Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, thực trạng và giải pháp thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu
1 Tổng quan về FDI
1.1 FDI là gì?
1.2 Lợi ích thu hút FDI
1.2.1 Đối với chủ đầu tư
1.2.2 Đối với nước nhận đầu tư
1.3 Các hình thức FDI
2 Dòng vốn FDI trên thế giới
2.1 Tổng quan về dòng vốn FDI trong những năm gần đây
2.2 Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong thời gian tới
3 Thực trạng dòng vốn FDI của Việt Nam
3.1 Tổng quan về dòng vốn FDI trong những năm gần đây
3.2 Những tồn tại và hạn chế của việc thu hút FDI
3.2.1 Những thách thức còn tồn tại
3.2.2 Hạn chế của việc thu hút FDI
4 Định hướng thu hút FDI của Việt Nam sau khủng hoảng
4.1 Mục tiêu thu hút FDI sau khủng hoảng
4.2 Những định hướng và chính sách thu hút FDI sau khủng
hoảng4.2.1 Định hướng ngành
2223101111151919363648
49
49
5151535459
63
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 2FDI , một dòng vốn trên thế giới khá hấp dẫn không những đối với các nước phát triển, dáng phát triển mà ngay cả những nước còn kém phát triển cũng mong muốn thu hút dòng vốn này về cho quốc gia của mình.
Tuy nhiên, đằng sau đó là những vấn đề mà các quốc gia phải vấp phải để cóthể đáp ứng được yêu cầu của “đại gia” FDI
Càng khắc khe hơn khi cuộc khủng hoảng suy thoái toàn cầu diễn ra, chính cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng đấn tất cả các quốc gia trên thế giới, trên mọi phương diện FDI, cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này Vậy vấn đề đặt ra, các quốc gia phải làm gì để có thể tiếp tục thu hút được nguồn vốn này sau cuộc khủng hoảng
Tiếp cận với FDI, chúng tôi xin được trình bày những gì tổng quan nhất về
nó Dòng vốn FDI chảy đi đâu trên toàn bộ thế giới
Việt Nam chúng ta, một quốc gia mới phát triển, đang hội nhập với kinh tế thế giới sẽ phải làm gì để có thể tiếp tục thu hút được dòng vốn FDI trong thời giantới, đặc biệt đó là sự kết thúc của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới với những hậu quả của nó để lại Cần có những định hướng, chính sách thật rõ ràng có thể thu hút
và tiếp tục giữ chân “đại gia” FDI
Bài tiểu luận này xin được đề cập đến vấn đề này!
****************
1. TỔNG QUAN VỀ FDI:
1.1. FDI là gì?
Trang 3Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đóngười chủ sở hửu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động
sử dụng vốn Sự ra đời và phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tấtyếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế
Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùngvới quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt fdi với cáccông cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản màngười đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp
đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Trên thực tế có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về đầu tư nước ngoài Theohiệp hội luật quốc tế (1966) “ đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước củangười đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinhdoanh hoặc dịch vụ” Cũng có quan điểm cho rằng “đầu tư nước ngoài là sự dichuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhưng khôngphải để mua hàng hóa tiêu dùng của nước này mà dùng để chi phí cho các hoạtđộng có tính chất kinh tế xã hội” Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam banhành năm 1987 và được bổ sung hoàn thiện sau 4 lần sửa đổi (1989, 1992, 1996,2000) “ đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các tổ chức và cá nhân nước ngoài đưavào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủViệt Nam chấp nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lậpdoanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài”
1.2. Lợi ích thu hút FDI:
1.2.1 Đối với nước chủ đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đã mang dến cho họ những lợi ích:
Bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trêntrường quốc tế
Trang 4 Sử dụng lợi thế của nơi tiếp nhận vốn giảm chi phí, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn và tỷ suất lợi nhuận, khắc phục được tình trạng thừa vốn tương đối
Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, khắc phục tình trạng lão hoásản phẩm
Tìm kiếm các nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu ổn định
Đổi mới cơ cấu sản phẩm, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lựccạnh tranh
1.2.2 Đối với nước nhận đầu tư.
Bổ sung vốn
Trong thời kỳ đầu mới phát triển, trình độ kinh tế của các nước đangphát triển thấp, GDP và GDP tính theo đầu người thấp vì vậy khả năng tích lũy vốntrong nội bộ nền kinh tế rất hạn chế Bên cạnh đó, ở nhiều nước tâm lý chung củadân chúng là chưa yên tâm bỏ vốn đầu tư tiến hành sản xuất, kinh doanh do cơ chếhuy động vốn chưa rõ ràng, chưa phù hợp Trong khi đó nhu cầu vốn đầu tư đểphát triển nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước công nghiệp phát triển lại rấtlớn ĐTNN, với vai trò là một nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, giúp các nước kểtrên giải được bài toán thiếu vốn đầu tư và dần thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn
FDI giữ vai trò quan trọng trong số các nguồn vốn ĐTNN vào các nướcđang phát triển vì nó có nhiều ưu điểm nổi trội hơn các nguồn vốn ĐTNN khác Cụthể là:
- FDI là nguồn vốn đầu tư dài hạn, tồn tại chủ yếu dưới hình thức côngnghệ, đất đai, nhà xưởng, nên có độ ổn định cao hơn rất nhiều so với đầu tưchứng khoán nước ngoài, vì vậy FDI ít khả năng gây sốc cho nền kinh tế lịch sửcác cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, tiền tệ trên thế giới cho thấy nguyên nhâncủa khủng hoảng thường là do nợ nước ngoài quá nhiều, hoặc huy động vốn nướcngoài qua thị trường chứng khoán nhiều mà không có cơ chế đảm bảo an toàn,
- FDI chủ yếu là vốn đầu tư tư nhân, các chủ đầu tư tự tiến hành hoạtđộng đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động vì vậy hiệu quả sử dụngnguồn vốn này thường cao hơn các nguồn vốn khác, đồng thời FDI không để lại
Trang 5gánh nặng nợ nần cho ngân sách nước nhận đầu tư như vay thương mại, cũngkhông gây ra các sức ép về kinh tế, chính trị, xã hội.
