờng hoạt động tốt và duytrì sự ổn định vĩ mô ở địa hạt này, những phân tích về xu hớng chuyển dịchcơ cấu kinh tế ở những nền kinh tế phát triển đang diễn ra dới tác động củacuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật và xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tếthế giới cùng những biện pháp can thiệp của nhà nớc, đặc biệt là những chơngtrình tái cơ cấu nền kinh tế quốc gia, trong đó có chính sách cơ cấu, nên đợcxem là những tài liệu khảo cứu có giá trị

Trang 7

b Phân tích sự đảm bảo hoạt động hữu của thị trờng, đề cao vai trò của nhà nớc

Nh vậy, những phân tích về mặt lý thuyết của trờng phái kinh tế này vớivấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng Cũng chính vì lẽ

đó mà hầu nh các công cụ phân tích động thái tăng trởng và chuyển dịch cơcấu của trờng phái lý thuyết này đang đợc sử dụng trong các ký thuyết pháttriển

c Khả năng ứng dụng vào Việt nam

3 Các lý thuyết phát triển

a Lý thuyết phân kỳ phát triển kinh tế

T tởng cơ bản của ngời chủ xớng lý thuyết này – Walt Rostow- chorằng, quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đều trải qua 5giai đoạn tuần tự nh sau:

1/ Xã hội chuyền thống: Với đặc trng là nông nghiệp giữ vai trò thống trị

trong đời sống kinh tế, năng suất lao động thấp và xã hội kém linh hoạt

2/ Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Với những thay đổi quan trọng là trong

xã hội đã xuất hiện tầng lớp chủ xí nghiệp có khả năng đổi mới, kết cấu hạtầng sản xuất, nhất là giao thông, đã phát triển Bắt đầu hình thành những khuvực đầu tầu có tác động lôi kéo nền kinh tế phát triển

3/ Giai đoạn cất cánh: Với những dấu hiệu quan trọng nh tỷ lệ đầu t so

với thu nhập quốc dân đạt mức 10%, xuất hiện những ngành công nghiệp chếbiến có tốc độ tăng trởng cao, có những chuyển biến mạnh mẽ trong thể chếxã hội, thuận lợi cho sự phát triển của khu vực sản xuất hiện đại và kinh tế đốingoại

4/ Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi kinh tế: Là giai đoạn mà tỷ lệ đầu

t trên thu nhập quốc dân đạt mức cao 10- 20% và xuất hiện nhiều cực tăng ởng mới

tr-5/ Kỷ nguyên tiêu dùng hành loạt: là giai đoạn kinh tế phát triển cao,

sản xuất đa rạng hoá, thị trờng linh hoạt và có hiện tợng xuy giảm nhịp độtăng trởng

Theo lý thuyết phân kỳ phát triển này, hầu hết các nớc đang phát triển

đang tiến hành công nghiệp hoá hiện nay nằm ở giai đoạn 2 và 3, tuỳ theomức độ phát triển của từng nớc Ngoài những dấu hiệu kinh tế – xã hội khác,

về mặt cơ cấu, phải bắt đầu hình thành một số ngành công nghiệp chế biến cókhả năng lôi kéo toàn bộ nền kinh tế tăng trởng Đồng thời, cùng với sựchuyển tiếp từ giai đoạn 2 sang 3 là sự thay đổi của những lĩnh vực đóng vaitrò đầu tàu Nghĩa là trong chính sách cơ cấu cần xét đến trật tự u tiên pháttriển những lĩnh vực có thể đảm trách vai trò đó qua mỗi giai đoạn phát triển

cụ thể

b Lý thuyết nhị nguyên

Lý thuyết nhị nguyên do A Lewis khởi xớng, tiếp cận vấn đề từ đời sốngkinh tế của các nớc đang phát triển Ông đã có những kiến dải khá cụ thể vềchuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện nay Lýthuyết nhị nguyên cho rằng ở các nền kinh tế này có hai khu vực kinh tế songsong tồn tại: Khu vực kinh tế truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp

và khu vực kinh tế công nghiệp hiện đại, du nhập từ bên ngoài Khu vựctruyền thống có đặc điểm là trì trệ, năng suất lao động thấp và d thừa lao

động Vì thế có thể chuyển một phần lao động từ khu vực này sang côngnghiệp hiện đại mà không làm ảnh hởng gì tới sản lợng nông nghiệp Do có

Trang 8

năng suất cao nên khu vực công nghiệp hiện đại có thể tự tích luỹ để mở rộngsản xuất một cách độc lập mà không phụ thuộc vào những điều kiện chungcủa toàn bộ nền kinh tế

Kết luận đơng nhiên rút ra từ những nhận định này là để thúc đẩy pháttriển kinh tế của những nớc chậm phát triển , cần phải bằng mọi cách mở rộngkhu vực sản xuất công nghiệp hiện đại càng nhanh càng tốt mà không cầnquan tâm đến khu vực nông nghiệp truyền thống Sự gia tăng của những khuvực công nghiệp hiện đại tự nó sẽ rút dần lao động từ khu vực nông nghiệpsang và biến nền sản xuất xã hội từ trạng nhị nguyên thành một nền kinh tếcông nghiệp phát triển

Phải nói rằng những kết luận của lý thuyết nhị nguyên đã gây ấn tợngmạnh mẽ đối với các quốc gia chậm phát triển đang mong muốn đẩy nhanhquá trình công nghiệp hoá Trên thực tế, các chính sách công nghiệp hoá và cơcấu kinh tế ở nhiều quốc gia chậm phát triển từ sau chiến tranh thế giới lần thứhai đến thời gian gần đây đã ít nhiều chịu ảnh hởng của lý thuyết này

Tóm lại, khi nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của hai lĩnh vựcsản xuất vật chất quan trọng nhất của các nền kinh tế của các nớc chậm pháttriển trong thời kỳ công nghiệp hoá , lý thuyết nhị nguyên đã đi từ chỗ chorằng chỉ cần tập trung vào phát triển công nghiệp mà không chú ý tới nôngnghiệp đến chỗ chỉ ra những giới hạn của chúng và vì thế, cần quan tâm thích

