1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm hồ chí minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh và phương hướng vận dụng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước việt nam hiện nay

32 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh và phương hướng vận dụng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Quản lý nhà nước
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 61,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU (3)
  • PHẦN II: NỘI DUNG (4)
    • I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC (4)
      • 1.1. Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước pháp quyền (4)
        • 1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân. 2 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước (4)
        • 1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (6)
      • 1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh (8)
        • 1.2.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài (8)
        • 1.2.2. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước (10)
        • 1.2.3. Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật (12)
        • 1.2.4. Xây dựng Nhà nước trong sạch, hiệu quả (13)
    • II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC (16)
      • 2.1. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh hiện nay (16)
      • 2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay (17)
        • 2.2.1. Về ưu điểm (17)
      • 3.2. Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay (23)
        • 3.2.1. Cần nhận thức về cán bộ, công chức cả về khái niệm, vị trí, vai trò và những yêu cầu xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ (23)
        • 3.2.2. Chấn chỉnh công tác lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác cán bộ (24)
        • 3.2.3. Phát triển cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền (25)
        • 3.2.4. Đề cao vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ (25)
        • 3.2.5. Coi trọng công tác tham mưu, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ (26)
      • 3.2. Giải pháp tiếp tục xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh.23 3.3. Vai trò của thanh niên, sinh viên trong công cuộc xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh hiện nay (26)
  • PHẦN III: KẾT LUẬN (31)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH VỮNG MẠNH 2 1 1 Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước pháp quyền 2 1 1 1 Tư tưởng Hồ Chí Minh. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH VỮNG MẠNH21.1. Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước pháp quyền21.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân21.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước31.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật:41.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh61.2.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài61.2.2. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước81.2.3. Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật101.2.4. Xây dựng Nhà nước trong sạch, hiệu quả11II. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC132.1. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh hiện nay132.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay152.2.1. Về ưu điểm152.2.2 Về hạn chế, yếu kém17III. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY203.2. Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay203.2.1. Cần nhận thức về cán bộ, công chức cả về khái niệm, vị trí, vai trò và những yêu cầu xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ203.2.2. Chấn chỉnh công tác lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác cán bộ213.2.3. Phát triển cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ, ngăn chặn tình trạng chạy chức, chạy quyền223.2.4. Đề cao vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ233.2.5. Coi trọng công tác tham mưu, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác tổ chức, cán bộ233.2. Giải pháp tiếp tục xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh233.3. Vai trò của thanh niên, sinh viên trong công cuộc xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh hiện nay26PHẦN III: KẾT LUẬN28TÀI LIỆU THAM KHẢO29  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Việc vận dụng tư tưởng của Người vào công tác xây dựng nhà nước hiện nay sẽ góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng Đảng Việt Nam giàu mạnh. Xây dựng Đảng chính là yêu cầu để Đảng tồn tại và phát triển.Trong Bài nói tại lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương (ngày 1151952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hóa khá nặng. Từ đó có thể thấy, xây dựng Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên tự rèn luyện, giáo dục và tu dưỡng, ngày một tiến bộ hơn, trở thành người cách mạng chân chính.Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này, cần nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước trong bối cảnh hiện nay. Do đó qua quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh và phương hướng vận dụng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay.” Để có cái nhìn sâu và rộng hơn. PHẦN II: NỘI DUNGI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TRONG SẠCH VỮNG MẠNH1.1. Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước pháp quyền1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dânTrong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố một nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân. Các tư tưởng Hồ Chủ Tịch về Nhà nước thật sự to lớn, sâu sắc không chỉ được thể hiện trong các bài viết, các bài phát biểu, trong các văn kiện quan trọng do Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng và ban hành mà cả trong hành động thực tiễn của Người trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân, không chỉ do dân lập ra thông qua bầu cử dân chủ mà còn là nhà nước chịu sự kiểm tra, giám sát, định đoạt của nhân dân. Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân”. “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình” . Người nhắc nhở: “Nước ta là nước dân chủ; địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân” . Người còn viết: “Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? là đầy tớ của dân từ Chủ tịch toàn quốc đến Đảng – Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là nguồn sức mạnh của Nhà nước, là nguồn trí tuệ của Nhà nước, là nguồn sáng kiến vô tận, nhà nước có chức năng khơi nguồn, phát hiện, tiếp thu và hoàn thiện các sáng kiến của nhân dân để xây dựng chính sách và luật pháp. Một nhà nước của dân, do dân, vì dân theo Hồ Chí Minh là một nhà nước nếu biết lắng nghe và học hỏi nhân dân, biết tôn trọng bồi dưỡng và nâng cao sức dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân thì sẽ thấy nhân dân không chỉ nói lên những mong muốn của mình mà còn chỉ ra được nhà nước cần phải hành động như thế nào để giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh. Chính vì lẽ đó Nhà nước được thành lập không vì mục đích làm thay cho dân, mà thực hiện vai trò người cầm lái, người tổ chức để nhân dân bằng trí tuệ, sức mạnh của mình giải quyết các vấn đề của chính mình. Người viết: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối” . Nhà nước của dân, do dân không có mục đích tự thân, ý nghĩa, mục tiêu và sứ mệnh của Nhà nước là phụng sự hạnh phúc của nhân dân, vì nhân dân. Vì lẽ đó Hồ Chủ Tịch cho rằng “… 1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nướcCách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, mở đầu một chính thể nhà nước mới ở Việt Nam: chính thể dân chủ cộng hoà. Sự ra đời của chính thể dân chủ cộng hoà thể hiện một tư duy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước, vừa tiếp thu được các giá trị phổ biến của nền dân chủ nhân loại, vừa phù hợp với các đặc điểm của đất nước.Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện pháp lý quan trọng của đất nước do chính Người chỉ đạo xây dựng và ban hành. Có thể thấy rằng hai bản Hiến pháp 1946, 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và 613 sắc lệnh kể từ 1945 đến 1969, trong đó có 243 sắc lệnh liên quan đến bộ máy nhà nước và luật pháp do Người ký ban hành đã hình thành một thể chế bộ máy nhà nước vừa hiện đại vừa dân tộc kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.Tuy không tiếp nhận tư tưởng phân quyền vốn là nền tảng lý luận của mô hình nhà nước dân chủ phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa vào mô hình tổ chức bộ máy nhà nước những yếu tố hợp lý và khoa học của nguyên tắc phân quyền. Theo đó, bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946 được thiết kế trên cơ sở phân chia quyền lực uyển chuyển giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước này, không có một cơ quan nào là độc quyền quyền lực, có quyền đứng trên cơ quan khác. 1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật:Tiếp xúc với nền văn minh Âu Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại.Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vai trò của chúng trong điều hành và quản lý xã hội. Năm 1919, tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người.Nét đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước là các cơ quan nhà nước hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật nhưng trong điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến ở phương Đông, Hồ Chí Minh sử dụng linh hoạt pháp trị và đức trị trong tổ chức hoạt động của Nhà nước và quản lý nhà nước.Cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm và nghiêm minh. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ “gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần chúng mà mình tham gia”. Trong việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật, cán bộ làm công tác tư pháp có vai trò quan trọng. Họ chính là người trực tiếp thực thi luật pháp, đại diện cụ thể cho “cán cân công lý”. Vì thế, Hồ Chí Minh yêu cầu ở họ phải có phẩm chất đạo đức cần thiết: Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch như thế cũng chưa đủ vì không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung toà án mà còn phải gần dân, giúp dân, học dân, hiểu dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng, trong sạch. Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người. Tư tưởng pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ, công chức của Người thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Vì thế, kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong tổ chức nhà nước của Hồ Chí Minh có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc.Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta trong mỗi giai đoạn sau này đã có không ít những thay đổi về mô hình bộ máy dưới tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, nhưng xuyên suốt mạch phát triển ấy vẫn là tư tưởng của Hồ Chí Minh về một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Ngày nay, trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, dưới tác động mạnh mẽ của thời đại và thế giới, trong xu thế toàn cầu hoá, nhiều điểm đã thay đổi, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục định hướng cho các nỗ lực nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp đổi mới mô hình bộ máy nhà nước trong các điều kiện phát triển mới.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh1.2.1. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tàiChủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đề cao vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức. Người coi cán bộ nói chung “là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Nói một cách tổng quát nhất về yêu cầu đối với đội ngũ này, theo Hồ Chí Minh, đó là những người vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc; đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý, có hiệu quả.Đi vào những mặt cụ thể, Hồ Chí Minh nêu lên những yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.Một là, tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên cần có đối với đội ngũ cán bộ, công chức.Cán bộ, công chức phải là những người kiên cường bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước. Hồ Chí Minh nhấn mạnh lòng trung thành đó không phải là những điều trừu tượng, chung chung, mà phải được thể hiện hằng ngày, hằng giờ, trong mọi lĩnh vực công tác, thể hiện trong kết quả thực tế công tác. Lòng trung thành đó thể hiện đặc biệt rõ trong những lúc đất nước gặp khó khăn, thử thách, chuyển giai đoạn.Hai là, hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ.Chỉ với lòng nhiệt tình thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà không xây được cái tốt, cái mới. Yêu cầu tối thiểu là đội ngũ cán bộ, công chức phải hiểu biết công việc của mình, biết quản lý nhà nước, do vậy, phải được đào tao và tự mình phải luôn luôn học hỏi. Đó là tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức. Công chức phải chuyên sâu nghiệp vụ, phải luôn luôn học tập không ngừng nghỉ, học mọi lúc, mọi nơi, học tập suốt đời. Hồ Chí Minh chính là con người điển hình của tự học. Người tự học những kiến thức về nhà nước trong cả cuộc đời mình.Ba là, phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân.Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa đội ngũ cán bộ, công chức với nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức là những người hưởng lương từ nguồn ngân sách nhà nước do dân đóng góp. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi cán bộ, công chức không được lãng phí của công; phải sẵn sàng phục vụ nhân dân, luôn luôn nêu cao đạo đức cách mạng, sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân mình cho Tổ quốc, lấy phục vụ quyền lợi chính đáng của nhân dân làm mục tiêu cho hoạt động của mình.Đặc biệt, phải chống bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, phải luôn luôn gần dân, hiểu dân và vì dân. Cán bộ, công chức xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền… đối với nhân dân đều dẫn đến nguy cơ làm suy yếu Nhà nước, thậm chí làm biến chất Nhà nước vì đã phạm một điều có tính chất cốt tử của cấu tạo quyền lực nhà nước là tất cả mọi quyền lực thuộc về nhân dân.Bốn là, cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”. Đó là những người có ý thức sẵn sàng làm “công bộc”, làm “đày tớ”, phục vụ tận tuỵ nhân dân, những người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm việc với tinh thần đầy sáng tạo. Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, công chức phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn luôn “có chí tiến thủ”, luôn luôn học tập đế nâng cao trình độ về mọi mặt, học ở trường, học ở trong cuộc sống, trong công tác, học ở thầy, học ở bạn.Năm là, phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, luôn luôn có ý thức và hành động vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước. Với chức trách là những người phục vụ nhân dân, thì cán bộ, công chức phải tận tuy, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Muốn vậy, theo Hồ Chí Minh cán bộ, công chức phải thường xuyên tự phê bình và phê bình để giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực công tác. Đồng thời, cán bộ, công chức phải chăm lo xây dựng bộ máy nhà nước để nhà nước đúng là nhà nước của dân, do dân, vì dân.1.2.2. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước

NỘI DUNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC

TRONG SẠCH VỮNG MẠNH 1.1 Tư tưởng hồ chí minh về xây dựng nhà nước pháp quyền

1.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật đóng vai trò cực kỳ quan trọng, góp phần xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền, do dân, vì dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thể hiện sự sâu sắc và toàn diện qua các bài viết, phát biểu, văn kiện quan trọng do Người trực tiếp soạn thảo Đồng thời, những hành động thực tiễn của Người trong vai trò là lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước đã minh chứng rõ nét cho tầm nhìn và sứ mệnh xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân không chỉ do nhân dân bầu cử để thành lập mà còn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân nhằm đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân Người nhấn mạnh rằng: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân,” khẳng định quyền của nhân dân trong việc đôn đốc và phê bình chính phủ để chính phủ hướng tới mục đích phục vụ nhân dân mọi lúc, mọi nơi.

Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân, qua đó thể hiện nguyên tắc kiểm soát quyền lực của nhân dân đối với các đại biểu của mình Nước ta là một nước dân chủ, nơi địa vị cao nhất thuộc về nhân dân, vì dân là chủ, và mọi thành phần trong bộ máy nhà nước đều làm đầy tớ cho nhân dân từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước Chính phủ cộng hòa dân chủ là chính phủ của dân, do dân và vì dân, trong đó các cán bộ từ Chủ tịch toàn quốc đến Đảng đều phải làm đầy tớ trung thành của nhân dân; nếu chính phủ làm hại dân, thì nhân dân có quyền đuổi chính phủ đó.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là nguồn sức mạnh và trí tuệ vô tận của Nhà nước, đồng thời là nguồn sáng kiến quan trọng Nhà nước có chức năng khơi nguồn, phát hiện, tiếp thu và hoàn thiện các sáng kiến của nhân dân để xây dựng chính sách và luật pháp phù hợp, hướng tới nền móng vững chắc của dân giàu, nước mạnh.

Một nhà nước của dân, do dân, vì dân theo Hồ Chí Minh là nhà nước biết lắng nghe và học hỏi nhân dân, tôn trọng và nâng cao sức dân để hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân, từ đó nhân dân không chỉ thể hiện mong muốn mà còn chỉ ra hành động cần thiết của nhà nước để giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh Nhà nước không nhằm thay dân mà đóng vai trò người cầm lái, tổ chức để nhân dân dùng trí tuệ và sức mạnh tự giải quyết các khó khăn của chính mình Chính phủ và nhân dân cần đoàn kết thành một mặt trận, vì nếu không có nhân dân, chính phủ không đủ lực lượng, và nếu không có chính phủ, nhân dân không có người dẫn đường, do đó sự hợp tác, gắn bó giữa hai bên là cần thiết để phục vụ hạnh phúc của nhân dân Hồ Chủ Tịch nhấn mạnh rằng mục đích, ý nghĩa và sứ mệnh của nhà nước là phụng sự hạnh phúc của nhân dân, vì nhân dân, vì lợi ích của toàn thể quốc gia.

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình tổ chức bộ máy nhà nước

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, đánh dấu sự thành lập của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở ra chính thể dân chủ cộng hòa mới tại Việt Nam Sự ra đời của chính thể này thể hiện tư duy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước, vừa tiếp thu các giá trị phổ biến của nền dân chủ nhân loại, vừa phù hợp với đặc điểm riêng của đất nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân thể hiện rõ nét qua các văn kiện pháp lý quan trọng do chính Người chỉ đạo xây dựng và ban hành Từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh đã ký ban hành 613 sắc lệnh, trong đó có 243 sắc lệnh liên quan đến tổ chức và luật pháp nhà nước, góp phần hình thành một thể chế hiện đại, dân tộc và phản ánh sâu sắc tư tưởng về một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân.