- Đi kèm với nguồn vốn này thường có công nghệ chảy vào các nướcnhận đầu tư, đây cũng là một yếu tố mà các nước đang và kém phát triển đangthiếu và rất cần cho quá trình phát triển của mình
Ngoài ý nghĩa bổ sung một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển kinh tế,cần nói đến chất lượng của vốn FDI sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạođiều kiện cho nguồn vốn nhà nước tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ưu tiên.Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trongnước Vốn trong dân được kích thích đưa vào sản xuất, kinh doanh Các doanhnghiệp nhà nước phải tăng cường đầu tư và chú ý đến hiệu quả đầu tư trong điềukiện phải cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn FDI Các doanh nghiệp có vốnFDI tạo ra các liên kết với các công ty trong nước nhận đầu tư thông qua các mốiquan hệ cung cấp dịch vụ, nguyên vật liệu, gia công qua đó fdi thúc đẩy đầu tưtrong nước phát triển, gắn kết các công ty trong nước với thị trường thế giới nhờvậy, các tiềm năng trong nước được khai thác với hiệu quả cao
Chuyển giao công nghệ
Các nước đang phát triển rất cần vốn cũng như công nghệ để phát triển kinh
tế Họ có thể có được công nghệ tiên tiến hiện đại thông qua hoạt động ngoạithương, cấp giấy phép sử dụng công nghệ hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong
đó công nghệ có được thông qua FDI có thể nói là có nhiều ưu điểm hơn cả thứnhất, doanh nghiệp có thể có được “công nghệ trọn gói”, thứ hai, nó giúp phá vỡ sựcân bằng hiện thời của thị trường và buộc các hãng nội địa đổi mới, thứ ba, côngnghệ mới và hiện đại thường chỉ có được thông qua quan hệ nội bộ công ty, thứ tư,lợi thế của một công ty đa quốc gia giúp cho khai thác tiềm lực công nghệ hiệuquả
Tác động tràn liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ thông quaFDI thường được coi là một mục tiêu quan trọng của các nước nghèo Thông quaFDI, các công ty nước ngoài sẽ đem công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản
Trang 6xuất ở nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh Sự xuất hiệncủa các công ty nước ngoài tuy nhiên xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tậndụng những lợi thế có được từ công ty mẹ để sẵn sàng cạnh tranh đối với cácdoanh nghiệp trong nước Vì vậy, hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyếnkhích nhưng cũng gây áp lực về đổi mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranhđối với các doanh nghiệp trong nước
Các công nghệ mà các chủ đầu tư nước ngoài chuyển giao cho các nướcđang phát triển thường dưới dạng những tiến bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ,công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý,công nghệ marketing chi phí chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triểnqua FDI Số lượng các hợp đồng công nghệ giữa các công ty mẹ với các chi nhánh,công ty con ở các nước đang phát triển đã tăng lên nhanh chóng
Về phía các doanh nghiệp trong nước, một mặt do năng lực yếu kém về đổimới công nghệ, mặt khác công nghệ tiên tiến đều do các công ty quy mô lớn cótiềm năng công nghệ trên thế giới nắm giữ Để vượt qua các yếu điểm này, cácdoanh nghiệp trong nước có xu hướng muốn được áp dụng ngay công nghệ tiêntiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài hoặcgián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI.các doanh nghiệp FDI mặc dù không muốn tiết lộ bí quyết công nghệ cho đối thủtrong nước nhưng cũng sẵn sàng bắt tay với đối tác trong nước để thành lập liêndoanh, qua đó diễn ra quá trình rò rỉ công nghệ Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối vớicác nước nghèo là liệu các điều kiện trong nước có đủ để đón nhận phổ biến vàchuyển giao công nghệ hay không Kết quả từ nhiều mô hình lí thuyết cũng rút ra
là mức độ phổ biến và chuyển giao công nghệ còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụcủa doanh nghiệp trong nước, tức là năng lực của doanh nghiệp trong sử dụng mộtcách hiệu quả tri thức bên ngoài từ các nghiên cứu cơ bản, ứng dụng kỹ thuật tớitriển khai dây chuyền sản xuất mới
FDI không chỉ mang lại công nghệ cho các nước thông qua con đườngchuyển giao từ nước ngoài vào mà còn bằng cách xây dựng các cơ sở nghiên cứu
và phát triển, đào tạo cho đội ngũ lao động ở nước chủ nhà để phục vụ cho các dự
Trang 7án đầu tư Chi phí cho nghiên cứu và phát triển của các chi nhánh nước ngoàichiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển ở nhiều nướcđang phát triển.Như vậy fdi giúp các nước đang phát triển học hỏi, từ đó phát triểnđược khả năng công nghệ của chính mình.
Ngoài ra, chuyển giao công nghệ cũng có thế có được thông qua việc dichuyển lao động thông qua FDI, kiến thức, kĩ năng quản lí, kĩ năng tay nghề laođộng được truyền bá vào nước nhận FDI Tác động tràn này xuất hiện khi cácdoanh nghiệp FDI tuyển dụng lao động nước sở tại đảm nhận các vị trí quản lý, cáccông việc chuyên môn hoặc tham gia nghiên cứu và triển khai Tuy nhiên tác độngnày chỉ phát huy tác dụng khi đội ngũ lao động có trình độ này ra khỏi doanhnghiệp FDI và chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp trong nước hoặc tựthành lập doanh nghiệp và sử dụng những kiến thức tích lũy được vào công việckinh doanh tiếp đó
Tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực
FDI giúp các nước đang triển tận dụng được lợi thế về nguồn lao động dồidào ở nhiều nước, khu vực có vốn FDI tạo ra số lượng lớn việc làm cho người laođộng đặc biệt là trong lĩnh vực chế tạo Nhìn chung, số lượng việc làm trong khuvực có vốn FDI và tỷ trọng trong tổng lao động ở các nước đang phát triển có xuhướng tăng lên
Bên cạnh đó, FDI còn góp phần vào việc đào tạo, nâng cao trình độ chongười lao động năng suất lao động trong các doanh nghiệp có vốn FDI thường caohơn trong các doanh nghiệp trong nước Với tiêu chí coi hiệu quả làm việc là ưutiên hàng đầu trong tuyển dụng và sử dụng lao động, các doanh nghiệp có vốn FDIthường xây dựng được một đội ngũ công nhân, nhân viên lành nghề, có tác phongcông nghiệp, có kỷ luật cao Đội ngũ cán bộ của nước nhận đầu tư tham gia quản
lý hoặc phụ trách kỹ thuật trong các dự án fdi trưởng thành nhiều mặt Phần lớn sốlao động cấp cao này được tham gia đào tạo, huấn luyện ở trong và ngoài nước,được tiếp thu những kinh nghiệm quản lý điều hành của các nhà kinh doanh nướcngoài Đặc biệt với hình thức doanh nghiệp liên doanh, chủ đầu tư của nước chủnhà tham gia quản lý cùng các nhà đầu tư nước ngoài nên có điều kiện tiếp cận và
Trang 8học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh,nâng dần kiến thức kinh doanh hiện đại của mình lên, ví dụ như: kinh nghiệm xâydựng và đánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp, quản lýtài chính, kế toán, quản lý công nghệ, nghiên cứu thị trường, nghệ thuật tiếp thị,thông tin quảng cáo, tổ chức mạng lưới dịch vụ,
Nhiều nghiên cứu cho thấy tiền lương trả cho lao động trong các doanhnghiệp có vốn fdi lớn hơn trong các doanh nghiệp trong nước Điều này không chỉđúng ở các nước đang phát triển mà còn đúng cả ở các nước công nghiệp pháttriển Lý do chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn FDI thường có xu hướng đầu tưvào các ngành hoặc các địa bàn có mức lương tương đối cao ở nước nhận đầu tư,hoặc thường thuê lao động có tay nghề cao, hoặc nhờ công nghệ chủ đầu tư đemvào hiện đại hơn nên có thể đem lại năng suất cao hơn, do đó tiền lương trả cho laođộng cao hơn
Tác động lan truyền của bộ phận lao động trong khu vực FDI rất có ý nghĩa.Các cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật trong nước được kích thích nâng cao trình
độ khi giao dịch với các đối tác nước ngoài Người lao động, nhất là lực lượng laođộng trẻ, mong muốn tìm việc làm trong các doanh nghiệp có vốn FDI để được thửsức trong một môi trường năng động hơn và có thu nhập cao hơn đã quan tâm hơnđến việc nâng cao trình độ và tay nghề
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực
Những thập kỷ đầu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, FDI vào các nướcđang phát triển chủ yếu nhằm khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụcho các ngành công nghiệp ở chính quốc Ngày nay, FDI đang trở thành một yếu tốtạo ra sự chuyển biến cơ cấu kinh tế tích cực ở các nước nhận đầu tư FDI chủ yếuđược tiến hành bởi các tnc và thường tập trung vào các ngành công nghiệp và dịch
vụ, vì vậy FDI đáp ứng được nhu cầu phát triển các ngành này của các nước đangphát triển
FDI góp phần tích cực vào các cân đối lớn của nền kinh tế
Trang 9Các dự án FDI góp phần ổn định kinh tế vĩ mô của các nước đang phát triển.Các cân đối lớn của nền kinh tế như cung cầu hàng hóa trong nước, xuất nhậpkhẩu, thu chi ngân sách đều thay đổi theo chiều hướng tích cực nhờ sự đóng gópcủa FDI.