đáng tới nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế này

c Lý thuyết phát triển cân đối liên ngành

Những ngời ủng hộ quan điểm này nh R.Nurkse, P Rodan , cho rằng để nhanh chóng công nghiệp hoá, cần thúc đẩy sự pháttriển đồng đều ở tất cả mọi ngành kinh tế quốc dân Họ chủ yếu đựa trênnhững luận cứ sau:

Rosenstein Trong quá trình phát triển, tất cả các ngành kinh tế liên quan mật thiếtvới nhau trong chu trình đầu ra của ngành này là đầu vào của ngành kia Vìthế, sự phát triển đồng đều và cân đối chính là đòi hỏi sự cân bằng cung cầutrong sản xuất

- Sự phát triển cân đối giữa các ngành nh vậy còn giúp tránh đợc ảnh ởng tiêu cực của những biến động của thị trờng thế giới và hạn chế mức độphụ thuộc vào nền kinh tế khác, tiết kiệm nguồn ngoại tệ vốn rất khan hiếm vàthiếu hụt

h Một nền kinh tế dựa trên cơ cấu cân đối hoàn chỉnh nh vậy chính là nềntảng vững chắc đảm bảo sự độc lập chính trị của các nớc thuộc thế giới thứ bachống lại chủ nghĩa thực dân

Tuy nhiên, thực tế đã dần dần cho thấy những yếu điểm rất lớn của môhình lý thuyết này ở đây có hai vấn đề đặc biệt cần đợc xem xét lại là:

Thứ nhất , việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối, hoàn chỉnh đã đa

nền kinh tế đến chỗ khép kín và khu biệt với thế giới bên ngoài Điều nàychẳng những ngợc với xu hớng chung của tất thảy mọi nền kinh tế trong điềukiện hiện đại là khu vực hoá và toàn cầu hoá, mà trong lúc ngăn ngừa nhữngtác động tiêu cực của thị trờng thế giới, đã bỏ qua những ảnh hởng tích cực dobên ngoài mang lại

Thứ hai, các nền kinh tế chậm phát triển không có đủ khả năng về nhân,

tài, vật lực để có thể thực hiện đợc những mục tiêu cơ cấu đặt ra ban đầu.Cả hai yếu tố này đều góp phần làm cho sự chuyển dịch cơ cấu ngànhtheo hớng công nghiệp hoá gặp khó khăn, bởi lẽ cách tiếp cận vấn đề trên đãlàm phân tán các nguồn lực phát triển rất có hạn của quốc gia

Trang 9

d Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối hay các cực tăng

trởng”

Ngợc lại với quan điển phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu cân đốikhép kín nêu trên, lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối cho rằngkhông thể và không nhất thiết phải bảo đảm tăng trởng bền vững bằng cáchduy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia, với những luận cứ chủyếu sau:

- Việc phát triển cơ cấu không cân đối gây nên áp lực, tạo ra sự kích thích

đầu t Trong mối tơng quan giữa các ngành, nếu cung bằng cầu thì sẽ triệt tiêu

động lực khuyến khích đầu t nâng cao năng lực sản xuất Do đó, nếu có những

dụ án đằu t lớn hơn vào một số lĩnh vực thì áp lực đầu t sẽ xuất hiện bởi cầulớn hơn cung lúc đầu và sau đó thì cung lớn hơn cầu ở một số lĩnh vực Chínhnhững dự án đó có tác dụng lôi kéo đầu t theo lý thuyết số nhân

- Trong mỗi giai đoạn phát triển của thời kỳ công nghiệp hoá, vai trò

“cực tăng trởng” của các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau Vì thế,cần tập trung những nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trong thời điểmnhất định

- Do trong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, các nớc đang phát triểnrất thiếu vốn, lao động kỹ thuật, công nghệ và thị trờng nên không đủ điềukiện để cùng một lúc phát triển đồng bộ tất cả các ngành hiện đại Vì thế, việcphát triển cơ cấu không cân đối là một sự lựa chọn bắt buộc

e Lý thuyết phát triển theo mô hình đàn nhạn bay“ ”

Từ sự phân tích thực tế lịch sử phát triển kinh tế của các quốc gia và dựatrên lý thuyết lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngời khởi xớng lýthuyết này, giáo s Kaname Akamatsu đã đa ra những kiến giải về quá trình

“đuổi kịp” các nớc tiên tiến nhất của các nớc kém phát triển hơn Trong sốnhững ý tởng về sự “đuổi kịp” này, vấn đề cơ cấu ngành có ý nghĩa đặc biệtquan trọng Xét trên góc độ phát triển của toàn bộ nền công nghiệp, từng phânngành hay thậm chí từng loại sản phẩm riêng biệt, quá trình đuổi kịp về mặtkinh tế và kỹ thuật của chúng đợc chia thành 4 giai đoạn sau:

Giai đoạn1: Các nớc kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ

các nớc phát triển hơn và xuất khẩu một số sản phẩm thủ công đặc biệt Giai

đoạn này sảy ra sự phân công lao động quốc tế ngay trong lòng các nớc kémphát triển – chuyên sản xuất một số loại sản phẩm thủ công đặc biệt để bán

và nhập khẩu hàng tiêu dùng công nghiệp khác từ các nớc công nghiệp pháttriển

Giai đoạn 2: Các nớc chậm phát triển nhập sản phẩm đầu t từ các nớc

công nghiệp phát triển để tự chế tạo lấy hàng hoá công nghiệp tiêu dùng trớc

đây vẫn phải nhập Đây là giai đoạn các nớc kém phát triển bắt đầu tích luỹ tbản và phỏng theo công nghệ chế tạo từ các nớc công nghiệp phát triển Ngoàiviệc nâng cấp và mở rộng một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu, nhìn toàncục giai đoạn 2 mang dáng dấp của mô hình công nghiệp hoá “thay thế nhậpkhẩu” đối với nhiều ngành sản xuất công nghiệp hàng tiêu dùng

Giai đoạn 3: Là giai đoạn mà những sản phẩm công nghiệp thay thế

nhập ở giai đoạn 2 đã có thể trở thành sản phẩm xuất khẩu Những sản phẩm

đầu t trớc đây phải nhập giờ đây đã có thể dần dần thay thế bằng nguồn khaithác và sản xuất trong nớc Nh vậy, khoảng cách kỹ thuật giữa các nớc đi sauvới các nớc công nghiệp phát triển không còn xa cách bao nhiêu Vì vậy số l-ợng và quy mô mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng Cơ cấu công nghiệp