Mặc dù tư tưởng phân quyền là nền tảng trong lý luận của mô hình nhà nước dân chủ phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh đã tích hợp các yếu tố hợp lý và khoa học của nguyên tắc phân quyền vào mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam Theo Hiến pháp 1946, bộ máy nhà nước được thiết kế dựa trên nguyên tắc phân chia quyền lực linh hoạt giữa các cơ quan, nhằm đảm bảo sự cân bằng và kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong mô hình này, không có cơ quan nào giữ độc quyền quyền lực hay có quyền vượt trội so với các cơ quan khác, thúc đẩy sự phân chia quyền lực hợp lý và hiệu quả.

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật:

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, đặc biệt là kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của nhà nước trong quản lý xã hội, cho thấy quản lý xã hội bằng pháp luật là yếu tố then chốt thúc đẩy nền dân chủ, tiến bộ và phù hợp với các xã hội hiện đại.

Hồ Chí Minh nhận thức rõ vai trò quan trọng của luật pháp trong quản lý xã hội từ rất sớm Năm 1919, ông đề cập đến tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc-xây, trong đó có bốn điểm nhấn mạnh về vấn đề pháp quyền Điều này cho thấy tầm quan trọng của pháp luật và công lý trong việc bảo vệ quyền con người và xây dựng xã hội công bằng.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng các cơ quan nhà nước cần hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật để đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước Trong điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến ở phương Đông, Người linh hoạt kết hợp pháp trị và đức trị trong tổ chức và điều hành nhà nước, vừa tuân thủ pháp luật vừa đề cao đạo đức để xây dựng một nền hành chính vững mạnh Tư tưởng này thể hiện sự sáng tạo trong phương pháp quản lý, phù hợp với đặc thù lịch sử và văn hóa của đất nước, góp phần xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Cán bộ trực tiếp thi hành pháp luật phải công tâm và nghiêm minh, đáp ứng yêu cầu của Hồ Chí Minh về việc gương mẫu chấp hành pháp luật và kỷ luật của các tổ chức cách mạng Vai trò của cán bộ tư pháp rất quan trọng trong việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật, vì họ là người trực tiếp thi hành luật pháp và đại diện cho "cán cân công lý" Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng cán bộ cần có phẩm chất đạo đức cao, trong đó xử lý án phải công bằng, liêm khiết và trong sạch; đồng thời, cán bộ cũng phải gần dân, giúp dân, hiểu dân để nâng cao phẩm chất liêm khiết, công bằng và trong sạch trong công tác tư pháp.

Hồ Chí Minh xem pháp luật không chỉ để trừng trị mà còn là công cụ bảo vệ và đảm bảo lợi ích của con người Tư tưởng pháp quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước của Người phản ánh lòng yêu thương nhân dân, chăm lo cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, và truyền tải giá trị nhân ái, đạo lý truyền thống của dân tộc Việt Nam Việc kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong tổ chức nhà nước của Hồ Chí Minh mang ý nghĩa triết lý sâu sắc, đậm đà tính dân tộc và dân chủ, góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền mang tinh thần nhân văn.

Quá trình xây dựng và phát triển của Nhà nước ta qua các giai đoạn đã chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, dẫn đến những thay đổi về mô hình bộ máy nhà nước Tuy nhiên, tư tưởng của Hồ Chí Minh về một chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt, của nhân dân vẫn là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình này Trong bối cảnh phát triển đất nước theo xu thế toàn cầu hoá, các nguyên tắc do dân, vì dân vẫn giữ nguyên giá trị, định hướng cho các nỗ lực đổi mới mô hình bộ máy nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước.

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh

1.2.1 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ đức và tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức trong sự nghiệp cách mạng Người coi cán bộ là "cái gốc của mọi công việc", nhấn mạnh tầm ảnh hưởng và trách nhiệm của họ trong việc xây dựng và phát triển đất nước Việc xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực là yếu tố then chốt để đảm bảo thành công của các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước.

THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC

CHỦ NGHĨA VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC 2.1 Một số vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh hiện nay

Sự ổn định và phát triển bền vững của một chế độ chính trị phụ thuộc vào nhiều nhân tố: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại Chế độ chính trị ở nước ta hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là chế độ nhất nguyên chính trị, do nhân dân làm chủ. Đảng vừa là hạt nhân của hệ thống chính trị, vừa là người lãnh đạo hệ thống chính trị, là tổ chức nòng cốt của chế độ chính trị, vừa là lực lượng lãnh đạo chế độ chính trị Đảng là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (Hiến pháp năm 2013) Chính vì vậy, sự tồn tại và phát triển của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở nước ta hiện nay và lâu dài.

Trong những năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được,đất nước ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp Công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn;tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước” Những khuyết điểm này mang tính chất tương đối phổ biến (“một bộ phận không nhỏ”) ở nhiều ngành, nhiều cấp,trong đó có cả một số cán bộ cao cấp, khuyết điểm này kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục Những khuyết điểm đó rõ ràng là rất nghiêm trọng đối với một đảng có truyền thống cách mạng trên 86 năm như Đảng ta,gây tác hại lớn và lâu dài với Đảng và chế độ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, làm cho Đảng dần xa rời bản chất cách mạng và khoa học của một đảng cộng sản chân chính nếu không có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu Những khuyết điểm nêu trên, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra, “làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ” Do vậy, nếu không ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong Đảng, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì không những không duy trì được sự tồn tại của Đảng mà cả chế độ xã hội chủ nghĩa cũng không còn.

2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được nâng lên, cơ cấu hợp lý hơn

Hội nghị Trung ương 7, khóa XII đã đánh giá rằng sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII về Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành và phát triển vượt bậc về nhiều mặt, nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác ngày càng cân đối, hợp lý hơn; nguồn cán bộ quy hoạch phong phú, đảm bảo sự chuyển tiếp giữa các thế hệ một cách ổn định và bền vững.

Đội ngũ cán bộ có lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức và lối sống giản dị, gương mẫu, luôn tu dưỡng và rèn luyện để nâng cao trình độ và năng lực, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Nhiều cán bộ năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng linh hoạt với xu thế hội nhập quốc tế Cán bộ cấp chiến lược giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và lý tưởng độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội; đồng thời có tư duy đổi mới, khả năng hoạch định chủ trương, chính sách, và lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện thành công các nhiệm vụ quan trọng.

Đội ngũ cán bộ, công chức tại các bộ, ngành, cơ quan chuyên môn ngày càng nâng cao về trình độ và hiệu quả công tác nhờ vào công tác đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch hàng năm Các kỳ thi nâng ngạch thường xuyên được tổ chức, giúp tăng số lượng chuyên viên cao cấp và chuyên viên chính trong hệ thống, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việc tuyển dụng, bổ nhiệm, quy hoạch và luân chuyển cán bộ, công chức phù hợp với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực sở trường giúp đổi mới cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và bộ máy hành chính nhà nước ngày càng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động Đại hội XII khẳng định tiếp tục kiện toàn tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội theo yêu cầu và nhiệm vụ mới Việc phân định, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị được thực hiện phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp công tác Chỉ đạo thí điểm một số mô hình đổi mới về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương giúp tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương Đồng thời, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được nâng lên từng bước, đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới.

Năm 2018, ngành trung ương đã thực hiện giảm 7 tổng cục, 202 đơn vị cấp vụ và cục, hơn 14.800 đơn vị cấp phòng, đồng thời cắt giảm 11 lãnh đạo tổng cục, 178 lãnh đạo cấp vụ cục, và 881 lãnh đạo cấp phòng nhằm tinh gọn bộ máy tổ chức Đợt giảm biên chế này đã tạo ra sự restructuring mạnh mẽ, giảm tổng cộng 933 biên chế để nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ.