FDI đối với cung cầu hàng hóa trong nước Trong giai đoạn đầu mới pháttriển, do trình độ phát triển thấp, công nghệ, máy móc thiết bị lạc hậu, thiếu vốn nên năng lực sản xuất của khu vực kinh tế trong nước của các nước đang phát triểnrất yếu kém, không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, nền kinh tế phụthuộc nhiều vào nhập khẩu Nguồn vốn FDI vào đã giúp các nước giải quyết đượckhó khăn trên Khu vực có vốn FDI đáp ứng một phần nhu cầu hàng hóa trongnước, làm giảm căng thẳng cung cầu, giảm sự phụ thuộc hàng nhập khẩu Trongnhững năm sau, khi FDI vào sản xuất vật chất ngày càng tăng thì các doanh nghiệp
có vốn FDI tham gia cung ứng ngày càng nhiều các loại hàng hóa cho tiêu dùngtrong nước Trong cơ cấu nhập khẩu, tỷ trọng hàng tiêu dùng giảm xuống Thêmvào đó, chất lượng hàng hóa đáp ứng được nhu cầu trong nước, chủng loại hànghóa phong phú, từ hàng tiêu dùng cá nhân, hàng tiêu dùng gia đình đến hàng tiêudùng cao cấp
FDI đối với xuất nhập khẩu Không chỉ đáp ứng nhu cầu nội địa, FDI ngàycàng hướng mạnh vào xuất khẩu nguồn ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu đã giúp cácnước đang phát triển cải thiện cán cân thương mại Do nhu cầu hàng hóa trongnước được đáp ứng tốt hơn và có nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu mà nhập khẩu cũngthay đổi theo hướng tích cực Cơ cấu nhập khẩu thay đổi mạnh, tỷ trọng hàng máymóc thiết bị, công cụ sản xuất tăng FDI còn có những tác động tích cực đến cáncân vãng lai và cán cân thanh toán nói chung Ngoài nguồn thu từ xuất khẩu, cácnguồn thu khác trong cán cân vãng lai cũng chịu ảnh hưởng dây chuyền từ hoạtđộng FDI các dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư thu ngoại tệ được mở rộng và pháttriển Khách quốc tế đến các nước đang phát triển với mục đích tìm hiểu cơ hội đầu
tư tăng lên, dịch vụ du lịch, khách sạn, vận chuyển hàng không, … cũng theo đó
mà phát triển Mặc dù ảnh hưởng của fdi đến cán cân thanh toán còn là vấn đềtranh cãi, do quan điểm cho rằng nguồn lợi nhuận chuyển ra nước ngoài dần sẽ lớn
Trang 10và có tác động bất lợi, nhưng về lâu dài fdi vẫn có ảnh hưởng tích cực cho cán cânthanh toán nói chung Nguồn thu từ xuất khẩu và từ các dịch vụ thu ngoại tệ sẽngày càng tăng, còn nhu cầu nhập khẩu sẽ ổn định.
FDI đối với tăng trưởng GDP và thu ngân sách nhà nước FDI giúp các nướctăng GDP Ở nhiều nước đang phát triển, tốc độ tăng trưởng của khu vực có vốnfdi thường cao hơn tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế có vốn trong nước,chính vì vậy FDI góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trưởng kinh tế, thúcđẩy các thành phần kinh tế khác phát triển Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn fditrong cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế ngày càng tăng Khu vực này liên tục cótốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của nền kinh tế FDI cũng góp phầntăng thu cho ngân sách nước nhận đầu tư thông qua thuế và tiêu dùng các dịch vụcông cộng
Mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới
Vai trò này của fdi thể hiện rất rõ nét ở các nước áp dụng chính sách thu hútfdi hướng vào xuất khẩu sự xuất hiện của các dự án FDI đi kèm với công nghệ,máy móc, thiết bị hiện đại đã giúp các nước nâng cao chất lượng và đa dạng hóacác mặt hàng xuất khẩu Các dự án FDI tạo ra những sản phẩm có chất lượng caohơn, phù hợp tiêu chuẩn quốc tế hơn Bên cạnh đó thông qua các mối quan hệ sẵn
có của các nhà đầu tư nước ngoài hàng hóa của các doanh nghiệp có vốn FDI tiếpcận được thị trường thế giới Như vậy, FDI đã vừa làm tăng năng lực xuất khẩuvừa mở rộng thị trường xuất khẩu cho các nước nhận đầu tư Ở nhiều nước kimngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn FDI chiếm tỷ trọng ngày càng caotrong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, hoạt động đtnn ngày càng có ý nghĩa
và vai trò quan trọng Quan hệ đầu tư góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế đốingoại khác phát triển Cam kết bảo đảm cho hoạt động FDI và hiệu quả của các dự
Trang 11án FDI là cơ sở để các nước đang phát triển thu hút các nguồn vốn ĐTNN khác.Quan hệ thương mại của các nước mở rộng theo quá trình phát triển của các doanhnghiệp có vốn FDI Các doanh nghiệp này trong giai đoạn xây dựng cơ bản có nhucầu nhập khẩu rất lớn Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp này lại có nhucầu nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu và xuất khẩu sản phẩm Ngoại thương của cácnước nhận đầu tư được mở rộng cả về chủng loại hàng hóa cũng như thị trườngnhờ rất nhiều vào các doanh nghiệp có vốn FDI Thông qua các dự án FDI, nhất làcác dự án của các MNC, các nước đang phát triển từng bước tham gia vào phâncông lao động quốc tế và vào hệ thống sản xuất thế giới
Hoạt động FDI góp phần làm phong phú, đa dạng và sâu sắc các quan hệkinh tế đối ngoại của các nước đang phát triển Nền kinh tế trong nước dần dầntham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới Điều này tạo thuận lợicho các nước tham gia vào các hiệp định hợp tác kinh tế song phương, đa phương
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài này có đặc điểm:
- Cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã
ký kết giữa các bên về sự phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ
- Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời mộtcông ty mới
- Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thỏa thuận, phùhợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu củahợp đồng
Trang 12Vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải đucợ đề cập trong văn bản hợpđồng hợp tác kinh doanh.
Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh
Xí nghiệp hay công ty được thành lập giữa một bên là một thành viên củanước nhận đầu tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia Một xínghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh Đặc điểmcủa hình thức liên doanh này là:
- Cho ra đời một công ty hay một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhânmới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn
- Thời gian hoạt động, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty, xí nghiệpliên doanh được quy định tùy thuộc vào luật pháp cụ thể của mỗi nước
- Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh,đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn
Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài
Đây là các hình thức công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữucủa tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý vàhoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh đặc điểm của các công ty nàylà:
- Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là mộtpháp nhân mới ở nước nhân đầu tư
- Hoạt động dưới sự phân phối của luật pháp nước nhận đầu tư
Các hình thức khác
Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thức hiện những hợpđồng xây dựng – vận hành – chuyển giao (b.o.t) những dự án B.O.T thường đượcchính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việcnâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế
2. Dòng vốn FDI trên thế giới:
2.1. Tổng quan về dòng vốn FDI trong những năm gần đây:
Trang 13Khái quát về tình hình dòng vốn FDI trên thế giới trong những năm trước, ta
có thể thấy được chủ yếu FDI tập trung vào các nước đã phát triển, tiếp theo là cácnước đang phát triển và một phần nhỏ là các nước quá độ lên tình trạng phát triển,hình vẽ dưới đây sẽ minh họa cho điều này:
Ngoài ra, qua biểu đồ trên ta thấy luợng vốn fdi toàn cầu trong thập niên 80tốc độ tăng trưởng ở mức thấp, chỉ ở mức khoảng 200 tỷ đô la, nhưng sang thậpniên 90 có một sự gia tăng đáng kể, điểm mốc là hai giai đoạn từ năm 1997 đếnnăm 2000 tốc độ tăng trưởng 180% và giai đoạn 2003-2007 tốc độ tăng trưởng lênđến 200% đến năm 2007 lượng vốn fdi toàn cầu tiếp tục gia tăng đạt một mức kỷlục mới 1833 tỷ đô la nhưng sang năm 2008 vốn fdi giảm khoảng 14% so với năm2007,nguyên nhân là do fdi đổ vào các nước phát triển giảm 29%, chủ yếu do sốthương vụ mua lại và sáp nhập xuyên biên giới giảm mạnh và bôi cảnh kinh tế mỹđang rơi vào suy thoái tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu bên cạnh đó, cónhiều nguy cơ tiềm ẩn khác như sự mất cân bằng toàn cầu, tỷ giá trao đổi ngoại tệbiến động, lãi suất và sức ép lạm phát tăng ảnh hưởng tiêu cực đến luồng vốn fditoàn cầu năm 2008
Tiếp theo, chúng ta sẽ có một cách nhìn khái quát về dòng vốn FDI theovùng kinh tế:
Trang 14 Các nước phát triển vẫn là các nước có lượng fdi vào (trên 60%) cũngnhư lượng vốn ra fdi ( trên 80%) chủ yếu từ 2005-2007.