đã trở nên đa rạng hơn do có nhiều khả năng về kỹ thuật để lựa chọn và lợidụng các lợi thế so sánh so với trớc đây

Trang 10

Giai đoạn 4: Là giai đoạn việc xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng bắt

đầu giảm xuống, nhờng chỗ cho việc xuất khẩu các loại hàng hoá đầu t vốn đãbắt đầu phát triển ở giai đoạn 3 Về mặt kỹ thuật, nền công nghiệp đã đạt mứcngang bằng với các nớc công nghiệp phát triển và chuyển giao một số ngànhsản xuất công nghiệp tiêu dùng sang các nớc kém phát triển hơn

III một số mô hình và kinh nghiệm chuyển dịch cơ

cấu ngành ở một số nền kinh tế

1

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong một số mô hình công nghiệp hoá.

a Mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển“ ”

Nhóm nớc công nghiệp hoá kiểu cổ điển đi tiên phong trong cuộc cáchmạng công nghiệp và ngày nay là những nớc công nghiệp phát triển nhất Đó

là Anh và Pháp, sau đó Mỹ, Đức, Nga và Nhật Bản Thực ra, những n ớc côngnghiệp hoá muộn hơn có nhiều điểm khác biệt so với những nớc công nghiệphoá đầu tiên Song trên những nét khái quát, những điểm tơng đồng về điềukiện, cách thức và trình tự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳcông nghiệp hoá vẫn rất đậm nét và nổi trội Những điều kiện chung của quátrình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu ngành của nhóm nớc theo môhình cổ điển đại thể là:

- Là những nớc có quy mô lãnh thổ và dân số tơng đối lớn

- Là những nớc dẫn đầu thế giới về tiến bộ khoa học – kỹ thuật và côngnghệ Quá trình công nghiệp hoá của chúng hầu nh hoàn toàn dựa trên cơ sởcông nghệ và kỹ thuật của bản thân mình Đồng thời, ở đây đã hình thành các

đô thị lớn, thơng mại phát triển và đội ngũ thủ công lành nghề đông đảo

- Các mối quan hệ quốc tế còn hạn hẹp, chỉ tập trung chủ yếu dới hìnhthức hoạt động ngoại thơng Vì thế, mức độ ảnh hởng của thế giới bên ngoàivới quá trình công nghiệp hoá của chúng không giống nh hiện nay

- Cuối cùng, các nguồn tài nguyên thiên nhiên: đất đai, khoáng

sản, t-ơng đối phong phú, đa rạng nên về cơ bản, đã đáp ứng đợc nhu cầu của giai

đoạn đầu của cách mạng công nghiệp Thêm vào đó, do các nớc này đều dóthuộc địa riêng nên một mặt, có nguồn bổ sung quan trọng về nguyên liệu, vậtliệu, lao động và thị trờng ; mặt khác, mức độ cạnh tranh quốc tế cha quyếtliệt

Trong những điều kiện nh vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế của mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển có những nét đặc trng là:

1, Cuộc cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp xảy ra trớc, trở thành một trong số những tiền đề tiên quyết của cách mạng công nghiệp (hay công nghiệp hoá).

2, Trên phơng diện trang bị kỹ thuật cho sản xuất , sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển diễn ra theo trình tự là: công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, giao thông vận tải và bu điện, nông nghiệp và cuối cùng là lĩnh vực dịch vụ và lu thông.

3, Do tuân thủ trình tự trang bị kỹ thuật nêu trên, công cuộc công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu ngành đã diễn ra một cách từ từ, tiệm tiến phải kéo dài hàng trăm năm.

Trang 11

Nh vậy, sự chuyển dịch cơ cấu ngành của mô hình công nghiệp hoá kiểu

cổ điển diễn ra nh một “quá trình lịch sử tự nhiên”, để lại một “chuẩn mực”cho những nớc đi sau trong sự nghiệp công nghiệp hoá Ngày nay, những điềukiện ràng buộc quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã cónhững thay đổi căn bản nên không nhất thiết phải lặp lại mô hình cổ điển.Song, tuyệt nhiên không phải vì vậy mà có thể tiến hành những bớc đi tuỳ tiệntrong việc chuyển dịch cơ cấu Sự thay đổi của các điều kiện vừa tạo ra nhữngcơ hội đi nhanh hơn, lại vừa gây ra những thách thức to lớn hơn Tuy nhiên,chúng không làm thay đổi mục tiêu căn bản của công nghiệp hoá và chuyểndịch cơ cấu Nó chỉ có nghĩa rằng dựa trên hình mẫu “chuẩn mực” cổ điển,

điều kiện mới làm nảy sinh những yếu tố thay thế, cho phép rút ngắn đáng kểquá trình công nghiệp hoá đã phải kéo dài hàng trăm năm

b Mô hình công nghiệp hoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.

Mô hình chuyển dịch cơ cấu ngành kiểu kế hoạch hoá tập trung đợc khởi

đầu ở Liên Xô và sau đó hàng loạt nớc xã hội chủ nghĩa trong những thập niênsau chiến tranh thế giới thứ II Sự khác biệt lớn nhất giữa mô hình công nghiệphoá XHCN với mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển là thể chế Việc tậptrung mọi nguồn lực kinh tế vào tay Nhà nớc đã tạo điều kiện cho các nớctheo mô hình kế hoạch hoá tập trung tiếp cận vấn đề công nghiệp hoá vàchuyển dịch cơ cấu hoàn toàn khác với mô hình cổ điển Ngoài ra, quá trìnhcông nghiệp hoá theo mô hình kế hoạch hoá tập trung còn diễn ra trong những

điều kiện bên trong và bên ngoài rất khác do với kiểu cổ điển

Quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của môhình kế hoạch hoá tập trung có những biểu hiện đặc trng là:

1/ Tập trung u tiên cao độ cho sự phát triển công nghiệp nặng ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá

2/ Các chỉ tiêu hiện vật đợc xem là cơ sở quan trọng nhất của việc duy trì tính cân đối giữa các ngành của quá trình công nghiệp hoá

3/ Quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đợc đẩy nhanh bằng cách áp dụng nhiều biện pháp phi kinh tế