Thứ ba, công tác quản lý cán bộ, công chức có nhiều đổi mới, tiến bộ

Trong giai đoạn 2011-2016, việc quản lý biên chế công chức và viên chức được thực hiện thống nhất trên toàn quốc theo các quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010, cùng với các luật tổ chức Chính phủ và Hội đồng nhân dân như Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001, 2015 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý biên chế, tuyển dụng và sử dụng công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị Tổng biên chế công chức của các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến cấp huyện có xu hướng giảm nhẹ, đặc biệt trong giai đoạn 2014-2016 với trung bình mỗi năm giảm hơn 4.000 biên chế và tiếp tục giảm trong năm 2017 Đa số các bộ, ngành, địa phương đều chấp hành tốt các quy định pháp luật, thực hiện quản lý, sử dụng đúng hoặc ít hơn số biên chế được giao; điển hình là có 12/15 bộ, cơ quan ngang bộ sử dụng đúng hoặc không sử dụng hết biên chế tại các tổng cục, và 13/15 cơ quan dư biên chế, trong đó một số bộ, ngành còn tồn dư lượng biên chế khá lớn.

2.2.2 Về hạn chế, yếu kém

Một là, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, cơ cấu cán bộ công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) nhấn mạnh rằng đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa thực sự mạnh, với tình trạng dư thừa, thiếu hụt diễn ra ở nhiều nơi và sự liên thông giữa các cấp, ngành còn hạn chế Tỉ lệ cán bộ trẻ, nữ, người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu đề ra, đồng thời thiếu những nhà lãnh đạo, quản lý xuất sắc, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành Năng lực của cán bộ cấp cao còn thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc quốc tế còn nhiều hạn chế.

Việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức đã dựa trên yêu cầu của vị trí công việc, tuy nhiên, cơ cấu nhân lực trong nhiều bộ, ngành của tỉnh chưa hợp lý, còn biểu hiện thái độ bị động và thiếu đồng bộ giữa các thế hệ cán bộ Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, tỷ lệ chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp và các vị trí tương đương còn thấp, bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia đầu ngành còn ít, chưa đáp ứng đủ năng lực tham mưu cho Đảng và Nhà nước trong quá trình hội nhập quốc tế Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, tỷ lệ chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên chính và tương đương chiếm chưa đến 10% tổng số công chức, viên chức của Bộ và hệ thống thi hành án dân sự, chưa phù hợp với yêu cầu công việc Bên cạnh đó, vẫn còn bộ phận cán bộ công chức mang tư tưởng bao cấp, thiếu cạnh tranh, thiếu động lực làm việc, dẫn đến suy giảm đạo đức, có hành vi hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và lãng phí.

Cải cách hành chính vẫn còn chậm và thiếu đồng bộ, gây khó khăn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị Tổ chức bộ máy của chính quyền còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối, khiến quá trình đổi mới chậm lại và chưa đáp ứng được yêu cầu về hiệu quả hoạt động Thủ tục hành chính phức tạp và phiền hà là rào cản lớn đối với việc xây dựng môi trường xã hội và kinh doanh lành mạnh, minh bạch, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Hơn nữa, hoạt động của chính quyền địa phương còn chậm đổi mới, trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và phát triển cộng đồng.

Việc triển khai các nhiệm vụ cải cách tư pháp còn chậm, xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, oan sai, bỏ lọt tội phạm khiến hiệu quả không đạt yêu cầu Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội đi đôi với tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức vẫn còn hạn chế, số lượng cán bộ không giảm mà còn tăng, đặc biệt tại các đơn vị sự nghiệp công lập và cấp xã, phường, thị trấn Đổi mới công tác cán bộ chưa mang lại đột phá rõ rệt; quá trình đánh giá cán bộ vẫn yếu kém qua nhiều nhiệm kỳ, thiếu tiêu chí cụ thể và giải pháp khoa học để khắc phục Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp chưa được kiểm soát triệt để, trong khi đội ngũ cán bộ cấp Trung ương và chiến lược chưa được tập trung xây dựng hiệu quả.