Theo sau các nước phát triển là các nước đang phát triển chiếmkhoảng 30% lượng fdi vào và trung bình khoảng 14% lượng fdi ra từ 2005-2007
Xếp cuối cùng là các nước nam-đông Châu Âu, khối CIS(commonwealth of independent states) trong việc thu hút và đầu tư FDI ra
Như vậy , hầu hết trong thời gian qua, dòng vốn FDI chỉ tập trung vào cácnước có tiềm lực về mặt kinh tế trên thế giới, bảng số liệu dưới này là xếp hạng cácnước theo lượng fdi (đô la mỹ) thu hút được trong năm 2006 dựa vào nguồn ciafactbook công bố tại thời điểm tháng 1 năm 2008 với 10 quốc gia đúng đầu về thuhút FDI
Trang 15Hạng Quốc gia/lãnh thổ FDI
Trang 16Qua biểu đồ trên, chúng ta có thể thấy rằng hai mốc thời gian quan trọngnăm 2000 và năm 2007, giá trị của việc mua bán và sáp nhập chiếm một tỷ trọngkhá lớn trong tổng nguồn vốn fdi toàn cầu.
2.2. Xu hướng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong thời gian tới
Nhu cầu FDI trên toàn thế giới tiếp tục tăng không chỉ với các nước đangphát triển, nước có thu nhập thấp mà ngay cả các nước phát triển, các nước côngnghiệp, các nước có thu nhập cao Đây là một đặc điểm khá nổi bật khác biệt của
Trang 17bức tranh FDI trên toàn thế giới đã được phác họa cho thời kỳ 2007-2011 đượccông bố trong “World Investment Prospects to 2011“.
Tại sao có sự khác biệt này? Theo lý giải, đây là nhu cầu tăng trưởng kinh tếcủa tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn cầu, đây là một phương thức duynhất để đưa nước mình thoát khỏi nước nghèo, thu nhập thấp, thoát khỏi là nướcnghèo nợ nần nhiều (HIPC), còn với nhiều nước khác là để đưa nước mình đã giầu,
đã mạnh lại giầu hơn, mạnh hơn Mặt khác, từ 2006, nhất là từ 2007 và dự báo cácnăm tiếp theo xu thế M&A (mua lại và sát nhập) xuyên quốc gia đã và sẽ gia tăng(tổng giá trị M&A trên toàn cầu 6 tháng đầu năm 2007 đạt 2,8 nghìn tỷ USD bằng1,5 lần 6 tháng đầu năm 2006), cùng với xu thế toàn cầu hóa và chuyển giao côngnghệ FDI không chỉ bổ xung thêm vốn đã thiếu và công nghệ lạc hậu của các nướcnhận FDI mà còn với các nước đầu tư không những khai thác lợi thế ở các nướcnhận đầu tư mà còn giúp tăng cường năng lực công nghệ, nâng cao khả năng cạnhtranh của các doanh nghiệp trong nước
Chính vì vậy, bức tranh FDI 2007-2011 sẽ là FDI sẽ đổ về nhiều hơn (so vớicác thời kỳ trước) phát triển, các nước công nghiệp, các nước giàu so với các nướcđang phát triển, các nước mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN, ), tất nhiên cácnước phát triển, đặc biệt các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) cũng sẽđẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài
Trung bình một năm trong thời kỳ trên FDI sẽ lên tới 1500 tỷ USD, riêngnăm 2011 sẽ lên trên 1600 tỷ USD (mức trung bình một năm thời kỳ 2002-2006khoảng 843 tỷ USD) Theo xếp hạng 10 nước và lãnh thổ nhận FDI nhất đã thu húttới gần 58% FDI trên toàn thế giới, mặc dù dân số các nước này chỉ chiếm gần40% dân số thế giới, trung bình một người dân một năm nhận khoảng 864,1 USD*,trong 10 nước và lãnh thổ có 9 nước và lãnh thổ thuộc nhóm công nghiệp, có nềnkinh tế thu nhập cao, chỉ duy nhất có Trung Quốc thuộc nhóm nước đang pháttriển, có nền kinh tế thu nhập trung bình chỉ nhận trung bình một năm khoảng 66,8USD
Dự báo dòng vốn FDI vào các nước (trung bình một năm trong thời kỳ
2007-2011)
Trang 18Tỷ USD Xếp hạng Tỷ lệ so
với FDI toàn thế giới -%
GDP BQĐN 2004
Nhận FDI BQĐN-USD
10 nước và vùng lãnh thổ trên 35,1 nghìn USD, bình quân đầu người thu hút tới1233,6 USD FDI trong một năm Nhật Bản tuy không trong TOP 10, mỗi nămcùng nhận khoảng 13,3 tỷ USD (xếp hạng 22)
Các quốc gia mới nổi lên, có GDP trên 600 tỷ USD (đứng thứ 12,13, 14 vềGDP trong hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới), cũng thu hútđược một lượng FDI nhất định: Braxin (27,5 tỷ USD), Mêhicô (22,7 tỷ USD), Ấn
Độ ( 20,4 tỷ USD)
Ngược lại, các quốc gia có GDP bình quân đầu người dưới 1000 USD, như:Việt Nam, Ấn Độ, Pakitxtan, Nigiêria, Kênia, Bănglađét, bình quân đầu người
Trang 19đều thu hút chưa đến 100 USD FDI trong một năm, thậm chí chưa đến 5 USD,như: Bănglađét, Kênia
Có khoảng 75 quốc gia và vùng lãnh thổ thu hút FDI từ 1 tỷ USD trở lêntrong một năm, thì có một số nước chỉ thu hút vài trăm triệu USD như Cu Ba (0,5
tỷ USD), Xrilanca (0,3 tỷ USD), Bănglađét (0,7 tỷ USD), và cùng có hàng chụcnước và vùng lãnh thổ không thu hút FDI
Cũng theo World Investment Prospects to 2011, các nước Đông Nam Á vẫntiếp tục thu hút FDI nhưng theo chiều hướng chậm lại, điển hình như Việt Nam chỉthu hút khoảng 6,5 tỷ USD trong một năm, chỉ bằng 1/3 mức đã đạt được trongnăm 2007, và gấp hơn 1,6 lần mức bình quân thu hút FDI trong một năm trongsuốt thời kỳ 20 năm đầu tư nước ngoài ở nước ta Đây là một con số để chúng tatham khảo khi đề ra mục tiêu thu hút FDI trong các năm tới
Bức tranh triển vọng thu hút FDI bình quân trong một năm của thời kỳ2007-2011 của một số nước ASEAN như sau:
Dự báo dòng vốn FDI vào các nước (trung bình một năm trong thời kỳ 2007-2011)
Tỷ USD Xếp
hạng
Tỷ lệ so với FDI toàn thế giới -%
GDP BQĐN 2004
Nhận FDI BQĐN-USD
*Xingapo 27,1 15 1,81 25207 6452,4
Trang 20Cộng hòa Séc: 529,4 USD, Hunggary: 504,9 USD, Ucraina: 103,4 USD, Bungari:333,3 USD, Xlôvakia: 407,4 USD, Adecbaigian: 192,8 USD, Extoonia: 259,2USD, Lítva: 359,2 USD, Látvia: 434,8 USD.