Từ những điểm trình bày trên, có thể nhận xét rằng, nhìn toàn cục, logiccủa tiếp cận vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình côngnghiệp hoá kế hoạch hoá tập trung là ngợc với mô hình cổ điển Mặc dù ngàynay, những yếu điểm thể chế của mô hình này đã rõ ràng Song, những phântích lý thuyết lẫn thực tế lịch sử đều cho thấy rằng cách tiếp cận vấn đề côngnghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu của mô hình kế hoạch hoá tập trung cũng

có những u điểm nhất định Vấn đề là ở chỗ làm thế nào để kết hợp những u

điểm của mô hình công nghiệp hoá này trong thể chế kinh tế khác

c Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu

Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với t tởng chủ đạo là thaythế những mặt hàng nhập khẩu bằng sản phẩm sản xuất trong nớc đã từng làtrào lu phổ biến ở hầu hết các nớc thế giới thứ ba vào những thập niên sau đạichiến thế giới thứ hai Nguyên nhân chính, trực tiếp thúc đẩy trào lu này làmong muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, thoát khải ách nô lệthực dân Điều đó khiến cho mô hình này có nhiều điểm tơng đồng với môhình công nghiệp hoá kế hoạch hoá tập trung

Trang 12

Lịch sử mấy thập niên qua cho thấy cách tiếp cận vấn đề cơ cấu ngànhcủa mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu không phải bao giờ cũngnhấn mạnh trớc tiên đến công nghiệp nặng ý tởng thay thế mọi sản phẩmnhập khẩu bằng sản xuất trong nớc cuối cùng đa đến chính sách xây dựng nềncông nghiệp hoàn chỉnh và khép kín Cũng chính vì nguyên nhân này màgiống nh trong mô hình kế hoạch hoá tập trung, quá trình công nghiệp hoá vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế sau thời kỳ phát triển ban đầu tơng đối khá đã dầndần vấp phải những giới hạn không vợt qua đợc, thậm chí ngay cả với nhữngnớc dân số đông, diện tích lớn, có lợi thế về quy mô ở đây, ngoài những lý dophổ biến về thiếu hụt nguồn vốn đầu tiên, khả năng kỹ thuật công nghệ vàdung lợng thị trờng, cần lu ý đến các chính sách thực thi nhằm giải quyếtnhững vấn đề này Nó là hệ thống chính sách mà ngày nay, các nhà kinh tếgọi là những chính sách bảo hộ “ đặc trng cho đờng nối công nghiệp hoá hớngnội” với những hiệu năng cụ thể sau:

- Chính sách bảo hộ mậu dịch: Những lý do chủ yếu của việc thi hành chính sách này trớc hết là ở chỗ nó đợc coi là công cụ phát triển, bao gồm bảo vệ thị trờng nội đại cho sản xuất công nghiệp trong nớc, giúp hình thành những ngành công nghiệp non trẻ, tiết kiệm ngoại tệ Liên quan trực tiếp đến chính sách bảo hộ là hàng rào thuế quan cao và chế độ hạn ngạch nhập khẩu.

- Chính sách tỷ giá hối đoái: Để khuyến sản xuất và tiêu dùng hàng hoá nội địa, các chính phủ thờng duy trì tỷ giá hối đoái theo hớng nâng cao giá trị

đồng tiền bản địa nhằm làm yếu khả năng cạnh tranh của hàng ngoại trên thị trờng nội địa Chính sách này thờng đợc lý giải là do chất lợng hàng hoá sản xuất trong nớc thấp nên sức cạnh tranh kém, trong khi cần nâng đỡ để chúng

có thể phát triển đợc Xét trên phơng diện này, chính sách duy trì tỷ giá hối

đoái cao là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách bảo hộ mậu dịch.

Tóm lại, quá trình công nghiệp hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trongmô hình thay thế nhập khẩu tỏ ra có kết quả trong giai đoạn đầu tiên và đợc ápdụng rộng rãi Song, nó đã không chịu đựng nổi thử thách của thời gian Cácchế độ thay thế nhập khẩu đã đa đến một loạt tác động tơng hỗ mà sau mộtquá trình dài làm tăng cờng sự phụ thuộc vào nhập khẩu và trì hoãn nhữngthay đổi về cơ cấu cần thiết cho sự phát triển tự lực cánh sinh Chính vì thế,ngay từ nhiều thập niên về trớc, nó đã bị nghi ngờ Một mô hình công nghiệphoá khác, hớng về xuất khẩu đã thay thế nó

d Mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu.

Với t cách là mô hình công nghiệp hoá mang những đặc điểm khác vớinhững chính sách công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu, chính sách hớng vềxuất khẩu ngày càng đợc biết đến do kết quả tăng trởng kinh tế “ thần kỳ củamột nhóm ít nớc thực hiện chính sách này Trong số này, đặc biệt suất sắc lànhóm Nics Đông á, bao gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông vàSingapore, với những đặc điểm là quy mô nhỏ, thị trờng trong nớc không lớn,nghèo tài nguyên nhng nguồn lao động dồi dào và chất lợng cao Nhiều nhàkinh tế học, khi khảo cứu mô hình này, đã kết luận rằng chính những khókhăn trên đã đẩy các quốc gia này đến chỗ phải lựa chọn con đờng hớng vềxuất khẩu Từ thập niên 1980, mô hình công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu đ-

ợc coi là triển vọng hơn cả và hiện là khuynh hớng phát triển chủ yếu của hầuhết mọi quốc gia đang nỗ lực tìm kiếm các con đờng công nghiệp hoá

Cách tiếp cận cơ cấu kinh tế trong mô hình công nghiệp hoá này có một

số đặc trng là:

- Quá trình công nghiệp hoá đợc bắt đầu từ tập trung khai thác các thếmạnh của nền kinh tế, tạo ra những lĩnh vực phát triển có lợi thế so sánh trêntrờng thế giới Thông thờng, đối với các nớc chận phát triển, những thế mạnh

Trang 13

khả dĩ là nguồn lao động dồi dào giá rẻ, tài nguyên khoáng sản và nông sản.Những nớc chủ yếu dựa vào nguồn lao động nh nhóm Nics Đông á thì hớng

sự phát triển vào những ngành công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động

nh dệt may, chế biến thực phẩm, điện tử dân dụng Trong đó, một số nớc nhMalaysia, Thái Lan lại khởi đầu với những sản phẩm nông nghiệp và khai tháckhoáng sản Khác với chính sách thay thế nhập khẩu hớng quá trình côngnghiệp hoá tới chỗ xây dựng một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh, chính sáchhớng về xuất khẩu đặt trọng tâm phát triển vào những lĩnh vực có lợi thế sosánh trên thị trờng quốc tế và sản xuất những sản phẩm mà thị trờng thế giớicần, tức là hớng tới một cơ cấu không cân đối