Ba là, công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, bất cập, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức

Trong công tác cán bộ, việc đánh giá vẫn còn yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, thiếu liên kết với kết quả cụ thể và dễ bị cảm tính, nể nang hoặc định kiến Quy hoạch cán bộ chưa mang tính toàn diện, liên thông giữa các cấp, ngành và địa phương, còn dàn trải và chưa mở, gây thiếu tính động và linh hoạt Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới, thiếu liên kết giữa lý luận và thực tiễn, chưa phù hợp với quy hoạch và chức danh Việc luân chuyển cán bộ và bố trí cán bộ không địa phương còn bất cập, đặc biệt là trong giới thiệu, bổ nhiệm còn thiếu chính xác và phù hợp Một số nơi xảy ra tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, tiêu cực, gây bức xúc xã hội Quá trình tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức viên chức còn hạn chế về chất lượng, thiếu đồng đều và có thể xảy ra sai phạm, tiêu cực Chính sách thu hút nhân tài chưa được triển khai bài bản, dẫn đến kết quả chưa đạt yêu cầu trong thu hút trí thức và người có trình độ cao Chính sách cán bộ chưa thống nhất giữa các cấp, ngành; chính sách về lương, nhà ở và thi đua khen thưởng chưa thực sự tạo động lực thúc đẩy cán bộ toàn tâm, toàn ý cống hiến.

Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa đi vào thực chất, không theo đúng quy định và chưa đạt mục tiêu đề ra.

Chủ trương tinh giản biên chế là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được Chính phủ chỉ đạo thống nhất, đồng bộ trên toàn quốc, tạo nền tảng quan trọng để xác định và quản lý biên chế công chức Các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức triển khai quán triệt nội dung tinh giản theo các nghị quyết, nghị định, quyết định liên quan, đồng thời tiến hành rà soát, đánh giá, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động để xác định số lượng cần giữ lại lâu dài và những người cần tinh giản Tuy nhiên, kết quả đạt được tính đến hết năm 2016 mới chỉ là bước đầu, chưa thực chất, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra Đặc biệt, nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn chưa phê duyệt kế hoạch tinh giản biên chế phù hợp với quy định của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP.

2015 - 2021 và của từng năm, dẫn đến tình trạng đề xuất tinh giản biên chế không theo quy định (định kỳ 2 lần/năm)…

Việc quản lý cán bộ, công chức ở một số bộ ngành, địa phương thiếu thống nhất, thiếu tập trung.

Việc xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm tại các bộ, ngành, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc theo quy định, dẫn đến tình trạng sử dụng số biên chế không đúng quy chuẩn Một số bộ, ngành, địa phương vẫn còn sử dụng nhiều hơn số biên chế được giao, gây mất cân đối về lao động; trong khi đó, nhiều đơn vị khác lại sử dụng đúng hoặc ít hơn so với số biên chế phân bổ Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến cuối năm 2016, có 3/15 bộ có tổng cục sử dụng vượt quá số biên chế được giao, và 2/15 bộ tại các vụ, cục trực thuộc cũng sử dụng nhiều hơn mức phân bổ Tại các địa phương, việc sử dụng vượt quá số biên chế được giao vẫn còn xảy ra ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, gây ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và phân bổ nhân lực.

III PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC

PHÁP QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY 3.2 Phương hướng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Việt Nam hiện nay

3.2.1 Cần nhận thức về cán bộ, công chức cả về khái niệm, vị trí, vai trò và những yêu cầu xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ

Ngày đăng: 20/03/2023, 05:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(8) Trần Đại Quang, “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước phápquyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 1, tr. 469 Khác
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 202 Khác
(3) C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t. 20, tr. 389 - 390 Khác
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 70 Khác
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 284 – 285 Khác
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr. 195 (7) Lương Đình Hải, Xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hoá xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1 (176), tháng 1- 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w