Không có vốn FDI hỗ trợ cho vốn đầu tư xã hội cho mỗi quốc gia là điềuđáng tiếc, nhưng đã có FDI (dù ít hay nhiều), vấn đề sử dụng nó như thế nào vừa
có lợi cho các nhà đầu tư, vừa có lợi nhiều hơn cho quốc gia thu hút FDI mới là bàitoán khó, nhưng không thể không giải cho đúng
3. Thực trạng dòng vốn FDI của Việt Nam:
3.1. Tổng quan về dòng vốn FDI trong những năm gần đây:
Chúng ta hãy cùng nhau hìn lại tình hình thu hút FDI của Việt Nam trongnăm 2007 , 2008 và những tháng đầu năm 2009
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI NĂM 2007
Năm 2007 là năm đạt kỷ lục về thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam vớitổng vốn đầu tư đăng ký là 21,3 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 8,03 tỷ USD
Tổng vốn thực hiện đã đạt hơn 8 tỷ USD (trong đó dầu khí đạt 2,89 tỷUSD), vượt 4 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (4,6 tỷ USD)
Tổng vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD vượt 1 tỷ USD so với báo cáo banđầu (20,3 tỷ USD):
Theo ngành nghề: Trong năm 2007, vốn đầu tư đăng ký (cấp mới và tăng
vốn) tiếp tục tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, chiếm 54,9% tổng vốn đầu tưđăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 44,5% Số còn lại thuộc lĩnh vựcnông, lâm, ngư nghiệp
Theo đối tác đầu tư: Trong năm 2007 có 55 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu
tư tại Việt Nam, trong đó Hàn Quốc tiếp tục giữ vị trí đứng đầu với số vốn đăng ký(cấp mới và tăng vốn) 5,3 tỷ USD, chiếm 25,2% về tổng vốn đăng ký BritishVirgin Islands đứng thứ 2, chiếm 20,6%; Singapore đứng thứ 3, chiếm 12,04%;Đài Loan đứng thứ 4, chiếm 11,6%; Nhật Bản đứng thứ 5, chiếm 6,4%; Malaysiađứng thứ 6, chiếm 5,5% ; Trung Quốc đứng thứ 7, chiếm 2,6% (cộng cả Hồng
Trang 21Kông sẽ chiếm 5,5%) và Hoa Kỳ (không tính các dự án đầu tư qua nước thứ 3)đứng thứ 8, chiếm 1,8%; Thái Lan đứng thứ 10 chiếm 1,3% tổng vốn đăng ký.
Về cơ cấu vùng: Trừ dầu khí, trong năm 2007 cả nước có 56 địa phương thu
hút được dự án ĐTNN, trong đó 10 địa phương dẫn đầu Đó là: Hà Nội đứng đầuvới số vốn đăng ký 2,5 tỷ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đầu tư đăng ký; Đồng Naiđứng thứ 2, chiếm 11,3%; TP Hồ Chí Minh đứng thứ 3, chiếm 10,6% ; BìnhDương đứng thứ 4, chiếm 10,5% về tổng vốn đầu tư đăng ký; Phú Yên đứng thứ 5,chiếm 7,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 6, chiếm 5,2%; Vĩnh phúc đứng thứ 7,chiếm 4,9%; Đà Nẵng đứng thứ 8, chiếm 4,4%; Long An đứng thứ 9 chiếm 3,8%
và Hậu Giang đứng thứ 10, chiếm 2,9%
Luỹ kế tình hình ĐTNN từ 1988 đến hết năm 2007 :
Tính đến hết năm 2007, cả nước có 8.684 dự án còn hiệu lực với tổng vốnđăng ký 85,05 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động) đạt gần 30 tỷUSD (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì tổng vốn thực hiện đạt hơn 43 tỷUSD )
Phân theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn
nhất chiếm 67% về số dự án và 60% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vựcdịch vụ chiếm 22,3% về số dự án và 34,3% (tăng từ mức 30,7% đến hết năm 2006)
về số vốn đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Phân theo hình thức đầu tư:- Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 77,6%
về số dự án và 61,6% về tổng vốn đăng ký; Liên doanh chiếm 18,8% về số dự án
và 28,8% về tổng vốn đăng ký Số còn còn lại đầu tư theo hình thức Hợp doanh,BOT, công ty cổ phần và công ty quản lý vốn
Phân theo nước: Đã có 82 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt
Nam, trong đó các nước châu Á chiếm 66% tổng vốn đăng ký; các nước châu Âuchiếm 29% tổng vốn đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 4% vốn đăng ký Riêng 4nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào Việt Nam theo thứ tự: Hàn Quốc,Singapore, Đài Loan và Nhật Bản đã chiếm 55% tổng vốn đăng ký
Trang 22Phân theo địa phương: Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận
lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc vẫn là những địaphương dẫn đầu thu hút ĐTNN, trong đó 5 địa phương dẫn đầu theo thứ tự nhưsau:
TP Hồ Chí Minh chiếm 27,6% về số dự án và 20% tổng vốn đăng ký
Hà Nội chiếm 11,6% về số dự án; 14,9% tổng vốn đăng ký
Đồng Nai chiếm 10,5% về số dự án; 13,7% tổng vốn đăng ký
Bình Dương chiếm 18,2% về số dự án; 10,0% tổng vốn đăng ký
Bà Rịa –Vũng Tàu chiếm 1,8% về số dự án; 7,2% tổng vốn đăng ký.FDI đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội - đặcbiệt với nước ta thuộc nhóm các nước đang phát triển, có nền kinh tế thu nhập thấp(theo các tiêu chí phân loại của Liên hiệp quốc) Hai mươi năm đã có hơn 9500 dự
án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký khoảng 98 tỷUSD (kể cả vốn tăng thêm) Riêng năm 2007 đạt 20,3 tỷ USD, chiếm hơn 20%tổng số FDI trong 20 năm qua Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội giảmdần: thời kỳ 1991-1995 chiếm 30%, thời kỳ 1996-2000: 23,4%, thời kỳ 2001-2007:16,7% (tỷ trọng này giảm chủ yếu do sự phát triển nhanh của khối doanh nghiệpdân doanh)
FDI góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước, trong thời kỳ 2001-2005khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, 2007 trên 1,5 tỷ USD, thu hút trên 1,2triệu lao động trực tiếp và nhiều triệu lao động gián tiếp, góp phần tăng thêm cácngành nghề lao động mới, thay đổi cơ cấu ngành nghề cũng như nâng dần chấtlượng chuyên môn của lực lượng lao động này
FDI góp phần vào mức độ tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm qua ở mức
độ cao (từ 2002-2004: trên 7,0%, 2005: 8,44%, 2006: 8,17%, 2007: 8,48%), gópphần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước (từ năm 2005 đến nay, công nghiệp, xây dựng chiếm trên 41% GDP,riêng 2007: 41,61% GDP), chuyển giao công nghệ tạo nên nhiều sản phẩm mới cóchất lượng, có hàm lượng công nghệ cao, trong đó có các sản phẩm có khả năngcạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần nhanh chóng phát triển các vùng kinh
Trang 23tế trọng điểm kéo theo các vùng phụ cận; góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp (kể
cả các doanh nghiệp không có FDI) nâng cao khả năng quản trị kinh doanh, khảnăng cạnh tranh, góp phần nâng cao khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả laođộng, vốn, tài nguyên,
Với 82 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu tư vào Việt Nam, FDI là cầu nốiquan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới ( không chỉ về kinh tếtiếp cận và mở rộng thị trường, mà còn về phát triển du lịch, văn hóa, giáo dục, ytế, ), nói cách khác FDI góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ độnghội nhập kinh tế và các lĩnh vực khác trong khu vực và thế giới
Trong thời gian tới, nước ta chủ trương thu hút nhiều hơn và nâng cao hiệuquả sử dụng FDI như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ: “Tăngcường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tưphát triển toàn xã hội trong 5 năm Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hútFDI, hướng vào những thị trường giầu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầuthế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồnvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài“
Để thực hiện các nhiệm vụ này, có quá nhiều việc phải làm, từ các chínhsách đến cơ chế, từ các quy hoạch phát triển vùng, ngành đến các chuẩn bị cácthông tin có tính hệ thống, đầy đủ mức độ chính xác cao và có tính minh bạch, vànhất là tập trung đầu tư vào hạ tầng cơ sở để đáp ứng các yêu cầu của các nhà đầu