- Toàn bộ hệ thống chính sách chủ yếu nhằm khuyến khích xuất khẩu.Tuy các chính sách khuyến khích ở các nớc là khác nhau nhng tất cả đều dựatrên nguyên lý chung là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi hơn nếu bán sảnphẩm của mình ra nớc ngoài Nhìn chung, những biện pháp khuyến khích sảnxuất gồm hai loại cơ bản là:

+ Nhà nớc trực tiếp tác động bằng cách đa ra danh mục các mặt hàng utiên, đợc giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu, hoặc trực tiếp trợ cấp cho các loạihàng hoá phục vụ sản xuất mặt hàng xuất khẩu

+ Nhà nớc gián tiếp can thiệp thông qua các công cụ tài chính, tiền tệ, tạolập môi trờng thuận lợi cho hoạt động sản xuất hớng ra thị trờng thế giới Cácbiện pháp thuộc loại này đợc thực hiện dới nhiều hình thức nh đánh tụt giá

đồng tiền nội địa; cung cấp tín dụng với lãi xuất u đãi cho sản xuất xuất khẩu;cung cấp cơ sở hạ tầng kinh tế và pháp lý; xây dựng các khu chế xuát, khuyếnkhích đầu t nớc ngoài; trợ giúp đào tạo nhân lực; tổ chức các cơ sở nghiên cứukhoa học kỹ thuật và khuyến khích áp dụng kỹ thuật công nghệ; cung cấp cácthông tin cần thiết về thị trờng v.v

Với những chính sách nêu trên, thực tiễn mấy chục năm gần đây cho thấyrằng những quốc gia đi theo mô hình hớng về xuất khẩu đã đạt đợc tốc độ tăngtrởng kinh tế và thay đổi cơ cấu hết sức nhanh chóng

2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá ở một số n ớc

a Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc

Năm 1949, nhà nớc mới thành lập, nền kinh tế bị ảnh hởng nghiêm trọng

do hậu quả của chiến tranh kéo dài và lạm phát cao Chính phủ đã định ranhững chính sách nhằm củng cố quyền lực, khôi phục trật tự xã hội và khắcphục tình trạng thất nghiệp và nạn đói Đến năm 1952, hầu hết những vấn đềtrên đã đợc giải quyết Sau đó chính phủ quyết định sửa đổi cơ cấu nền kinh

tế, áp dụng mô hình kế hoạch hoá tập trung của Liên Xô Giảm mức đầu t nớcngoài vào nông nghiệp, kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tập trung vào xây dựngcông nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, phần lớn các trangthiết bị đợc nhập từ Liên Xô Từ năm 1957, Trung Quốc đạt mức tăng trởng

đáng kể (5,7% hàng năm) Nhiều chơng trình thử nghiệm của cuộc “ đại nhẩyvọt” (1958 – 1960) nh tập thể hoá nông thôn, loại bỏ các hình thức khuyếnkhích về tiền lơng, v.v đã đem lại hậu quả là cuộc xuy thoái đầu những năm

60 Thời kỳ này cũng là thời kỳ Liên Xô cắt viện trợ và rút chuyên gia về nớc

do xảy ra mối bất hoà giữa hai nớc Xô - Trung Trung Quốc đã nhấn mạnhchính sách tự lực tự cờng và giành đầu t lớn cho nông nghiệp Tiếp ngay sau

đó là cuộc cách mạng văn hoá ( 1966- 1976) và hậu quả của nó đã làm hại nềnkinh tế, phá hoại nền ngoại thơng và gần nh đóng cửa các cơ sở giáo dục đàotạo

Trang 14

Năm 1975, chính phủ Trung Quốc đã vạch ra một loạt các mục tiêu kinh

tế mới nhằm đa Trung Quốc lên vị trí hàng đầu về kinh tế năm 2000 Chơngtrình “Bốn hiện đại hoá” với mục tiêu tăng nhanh sản lợng trong nông nghiệp,công nghiệp, khoa học kỹ thuật và quốc phòng Năm 1978, dới chính quyềncủa Đặng tiểu Bình, chơng trình này lại đợc khẳng định lại với kế hoạch 10năm Một loạt các nhà máy hoàn chỉnh đợc nhập từ phơng Tây, với tiền đề cơbản của chính sách kinh tế là lợi ích của ngời tiêu dùng, năng suất kinh tế và

sự ổn định về chính trị là không thể tách rời đợc

Những cuộc cải cách đã đem lại nhiều thành tựu to lớn, thu nhập quốcdân, sản lợng nông nghiệp, công nghiệp tăng lên 10% trong những năm 80.Thu nhập thực tế đầu ngời của nông dân tăng gấp đôi, của ngời dân thành thịtăng 43% Trung Quốc đã tự túc sản xuất đợc ngũ cốc, các ngành sản xuấtnông thôn nở rộ và tăng 23% sản lợng nông nghiệp, thu hút lao động d thừa ởnông thôn Những cuộc cải cách ở công nghiệp đã làm đa rạng hoá các mặthàng công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng sẵn có

b Chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế ở Hàn Quốc

Do sự chia cắt năm 1945, Hàn Quốc chỉ là một cùng đất với nguồn lựcnông nghiệp hạn chế và một lực lợng lao động dồi dào nhng không có kỹnăng Hàn Quốc bắt đầu thời kỳ hậu chiến ( sau năm 1950) với mức tổng sảnphẩm quốc dân theo đầu ngời rất thấp Với những chính sách thiết thực từnhững năm 1960 và 1970, cộng thêm với một lực lợng lớn viện trợ của Mỹliên tiếp đến năm 1980, kinh tế Hàn Quốc đã thay đổi đáng kể