tư nước ngoài (không ít nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã cảnh báo với hạtầng cơ sở như hiện nay, với một số những chính sách và cơ chế liên quan đến việcgiải phóng mặt bằng, sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam),chuẩn bị nguồn nhân lực không chỉ về số lượng mà còn chất lượng và cơ cấungành nghề chuyên môn, một cách đồng bộ và chỉ có như thế mới thu hút thêmvốn đầu tư đồng thời tăng nhanh tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện để sớm đưa các dự án
đi vào hoạt động – đây không chỉ là nguyên tắc đầu tư của các nhà đầu tư mà cũng
là điều mong muốn của nước nhận FDI và theo tôi tiến tới sẽ là điều kiện ( thí dụquy định thời gian phải đưa dự án vào hoạt động sau khi được cấp giấy phép đầutư) với các nhà đầu tư nước ngoài vì không tránh khỏi đã và sẽ có thêm các nhà
Trang 24đầu tư nước ngoài sau khi đã được cấp giấy phép đầu tư lại không tập trung đầu tư,
mà coi đây là giữ chỗ trước, nhất là các dự án liên quan tới nhiều đất đai và địa thế
dự án thuận tiện
Ở nước ta, vốn đầu tư thực hiện so với vốn đầu tư đăng ký còn thấp và ítnăm gần đây lại càng thấp hơn: tỷ lệ này với 10 quốc gia và vùng lãnh thổ chiếmtới 82% vốn đầu tư còn hiệu lực chỉ là 34% Vấn đề đặt ra cần nghiên cứu để cócác biện pháp nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với vốn đăng ký và một trongcác nội dung nghiên cứu là cần lý giải: Tại sao tỷ lệ này ở Việt Nam lại thấp? Tạisao tỷ lệ này ở các nước có FDI vào Việt Nam rất khác nhau, trong đó có các dự áncủa Hàn Quốc mới đạt 20,2%, Đài Loan 29,3%, Hoa Kỳ 26,9%, BritishVirginlsland 17,8%, nhưng các dự án của Hà Lan đạt tới 78,2%, của Nhật Bản55,2% - và điều cần lưu ý là FDI được cấp giấy phép đầu tư của hai nước nàychiếm tới 14% tổng FDI còn có hiệu lực của trên 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tưvào Việt Nam; Tại sao tỷ lệ này ở nhiều địa phương rất thấp, nhưng có nhiều địaphương khá cao, như: Hải Phòng 49%, TP Hồ Chí Minh 38,3%, Đồng Nai gần36% - FDI được cấp giấy phép đầu tư vào 3 thành phố và tỉnh trên chiếm tới37,1% tổng FDI còn có hiệu lực đầu tư vào Việt Nam Chắc tỷ lệ thấp, theo tôikhông chỉ do nước chủ nhà mà còn do các nhà đầu tư nước ngoài nữa
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI NĂM 2008
Căn cứ các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong bối cảnh tình hình trong nước
và thế giới, trên cơ sở tổng hợp một số dự án lớn đang trong quá trình đàm phán từcác địa phương và tình hình triển khai nhanh các dự án được cấp trong vài năm vừaqua (từ năm 2005 đến nay) dự kiến tình hình thu hút vốn ĐTNN trong 2 năm 2008
và 2009 sẽ thu hút vốn đầu tư mới (bao gồm cả tăng vốn mở rộng sản xuất) tương
tự như kết quả năm 2007, trong đó chú trọng thu hút các dự án lớn, trọng điểm, sửdụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh
- Vốn thực hiện: đạt 10 tỷ USD vượt 25%năm 2007 (8 tỷ USD)
- Lao động: 16 vạn người, tăng 6,7% so với năm 2007;
- Nộp ngân sách Nhà nước: 2 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2007.
Trang 25Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước tagặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kémthuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thuhút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 65 tỉUSD – mức cao nhất từ trước tới nay Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểmhấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD,trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp
7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007, số còn lại là vốn đầu tư tăng thêmcủa một số dự án mở rộng sản xuất, kinh doanh Quy mô vốn bình quân đầu tư củamột dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớntăng hơn nhiều so với năm 2007 (12,2 triệu USD/dự án) Điều này thể hiện sự tintưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay.Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định chính sách FDI, là thànhquả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạtđộng FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinhdoanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế
về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư Bên cạnh đó còn là sự tíchcực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng đơngiản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đãđược cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tựchủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp
Môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện vàđược cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu
tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực Chính sách phân cấp việccấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủđộng và tích cực cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp trong thu hút và quản lý FDIbằng nhiều biện pháp theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điềukiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạtđộng kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp
Trang 26Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả về phương thức lẫn nâng caochất lượng thông qua nhiều hoạt động, như triển khai thực hiện Quyết định số109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hànhQuy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn
2007 – 2010, thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh hưởng lớntới địa phương; ban hành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 –
2010, xuất bản các tài liệu cập nhật, đĩa CD… liên quan tới hoạt động FDI, tổ chứcnhiều hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm
và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; chú trọng hướng thu hút đầu tư
từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm thu hút các dự án lớn, công nghệ cao hướng vàoxuất khẩu
Một điều dễ nhận thấy là dòng vốn FDI vào Việt Nam trong vài năm trở lạiđây không chỉ thay đổi về lượng (vốn đầu tư) mà cả về chất (chiều sâu đầu tư)thông qua sự có mặt của các tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử, như: Intel,Compal, Foxconn, Samsung… Đặc biệt trong năm 2008 còn xuất hiện dự án củacác tập đoàn lớn, như Good Choi (Hoa Kỳ), Berjaya (Ma-lai-xi-a) v.v Điều nàycho thấy, sau một thời gian nghiên cứu thị trường Việt Nam các tập đoàn nướcngoài đã quyết định đầu tư quy mô lớn, xem Việt Nam như một mắt xích trongchuỗi sản xuất toàn cầu Các dự án lớn nói trên sẽ kéo theo nhiều nhà sản xuất vàcung cấp sản phẩm phụ trợ phục vụ sản xuất
Vấn đề đặt ra là mức thu hút vốn FDI đăng ký nêu trên đã là đỉnh điểm củalàn sóng FDI lần thứ hai vào Việt Nam kể từ năm 2005 tới nay hay chưa? Biểu đồthu hút vốn FDI trong thời gian qua cho thấy, năm 2008 thu hút vốn FDI đạt mứccao nhất, tăng gấp hơn 5 lần so với năm 1996 – năm đỉnh điểm của làn sóng FDIđầu tiên vào Việt Nam
Mặc dù có ý kiến cho rằng: vốn FDI thời gian qua chủ yếu vào lĩnh vực bấtđộng sản, song trên thực tế kết quả thu hút vốn FDI trong 11 tháng đầu năm 2008cho thấy, vốn đăng ký cấp mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xâydựng, với 537 dự án có tổng vốn đăng ký 32,5 tỉ USD, chiếm 53,7% về số dự án và55,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch vụ có 480 dự án với tổng vốn đăng