Bắt đầu từ những năm 1960, chơng trình tăng trởng công nghiệp đã thànhcông khi chính phủ thực hiện các chính sách cải cách mạnh mẽ, chú trọng vàocác ngành công nghiệp nhẹ cần nhiều lao động và tăng hàng xuất khẩu Chínhphủ đã thực hiện cải cách tiền tệ, tăng cờng các thể chế tài chính và áp dụng

kế hoạch hoá kinh tế linh hoạt Có sự kết hợp đặc biệt giữa các nhân tố kinh tế

và xã hội; thực hiện cải cách kinh tế vào đầu năm 1960 nhằm phát triển cácngành công nghiệp cần nhiều lao động và theo hớng xuất khẩu, xoá bỏ dầncác hạn chế đối với nhập khẩu, trong quản lý kinh tế có tính linh hoạt cao, kếthợp chặt chẽ giữa các khu vực nhà nớc với các khu vực t nhân

Từ năm 1963 đến năm 1978, GNP thực tế của Hàn Quốc tăng với tốc độhàng năm gần 10%, trong khi đó tốc độ gia tăng dân số giảm xuống còn 1,5%,tạo ra mức tăng gấp 35 lần về GNP theo đầu ngời ( từ 100 USD năm 1963 đến

3500 USD trong những năm gần đây) Sau những biến động về chính trị trongnớc và giá cả thế giới, các nhà hoạch định kinh tế Hàn Quốc đã chuyển chiếnlợc trọng tâm từ tăng trởng cao sang tăng trởng vững chắc Những năm 1986-

1988 đợc xem là những năm thành công nhất của Hàn Quốc, do xuất khẩubùng nổ nên tăng trởng hàng năm lên tới 15% Hàn Quốc trở thành một lực l-ợng quan trọng trong nền kinh tế thế giới và là một trong những nớc côngnghiệp hoá mơí hùng mạnh trong thế giới thứ ba Tuy nhiên, cũng có một sốchính sách về tài chính cha đợc đảm bảo, Hàn Quốc phải trả một giá đắt trongkhủng hoảng tài chính vừa qua, và thiệt hại không phải là nhỏ Để giải quyết

có hiệu quả những mâu thuẫn chính trị đang nổi nên trong nớc và đòi dân chủngày càng cao của dân chúng, chính phủ Hàn Quốc phải có các chính sách vàbiện pháp thiết thực nhằm ổn định nền kinh tế vốn xa nay vẫn đợc coi là mạnh

có hạng ở khu vực

c Chuyển dịch cơ cấu và phát triển kinh tế ở Đài Loan

Đài Loan là một hòn đảo ở Tây Thái Bình Dơng, có diện tích gần 36 ngànKm2 với dân số khoảng 20 triệu ngời Đài Loan đợc coi là hình mẫu cho cácquốc gia và lãnh thổ đang phát triển bởi sự thành công to lớn trong việc tạo ra

Trang 15

sự tăng trởng kinh tế nhanh và khoảng cách trong thu nhập tơng đối thấp và

đ-ợc coi là một nớc NICs

Từ một nền kinh tế cực nghèo khó trong những năm 1940, trải qua bathập kỷ, Đài Loan trở thành một lãnh thổ công nghiệp hoá Trọng tâm sảnxuất đã thay đổi từ mặt hàng công nghiệp nhẹ cho xuất khẩu sang hàng côngnghiệp nặng tinh vi và hàng công nghiệp công nghệ tiên tiến, trong thập kỷ1973- 1982, tổng GDP thực tế tăng trung bình hàng năm 9,5% Sau cấm vậndầu lửa năm 1973, Đài Loan đã tìm cách vợt qua tình trạng xuất khẩu côngnghiệp trì trệ bằng cách thực hiện chơng trình ổn định kinh tế thành công Mời

dự án cơ sở hạ tầng đa ra để khuyến khích hoạt động kinh tế Những nhàhoạch định chính sách Đài Loan hy vọng rằng, việc tăng trởng mạnh đầu t chonhững dự án lớn này đi đôi với việc phát triển xuất khẩu của hòn đảo sẽ tạo ra

sự thịnh vợng không ngừng Chính quyền các cấp cũng khuyến khích đầu t

n-ớc ngoài để giúp tài trợ cho những cố gắng của hòn đảo, chuyển từ nền côngnghiệp có xu hớng cuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ cần nhiều sức lao độngsang nền sản xuất cần nhiều vốn hơn phục vụ xuất khẩu và thay thế hàng nhậpkhẩu Sự thành công liên tục của Đài Loan trong những năm 1980 dựa vào sựchuyển biến cơ cấu công nghiệp thành một nền công nghiệp cần nhiều vốnhơn và tiết kiệm năng lợng hơn Các nhà hoạch định chính sách kinh tế ĐàiLoan đã xác định tập trung vào những ngành chủ chốt nh điện tử và sử lýthông tin; máy móc và dụng cụ chính xác; khoa học vật liệu công nghệ cao;khoa học năng lợng ; kỹ thuật hàng không và kỹ thuật gen Chính nhờ có sựchuyển hớng đúng đắn trong hoạch định chính sách kinh tế mà Đài Loan pháttriển nhanh chóng trong hơn 30 năm qua Giá trị ngành thơng mại tăng rõ rệt,chuyển từ hàng nông nghiệp sang hàng công nghiệp chiếm u thế trong xuấtkhẩu và nhập khẩu chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu năng lợng

d Chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội ở Malaysia

Là một nớc dành độc lập từ năm 1957, Malaysia bát đầu bằng một nềnkinh tế (từ chỗ phụ thuộc Anh quốc) trong đó có hai mặt hàng chiếm u thế làthiếc và cao su Liên tiếp từ đó, nền kinh tế Malaysia liên tục thực hiện chínhsách đa rạng hoá rộng rãi các mặt hàng sản xuất và đã đạt tốc độ tăng trởngnhanh, trung bình từ 7% đến 8% hàng năm Sản lợng GNP bình quân theo đầungời là 2000 USD năm 1984 Danh mục các mặt hàng xuất khẩu có thêm dầu

cọ, gỗ, ca cao và hạt tiêu Không những thế Malaysia còn là nớc đứng đầu thếgiới về cao su, thiếc, dầu cọ và gỗ nhiệt đới và là nớc có khối lợng xuất khẩulớn nhất về dầu mỏ và khí tự nhiên hoá lỏng

Bằng những chính sách thiết thực nhằm thu hút vốn đầu t nớc ngoài vàngành công nghiệp, số lợng hàng xuất khẩu tăng nhanh, nhất là về các linhkiện điện tử, hàng tiêu dùng đồ điện, sản phẩm dệt may và các mặt hàng côngnghiệp khác, góp phần đáng kể tăng trởng kinh tế

Sau những năm 1981- 1982, các mặt hàng xuất khẩu truyền thống củaMalaysia giảm giá, làm giảm thu nhập và đầu t Nhà nớc Malaysia đã tìm cáchkích thích nền kinh tế và đẩy nhanh tăng trởng công nghiệp bằng việc tăng

đầu t vào một số dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng Chi tiêu chính phủtăng bằng cách đi vay nợ nớc ngoài để mau các cổ phần của các công ty nớcngoài với mục đích có điều kiện kiểm soát các công ty lớn của nớc ngoài Dovậy nợ nớc ngoài của Malaysia tính đến năm 1984 đã tăng tới 15 tỷ đô la.Năm 1985- 1986, do ảnh hởng của giá dầu mỏ và dầu cọ trên thế giới giảmnhanh, sản lợng GNP theo đầu ngời giảm xuống còn 1600 USD bình quân đầungời, thâm hụt lớn trong ngân sách nhà nớc Chính phủ đã phải thay đổi một

số chính sách nh bãi bỏ một vài mục tiêu và chỉ tiêu tăng trởng trong kế hoạchlần thứ 5 (1986- 1990), chú trọng hơn về khu vực t nhân, t nhân hoá một số

Trang 16

công ty quốc doanh và chính phủ; công ty vận tải quốc gia và hàng khôngquốc gia đợc bán một phần thông qua các nhà đầu t thông qua thị trờng chứngkhoán.

Nền kinh tế Malaysia bắt đầu đợc phục hồi từ năm 1987 liên tục đến năm

1989 nhờ sự cải thiện về giá cả hàng hoá và tăng trởng trong sản xuất côngnghiệp GDP thực tế tăng 4,7% năm 1987, 9,5% năm 1988 và 7,7% năm

1989 Hàng xuất khẩu chiến hơn 3/4 tăng trởng, dẫn tới cán cân thanh toán dthừa, đầu t nớc ngoài tăng lên, nợ nớc ngoài giảm

Trang 17

Chơng II thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

Theo hớng này, tốc độ tăng trởng GDP của công nghiệp và dịch vụ đãnhanh hơn tốc độ tăng trởng của nông nghiệp, tốc độ tăng trởng của ngànhcông nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nhanh hơn tốc độ tăng trởng của ngànhcông nghiệp nặng Xu hớng này phù hợp với quy luật phát triển kinh tế củacác nớc trên thế giới khi bớc vào thời kỳ công nghiệp hoá, theo đó cùng vớithu nhập tính theo đầu ngời tăng lên thì phần chi cho lơng thực- thực phẩm sẽgiảm đi Điều đó cũng có nghĩa là dù ở điểm xuất phát thấp nhng cơ cấungành kinh tế của nớc ta đã và đang đợc chuyển dịch đúng hớng Chuyển dịchcơ cấu kinh tế theo hớng này vừa là kết quả tất yếu của sự tăng trởng kinh tế,nhng đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các bớc phát triển tiếp theo.Bảng 1: Cơ cấu kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nguồn : Niên giám thống kê 1996-1997

Trong những năm đổi mới, các ngành kinh tế quốc dân đã có sự chuyển

dịch theo hớng: nâng cao tỷ trọng và tốc độ phát triển của công nghiệp vàdịch vụ , giảm tỷ trọng nông nghiệp Nhng giá trị sản phẩm nông nghiệp vẫntăng lên

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đợc thực hiện trên cơ sở có sự tăng trởngkhá và đều của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và của cả ba khu vực Tính chung

5 năm 1991- 1995, tổng sản phẩm trong nớc (GDP), tăng 48,3%, bình quânmỗi năm tăng 8,2% Trong 5 năm 1991- 1995 công nghiệp tăng bình quânhàng năm 13,7% Cùng trong thời kỳ này, tốc độ tăng GDP của nông nghiệpbình quân là 3,4%; dịch vụ 9,3%

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đợc thực hiện gắn liền với sự pháttriển các ngành theo hớng đa rạng hoá, dần dần hình thành ngành trọng điểm

và mũi nhọn Nhng nhìn lên bảng ta thấy chuyển dịch cơ cấu ngành còn diễn

ra chậm chạp, cha hình thành rõ các ngành trọng điểm, mũi nhọn

2 Nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế thời kỳ 1996- 2000.

Tập trung sức cho mục tiêu phát triển , đạt tốc độ tăng trởng kinh tế bìnhquân hàng năm 9- 10%; đến năm 2000, GDP bình quân đầu ngời gấp đôi năm1990

Phát triển toàn diện nông, lâm, ng nghiệp, gắn với công nghiệp chế biếnnông,lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng công

Trang 18

nghiệp hoá, hiện đại hoá Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệpbình quân hàng năm 4,5- 5%.

Phát triển ngành công nghiệp , chú trọng trớc hết công nghiệp chế biến,công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng có chọn lọc một sốcơ sở công nghiệp nặng về dầu khí, than, xi măng, cơ khí, điện tử, phân bón,thép, hoá chất, một số cơ sở công nghiệp quốc phòng Tốc độ tăng giá trị sảnxuất công nghiệp bình quân hàng năm 14- 15%

Cải tạo nâng cấp và xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng, trớc hết

ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển

Phát triển các ngành dịch vụ, tập trung vào các lĩnh vực vận tải, thông tinliên lạc, thơng mại du lịch các dịch vụ tài chính, ngân hàng, công nghệ, pháplý Tốc độ giá trị dịch vụ bình quân hàng năm 12- 13%

Khai thác thế mạnh của cả nớc, của mỗi vùng, mỗi ngành tạo ra sự pháttriển hài hoà giữa các vùng lãnh thổ Tập trung thích đáng nguồn lực cho cáclĩnh vực, các địa bàn trọng điểm có điều kiện sớm đa lại hiệu quả cao Đồngthời dành nguồn vốn để giải quyết những nhu cầu bức xúc của các vùng khác,nhất là phát triển kết cấu hạ tầng và hỗ trợ tín dụng, tạo điều kiện để các vùngcòn kém phát triển , các vùng nông thôn, miền núi có thể phát triển nhanhhơn, khắc phục tình trạng chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế xãhội giữa các vùng