Trang 27ký 26,2 tỉ USD, chiếm 42% về số dự án và 43,9% về vốn đầu tư đăng ký Số cònlại thuộc lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp Bên cạnh đó, cơ cấu đầu tư đã chuyểndịch dần sang lĩnh vực dịch vụ với sự xuất hiện của một số dự án quy mô lớn tronglĩnh vực bất động sản, cảng biển Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng khuvực dịch vụ, bao gồm tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… góp phần thúc đẩy sự pháttriển của các ngành kinh tế trong thời gian tới
Hiện nay đã có 44 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam,trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ có đăng ký mức vốn đầu tư trên 1 tỉUSD Ma-lai-xi-a đứng đầu với 49 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỉ USD, chiếm 4,2% về
số dự án và 25,5% về vốn đầu tư đăng ký Đài Loan đứng thứ 2 với 127 dự án, vốnđầu tư 8,6 tỉ USD, chiếm 12,8% về số dự án và 14,8% về vốn đầu tư đăng ký NhậtBản đứng thứ 3 với 95 dự án, vốn đầu tư 7,2 tỉ USD, chiếm 9,4% về số dự án và12,89% về vốn đầu tư đăng ký Bru-nây đứng thứ 4 với 16 dự án, vốn đầu tư 4,38
tỉ USD, chiếm 7,5% về vốn đầu tư đăng ký Canada đứng thứ 5 với 8 dự án, vốnđầu tư 4,23 tỉ USD, chiếm gần 7,5% về vốn đầu tư đăng ký Kết quả trên cho thấy,các nhà đầu tư từ quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu á vẫn chiếm đa số trongtổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam Do vậy, để thu hút được nhiều hơn vốn FDIvào Việt Nam từ các nước có tiềm năng kinh tế thuộc châu Âu và châu Mỹ, việcxây dựng và triển khai chiến lược thu hút vốn FDI từ các quốc gia và vùng lãnh thổthuộc các châu lục này càng trở nên cấp thiết và phải được phối hợp đồng thời vớiviệc nhanh chóng đưa các bộ phận đại diện cơ quan xúc tiến đầu tư tại các khu vựctrọng điểm đi vào hoạt động theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
Không kể 7 dự án thăm dò, khai thác dầu khí (chiếm 18,1% tổng vốn đăngký), trong 11 tháng đầu năm 2008, tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu 43 địaphương của cả nước có thu hút vốn FDI, do có liên doanh sản xuất thép giữa tậpđoàn Lion (Ma-lai-xi-a) với tập đoàn tàu thủy Vinashin, với tổng vốn đăng ký đạt9,79 tỉ USD, Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ 2, có 4 dự án với tổng vốn đăng ký là9,3 tỉ USD, chiếm 16,6% tổng vốn đăng ký Các địa phương có thứ tự tiếp theo làThành phố Hồ Chí Minh với tổng số vốn đăng ký đạt 7,99 tỉ USD, chiếm 14,2%tổng vốn đăng ký, Hà Tĩnh 7,8 tỉ USD, chiếm 14%, Thanh Hóa 6,2 tỉ USD, chiếm
Trang 2811%, Phú Yên 4,3 tỉ USD chiếm 7,7%, Kiên Giang 2,3 tỉ USD chiếm 4,09%, ĐồngNai 1,78 tỉ USD chiếm 3,1% Như vậy, sau hơn 20 năm thực hiện Luật Đầu tưnước ngoài tại Việt Nam, các địa phương thuộc khu vực miền Trung đã đạt đượckết quả thu hút vốn FDI đáng khích lệ với sự góp mặt của một số dự án FDI có quy
mô vốn đầu tư lớn hàng tỉ USD, chắc chắn sẽ có tác động không nhỏ cho sự pháttriển kinh tế – xã hội của vùng
Theo đánh giá tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam năm 2008 được tổ chứcvào ngày 1-12-2008 tại Hà Nội, khu vực doanh nghiệp FDI hiện đóng góp hơn40% sản lượng công nghiệp, gần 60% tổng giá trị xuất khẩu, 20% lực lượng sảnxuất và hơn 35% nguồn thu thuế Tình hình hoạt động triển khai sản xuất, kinhdoanh của các doanh nghiệp FDI trong năm 2008 cũng đạt kết quả tích cực, mặc
dù khu vực này cũng đang đối mặt với nhiều thách thức Nhiều dự án lớn đượckhai trương, động thổ và triển khai xây dựng ngay sau khi được cấp Giấy chứngnhận đầu tư, như trong tháng 7-2008 có dự án sản xuất gang thép Hưng Nghiệp,Formosa đầu tư 7,879 tỉ USD, được cấp phép và khởi công xây dựng, dự án xâydựng khu đô thị đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Berjaya Leisure (Ma-lai-xi-a)đầu tư 3,5 tỉ USD v.v Ước tính các doanh nghiệp FDI đã góp vốn đầu tư thực hiệntrong năm đạt khoảng 11 tỉ USD, tăng 30,8% so với năm 2007 Doanh thu của khuvực FDI đạt khoảng 50 tỉ USD, tăng 26,3% so với năm 2007, trong đó xuất khẩu(trừ dầu thô) đạt khoảng 25 tỉ USD, tăng 24,9% so với năm trước Nhập khẩu đạtkhoảng 29 tỉ USD, tăng 34,5% so với năm 2007 Nộp ngân sách đạt khoảng 2 tỉUSD, tăng 33% so với năm 2007 Trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI thu hútthêm khoảng 18 nghìn lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực FDI tính đếnthời điểm này xấp xỉ 1,5 triệu lao động, tăng 15,7% so với năm trước
Bên cạnh những kết quả khả quan nêu trên, khu vực FDI còn những hạn chếnhư: công tác kiểm tra, giám sát quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức nên xảy
ra tình trạng một số địa phương cấp mới một loạt dự án sử dụng nhiều đất (như sângôn, khu công nghiệp, khu đô thị, khu vui chơi giải trí), tình trạng ô nhiễm khôngkhí, nguồn nước, rác thải tại một số khu công nghiệp – khu chế xuất đến mức rấtnghiêm trọng, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái, thiếu lao động có tay nghề cao,
Trang 29việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp – nông thôn cònchậm, điều kiện làm việc và sinh hoạt của người lao động còn hạn chế, nhất là tìnhtrạng đình công kéo dài không được giải quyết triệt để cũng ảnh hưởng không nhỏtới môi trường đầu tư – kinh doanh
Như vậy, tính lũy kế từ khi thực hiện Luật Đầu tư (năm 1987) đến nay, nước
ta đã thu hút được khoảng 150 tỉ USD vốn FDI cam kết, nhưng vốn giải ngân mớiđạt khoảng 56 tỉ USD, bằng khoảng 36% tổng vốn cam kết Với quy mô vốn đăng
ký tăng cao đột biến trong 2 năm 2007 và 2008 việc giảm khoảng cách giữa vốnFDI cam kết với vốn thực hiện đòi hỏi các cơ quan quản lý hoạt động FDI các cấpcàng phải nỗ lực nhiều hơn trong việc hỗ trợ trực tiếp, thiết thực đối với các dự ánđang triển khai trên địa bàn nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, triểnkhai giải ngân vốn theo đúng tiến độ đề ra; đồng thời tiếp tục tạo môi trường pháp
lý, đầu tư – kinh doanh ngày càng minh bạch, hấp dẫn, phù hợp với cam kết quốc
tế Bên cạnh đó, Chính phủ cần tiếp tục xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thốngkết cấu hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cảng biển… bằng vốn đầu tư từ các nguồnkhác (ODA, tư nhân…) bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhu cầutrước mắt và lâu dài
Theo kết quả điều tra về môi trường kinh doanh năm nay do Ban Thư ký củaDiễn đàn doanh nghiệp công bố tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam năm 2008,hầu hết các doanh nghiệp được điều tra đều tin tưởng Việt Nam sẽ vượt qua cácthách thức, bình ổn kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh trong các năm 2009,
2010 và đến năm 2011 sẽ được cải thiện hơn Theo thông tin của Bộ Kế hoạch vàĐầu tư tổng hợp từ các địa phương, hiện có khoảng 50 tỉ USD vốn cam kết của các
dự án đang trong quá trình xem xét, thẩm tra cấp giấy chứng nhận trong nhữngnăm tới Tuy nhiên, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, khó khănlớn mà các nhà đầu tư đang phải đối đầu là việc vay vốn của ngân hàng để đầu tư
Do vậy, khả năng các dự án FDI tại Việt Nam cũng không tránh khỏi trở ngại trên
và như vậy tiến độ triển khai dự án cũng sẽ bị tác động
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI NĂM 2009
Trang 30Dù sự phục hồi kinh tế thế giới vẫn chưa thực sự rõ ràng, song nhữngchuyển động nhất định trong thế giới đầu tư cho thấy sự chuẩn bị cho giai đoạn hậukhủng hoảng đã rục rịch.
Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chungcủa thế giới Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cho đến hết quý I/2009, ViệtNam đã thu hút được 2,2 tỷ vốn đăng ký FDI, giảm 70% so với cùng kỳ năm trước.Ngay cả khi tính thêm 3,8 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của các dự án hiện có thìtổng vốn FDI cũng chỉ đạt 6 tỷ USD, giảm 40% so với cùng kỳ năm 2008
GS.TSKH Nguyễn Mại, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về hợp tác
và đầu tư (SCCI), đã điểm lại các con số thống kê về tình hình thu hút FDI củaViệt Nam thời gian qua với mức tăng trưởng nhảy vọt Nếu như năm 2006, vốnFDI thực hiện là 4,1 tỷ USD, vốn đăng ký là 12 tỷ USD, thì năm 2007, các con sốnày đã được tăng gấp đôi Trong 9 tháng đầu năm 2008, vốn thực hiện đạt 8,1 tỷUSD, bằng 1,37 lần so với cùng kỳ năm 2007, và vốn đăng ký đã lên đến 57 tỷUSD - gấp 5 lần so với cùng kỳ
Tuy nhiên, xu hướng thu hút FDI có được tiếp diễn trong năm 2009 haykhông là vấn đề cần được nghiên cứu cả ở tầm vĩ mô và vi mô Hoạt động FDI củanước ta trong năm 2009 chịu tác động của hai nhân tố: tình hình trong nước và sựđiều chỉnh chiến lược kinh doanh của các tập đoàn kinh tế toàn cầu
Có thể, các tập đoàn này sẽ tạm thời thu hẹp phạm vi, đình hoãn một số dự
án không có khả năng thu xếp tín dụng Khi đó, không ít dự án FDI trong nước cónguy cơ bị giãn tiến độ, thu hẹp quy mô,vốn FDI vào Việt Nam sẽ giảm
Cuộc khủng hoảng nào rồi cũng sẽ kết thúc, nhưng khi nào chấm dứt thì rấtkhó dự đoán Chỉ có thể nói rằng, năm 2009, kinh tế thế giới và Việt Nam sẽ gặprất nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại Do vậy, với Việt Nam, việc cầnlàm là đánh giá đúng tác động của cuộc khủng hoảng trong điều kiện nước ta đãhội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế
Trang 31Rút kinh nghiệm từ hậu quả của cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997, ViệtNam cần nghiên cứu bài bản để nhận dạng đầy đủ tác động của khủng hoảng, đề racác giải pháp đồng bộ và phối hợp với các nước khác thực hiện các giải phápchung Đồng thời, phải xem xét khách quan tình hình đất nước, nhất là hoạt độngtín dụng của các ngân hàng, đặc biệt là những khoản tín dụng bất động sản.
Với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, không quốc gia nào không bị ảnhhưởng, nhưng tùy vào điều kiện và hoàn cảnh từng quốc gia mà mức độ ảnh hưởngkhác nhau Đối với Việt Nam, chúng ta có những đặc thù riêng Hiện nay, ViệtNam vẫn là điểm đến của các nhà đầu tư quốc tế
Điều này thể hiện thông qua kết quả thu hút đầu tư nước ngoài trong năm2008: chỉ tính trong 10 tháng, Việt Nam đã thu hút được hơn 59 tỷ USD và khảnăng vốn giải ngân đạt trên 11 tỷ USD Đây là hai con số lớn nhất từ trước đếnnay Mặc khác, chúng ta đang có "dư địa" giữa vốn đăng ký với vốn thực hiện khálớn, với khoảng 90 tỷ USD Đây là nguồn vốn mà chúng ta cần khai thác tronggian tới”, ông Thắng phân tích
Qua thăm dò khả năng đầu tư tiếp của các nhà đầu tư cho thấy, họ có quyếttâm đầu tư cao, vì các dự án mà họ được cấp phép có tính khả thi cao và sẽ manglại lợi nhuận cho họ trong tương lai Đồng thời, các nhà đầu tư này cũng đánh giárằng, khó khăn hiện tại của Việt Nam chỉ là khó khăn tạm thời và trong trung vàdài hạn, họ vẫn tiếp tục đổ vốn vào Trong khi đó, Chính phủ, các bộ, ngành và cácđịa phương xem việc giải ngân vốn FDI là một nhiệm vụ cấp bách trong thời giantới
Theo đó, nếu chúng ta quyết tâm nhắm vào các đối tác lớn và xử lý các quanđiểm về thu hút các dự án đầu tư vào các dự án lớn thì có thể tiếp tục duy trì đượckết quả như trong năm 2008 Còn nếu chỉ dựa vào các dự án tiềm năng như hiệnnay thì thu hút vốn FDI sẽ giảm so với năm 2008, nhưng vẫn giữ được mức tăngtrưởng như trong năm 2006 và tỷ lệ vốn giải ngân sẽ vẫn giữ được như trong năm
2008, khoảng 11 - 12 tỷ USD”
Trang 32Có 8,87 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đăng ký đầu tưvào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2009, trong đó, vốn đăng ký mới khoảng 4,7
tỷ USD, số còn lại là vốn tăng thêm
Nhiều khả năng, dự án khu hành chính mới Nhơn Trạch của Đồng Nai vớitổng vốn đầu tư ước khoảng 2 tỷ USD sẽ sớm được cấp giấy chứng nhận đầu tư
Như vậy, con số 8,87 tỷ USD vốn FDI đăng ký tới ngày 19/6/2009, tính cho
6 tháng đầu năm 2009, đang có khả năng thay đổi mạnh Mặc dù kết quả thu hútvốn FDI trong 6 tháng đầu năm không đạt mức kế hoạch (khoảng 10 tỷ USD), thìkhả năng thu hút được 20 tỷ USD vốn FDI trong cả năm 2009, theo ông Thắng, làkhả thi
Sự suy giảm dòng vốn đầu tư nước ngoài có những hệ lụy quan trọng đối vớinền kinh tế của Việt Nam Trong một thời gian dài, Việt Nam đã theo đuổi môhình tăng trưởng dựa vào đầu tư, trong đó FDI chiếm gần 20% tổng đầu tư toàn xãhội Không những thế, khu vực FDI cũng đóng góp khoảng 20% cho GDP, 40%kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 3,5% lao động trực tiếp cho nền kinh tếViệt Nam
Đồng thời, nguồn vốn FDI cũng góp phần quan trọng trong việc cải thiệncán cân thanh toán vốn bị xói mòn do nhập siêu cao gây ra Với những thực tế này,Việt Nam là một nước có mức độ phụ thuộc vào FDI cao nhất trong khu vực Vìvậy, sự suy giảm về FDI chắc chắn sẽ tác động hết sức tiêu cực đến tốc độ tăngtrưởng GDP, xuất khẩu và việc làm của nước ta
Trong bối cảnh dòng vốn FDI suy giảm mạnh và khó có thể phục hồi thậmchí trong trung hạn thì một ưu tiên hàng đầu về chính sách là phải nỗ lực khắc phụccác rào cản đối với việc giải ngân cho các dự án FDI hiện tại Thủ tục hành chính
và giải phóng mặt bằng luôn luôn là một rào cản rất lớn đối với việc triển khai các
dự án FDI