Đến năm 2000 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 34- 35%trong GDP; nông, lâm, ng nghiệp chiếm khoảng 19- 20%; dịch vụ chiếmkhoảng 45- 46% Để đạt đợc cơ cấu đó mỗi ngành phải duy trì đợc tốc độ tăngtrởng bình quân hàng năm nh sau: Nông nghiệp ( bao gồm cả lâm nghiệp vàthuỷ sản) 4,5- 5%, công nghiệp và xây dựng 14- 15% và dịch vụ 12-13% Đó

là những tốc độ cao đòi hỏi phải có sự cố gắng vợt bậc trong quá trình thựchiện

Phát triển nông nghiệp toàn diện hớng vào bảo đảm an toàn lơng thựcquốc gia trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và rau quả, cảithiện chất lợng bữa ăn, giảm xuy dinh dỡng

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn dó hiệu quả Trêncơ sở đảm bảo vững chắc nhu cầu lơng thực, chủ yếu là lúa, mở rộng diện tíchtrồng cây công nghiệp, cây ăn quả, tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, phát triểnkinh tế biển, đảo, kinh tế rừng, khai thác có hiệu quả tiềm năng của nền nôngnghiệp sinh thái, tăng nhanh sản lợng hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến

và xuất khẩu, mở rộng thị trờng nông thôn; tăng thu nhập của nông dân Đẩymạnh việc xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội

Đối với công nghiệp, cần đổi mới công nghệ của phần lớn các doanhnghiệp Phát triển nhanh một số ngành có lợi thế, hình thành một số ngànhmũi nhọn trong các lĩnh vực chế biến lơng thực thực phẩm, khai thác và chếbiến dầu khí, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo, sảnxuất vật liệu

Hình thành các khu công nghiệp tập trung ( bao gồm cả khu chế suất vàkhu công nghệ cao), cải tạo địa bàn thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sởcông nghiệp mới Phát triển mạnh công nghiệp nông thôn và ven đô thị ở cácthành phố thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ sở công nghiệp hiện có, đa các cơ sởkhông có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoài thành phố, hạn chế việc xây dựngcơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dân c

Đối với ngành dịch vụ, phát triển mạnh các loại dịch vụ, mở thêm cácloại hình mới đáp ứng đa rạng của sản xuất kinh doanh và đời sống

Tạo môi trờng cạnh tranh lành mạnh trong dịch vụ Giữ giá ổn định, nhất

là với các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu

Trang 19

3 Xu hớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nớc ta thời kỳ 2000.

1996-Phát triển toàn diện nông, lâm, ng nghiệp, gắn với công nghiệp chế biếnnông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàngxuất khẩu Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới có trọng diểm kết cấuhạ tầng kinh tế, trớc hết ở những khâu ách tắc và yếu kém nhất đang cản trở sựphát triển Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng trọng yếu vàhết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn công nghệ, thị trờng, phát huy nhanh và

có hiệu quả cao Mở rộng thơng nghiệp, du lịch, dịch vụ Đẩy mạnh các hoạt

động kinh tế đối ngoại Hình thành dần một số ngành mũi nhọn nh chế biếnnông,lâm, thuỷ sản, khai thác và chế biến dầu khí, một số ngành cơ khí chếtạo, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, du lịch Phát triển mạnh giáodục đào tạo, khoa học và công nghệ

- Phát triển toàn diện nông, lâm, ng nghiệp, hình thành các vùng tập trungchuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoánhiều về số lợng, tốt về chất lợng, bảo đảm an toàn về lơng thực trong xã hội,

đáp ứng đợc yêu cầu của công nghiệp chế biến và của thị trờng trong và ngoàinớc

-Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá

- Phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghềmới bao gồm, tiểu, thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng,hàng xuất khẩu, công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn nguyên liệu phinông nghiệp, các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.Phát triển công nghiệp , u tiên các ngành chế biến lơng thực – thựcphẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và côngnghệ thông tin Phát triển có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng ( năng l-ợng- nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa tàu thuỷ, luyệnkim, hoá chất), tăng thêm năng lực sản xuất tơng ứng với yêu cầu tăng trởngkinh tế, nâng cao khả năng độc lập tự chủ về kinh tế và quốc phòng

Kết hợp kinh tế với quốc phòng, xây dựng và phát triển công nghiệp quốcphòng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu cần thiết trong từng thời kỳ Cải tạo các khu công nghiệp hiện có về kết cấu hạ tầng và công nghệ sảnxuất Xây dựng mới một số khu công nghiệp, phân bố rộng trên các vùng.Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bu chính viễnthông, thơng mại, vận tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bảo hiểm, côngnghệ pháp lý, thông tin và các dịch vụ phục vụ đời sống nhân dân

4 Một số giải pháp để đạt tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nh nghị quyết Đại hội Đảng VIII đã đề ra.

Một là : Khẩn trơng quy hoạch kinh tế vùng và ngành mũi nhọn trong thời

kỳ 1996- 2000 làm cơ sở cho công tác kế hoạch, đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng,mua sắm máy móc, thiết bị và đào tạo cán bộ, công nhân lành nghề Công tácquy hoạch phải gắn với yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo vùng và theongành, theo hớng công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế, gắn sản xuấtvới chế biến và tiêu thụ sản phẩm ổn định lâu dài

Hai là: Phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà

n-ớc trn-ớc hết là chính sách đầu t, tín dụng, tài chính, thị trờng khoa học và côngnghệ

Về chính sách đầu t, cần chuyển hớng mạnh mẽ sang đầu t theo chiều sâu

để đổi mới nhanh chóng máy móc, thiết bị và công nghệ ở tất cả các ngànhkinh tế, u tiên cho các ngành công nghiệp mũi nhọn ( nh dầu khí, điện và điện

tử, chế biến nông lâm thuỷ sản xuất khẩu, lắp ráp ô tô xe máy vv ), vùng sản

Ngày đăng: 21/12/2012, 16:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 2001 – 200
Bảng 1 Cơ cấu kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Trang 19)
Bảng cơ cấu GDP theo ngành kinh tế - Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta thời kỳ 2001 – 200
Bảng c ơ cấu GDP theo ngành kinh tế (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w