1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết dân tộc và vấn đề nêu cao tinh thần đọc lập tự chủ, tự lực tự cường trong thời kỳ hội nhập

28 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết dân tộc và vấn đề nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong thời kỳ hội nhập
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Đảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 65,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ TỰ LỰC TỰ CƯỜNG 2 1 1 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 2 1 1 1 Vai trò của đại đoàn kết dân. MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ TỰ LỰC TỰ CƯỜNG21.1. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc21.1.1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộc21.1.2. Lực lượng của đại đoàn kết dân tộc31.1.3. Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc41.1.4. Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc61.1.5. Phương thức thực hiện đại đoàn kết dân tộc71.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ81.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường101.3.1. Hồ Chí Minh coi tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do và là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ, vị thế ngoại giao.101.3.2. Hồ Chí Minh khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.111.3.3. Hồ Chí Minh cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân.121.3.4. Hồ Chí Minh khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường hoàn toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trên nguyên tắc lấy nội lực làm nhân tố quyết định14II. THỰC TRẠNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NÊU CAO TINH THẦN ĐỘC LẬP TỰ CHỦ, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG142.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong thời kỳ hội nhập142.2. Một số điểm mạnh và hạn chế trong công tác vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường162.2.1. Điểm đạt được162.2.2. Một số khó khăn tồn tại18III. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC NÂNG CAO TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, TỰ LỰC193.1. Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khối đại đoàn kết theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh193.1.1. Chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc.193.1.2. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại203.1.3. Ý chí tự lực, tự cường trong công cuộc đổi mới phải được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực203.2. Trách nhiệm bản thân trong phát huy đại đoàn kết dân tộc, nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực22KẾT LUẬN24TÀI LIỆU THAM KHẢO25  MỞ ĐẦUĐại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Truyền thống đó được hun đúc, hình thành và phát triển bởi tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, để xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam ngày càng cường thịnh. Thực hiện đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta. Đảng ta khẳng định, mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải phản ánh được nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số dân chúng để có thể tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng cho cách mạng. Ngay từ khi Đảng ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất để quy tụ mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tùy từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã xây dựng các tổ chức: Hội Phản đế đồng minh (năm 1930); Mặt trận Dân chủ (năm 1936); Mặt trận Nhân dân phản đế (năm 1939); Mặt trận Việt Minh (năm 1941);… Đảng Cộng sản là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng là thành viên lãnh đạo Mặt trận. Vì vậy, Đảng là linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc. Cho nên, Đảng phải có chính sách đúng đắn và có năng lực lãnh đạo thì mới giành được địa vị lãnh đạo Mặt trận. Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách Mặt trận đúng đắn. Đảng cần tuyên truyền, giáo dục, nêu gương, lấy lòng chân thành để đối xử, cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, tự nguyện, tôn trọng các tổ chức, lắng nghe ý kiến người ngoài Đảng… Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí, bởi sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí. Đó là lý do tác giả chọn đề tài : “Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và vấn đề nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong thời kỳ hội nhậpNỘI DUNGI. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ TỰ LỰC TỰ CƯỜNG1.1. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 1.1.1. Vai trò của đại đoàn kết dân tộcĐại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng Hồ Chí Minh cho rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước đã không đoàn kết được thành một khối thống nhất. Người thấy rằng, muốn đưa cách mạng đến thành công phải có lực lượng cách mạng đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng thành công xã hội mới; muốn có lực lượng cách mạng mạnh phải thực hiện đại đoàn kết, quy tụ mọi lực lượng cách mạng thành một khối vững chắc. Do đó, đoàn kết trở thành vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng, là nhân tố bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng. Hồ Chí Minh đi đến kết luận: muốn được giải phóng, các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh cách mạng, bằng cách mạng vô sản. Người đã vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về cách mạng vô sản vào thực tiễn Việt Nam, xây dựng lý luận cách mạng thuộc địa, trong đó Người quan tâm nhiều đến vấn đề lực lượng cách mạng và phương pháp cách mạng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng. Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều luận điểm về vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế: Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công; Đoàn kết là điểm mẹ; điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt; Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công. Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quan điểm coi sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của nhân dân: Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong. Đồng thời, Người lưu ý rằng, nhân dân bao gồm nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, nhiều tầng lớp, giai cấp, nhiều dân tộc, tôn giáo, do đó phải đoàn kết nhân dân vào trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Để làm được việc đó, Người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải có chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp với các giai cấp, tầng lớp, trên cơ sở lấy lợi ích chung của Tổ quốc và những quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động, làm mẫu số chung cho sự đoàn kết. 1.1.2. Lực lượng của đại đoàn kết dân tộc Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm Dân, có nội hàm rất rộng. Người dùng các khái niệm này để chỉ mọi con dân nước Việt, con Rồng cháu Tiên, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu, nghèo. Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nêu rõ: Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ. Với tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng, bao gồm mọi giai cấp, dân tộc, tôn giáo.Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêu nước nhân nghĩa đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng với con người. Người đã nhiều lần nhắc nhở: Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ. Để thực hiện được đoàn kết, Người còn căn dặn: Cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có lập trường giai cấp rõ ràng, đó là đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là khối liên minh công nông trí thức do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn như vậy, thì phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo nên cái nền tảng đó. Người đã chỉ rõ: Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Người coi công nông cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất. Về sau, Người nêu thêm: lấy liên minh công nông lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc. 1.1.3. Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộcChủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng để xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc cần phải dựa trên các nguyên tắc, đó là:Thứ nhất, phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia, dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội.Trong mỗi quốc gia dân tộc bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp, giai cấp khác nhau. Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác nhau nhưng tất cả các lợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích dân tộc. Quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào dân tộc đó có được độc lập tự do, có đoàn kết hay không và việc nhận thức, giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích đó như thế nào.Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp đến mức thấp nhất những yếu tố khác biệt, mâu thuẫn và Người bao giờ cũng tìm ra những yếu tố của đoàn kết dân tộc thay cho sự đào sâu tách biệt, thực hiện sự quy tụ thay cho việc loại trừ những yếu tố khác nhau về lợi ích.Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh để Người tìm ra những phương pháp để thực hiện nguyên tắc đó trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình. Thứ hai, tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dânĐây là nguyên tắc xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của ông cha ta được Người kế thừa và nâng lên một bước trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử.Tin vào dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tin tưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của nhân dân, phải đánh giá đúng vai trò của lực lượng nhân dân. Người viết “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”.Thứ ba, đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ

Trang 1

MỤC LỤ

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ TỰ LỰC TỰ CƯỜNG 2

1.1 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 2

1.1.1 Vai trò của đại đoàn kết dân tộc 2

1.1.2 Lực lượng của đại đoàn kết dân tộc 3

1.1.3 Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 4

1.1.4 Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc 6

1.1.5 Phương thức thực hiện đại đoàn kết dân tộc 7

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ 8

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường 10

1.3.1 Hồ Chí Minh coi tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do và là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ, vị thế ngoại giao 10

1.3.2 Hồ Chí Minh khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử 11

1.3.3 Hồ Chí Minh cho rằng tinh thần tự lực tự cường của dân tộc phải được xây đắp bằng ý chí tự lực tự cường, tự lực cánh sinh của mỗi cá nhân 12

Trang 2

1.3.4 Hồ Chí Minh khẳng định việc phát huy tinh thần tự lực, tự cườnghoàn toàn không loại trừ việc tranh thủ sự giúp đỡ của thế giới trênnguyên tắc lấy nội lực làm nhân tố quyết định 14

II THỰC TRẠNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NÊU CAO TINH THẦN ĐỘC LẬP TỰ CHỦ, TỰ LỰC TỰ CƯỜNG 14 2.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong thời kỳ hội nhập 14 2.2 Một số điểm mạnh và hạn chế trong công tác vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc nêu cao tinh thần độc lập tự chủ,

tự lực tự cường 16

2.2.1 Điểm đạt được 162.2.2 Một số khó khăn tồn tại 18

III NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC NÂNG CAO TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, TỰ LỰC 19 3.1 Phát huy ý chí tự lực, tự cường và khối đại đoàn kết theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh 19

3.1.1 Chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững vàphát huy bản sắc dân tộc 193.1.2 Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại 203.1.3 Ý chí tự lực, tự cường trong công cuộc đổi mới phải được thể hiệntrong tất cả các lĩnh vực 20

3.2 Trách nhiệm bản thân trong phát huy đại đoàn kết dân tộc, nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực 22 KẾT LUẬN 24

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 4

MỞ ĐẦU

Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnhcủa dân tộc Việt Nam Truyền thống đó được hun đúc, hình thành và phát triểnbởi tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta trải qua hàng nghìnnăm dựng nước và giữ nước, chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, để xây dựngnên Tổ quốc Việt Nam ngày càng cường thịnh Thực hiện đại đoàn kết dân tộc

là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng nước ta Đảng ta khẳng định,mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải phản ánhđược nguyện vọng, quyền lợi của đại đa số dân chúng để có thể tập hợp, đoànkết mọi lực lượng cho cách mạng

Ngay từ khi Đảng ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập trung xây dựngMặt trận Dân tộc thống nhất để quy tụ mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước Tùy từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã xây dựng các tổ chức: HộiPhản đế đồng minh (năm 1930); Mặt trận Dân chủ (năm 1936); Mặt trận Nhândân phản đế (năm 1939); Mặt trận Việt Minh (năm 1941);… Đảng Cộng sản làthành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng là thành viên lãnh đạo Mặttrận Vì vậy, Đảng là linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc Cho nên, Đảngphải có chính sách đúng đắn và có năng lực lãnh đạo thì mới giành được địa vịlãnh đạo Mặt trận Đảng lãnh đạo Mặt trận bằng việc xác định chính sách Mặttrận đúng đắn Đảng cần tuyên truyền, giáo dục, nêu gương, lấy lòng chân thành

để đối xử, cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, tự nguyện, tôn trọng các tổ chức,lắng nghe ý kiến người ngoài Đảng… Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí, bởisức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí Đó là lý do tác giả chọn đề tài :

“Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và vấn đề nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường trong thời kỳ hội nhập"

Trang 5

NỘI DUNG

I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ

TỰ LỰC TỰ CƯỜNG 1.1 Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

1.1.1 Vai trò của đại đoàn kết dân tộc

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cáchmạng Hồ Chí Minh cho rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta cuối thế

kỷ XIX, đầu thế kỷ XX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là cả nước đãkhông đoàn kết được thành một khối thống nhất Người thấy rằng, muốn đưacách mạng đến thành công phải có lực lượng cách mạng đủ mạnh để chiến thắng

kẻ thù và xây dựng thành công xã hội mới; muốn có lực lượng cách mạng mạnhphải thực hiện đại đoàn kết, quy tụ mọi lực lượng cách mạng thành một khốivững chắc Do đó, đoàn kết trở thành vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng,

là nhân tố bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng

Hồ Chí Minh đi đến kết luận: muốn được giải phóng, các dân tộc bị áp bức vànhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh cách mạng, bằngcách mạng vô sản Người đã vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về cách mạng vô sản vào thực tiễn Việt Nam, xây dựng lý luận cách mạngthuộc địa, trong đó

Người quan tâm nhiều đến vấn đề lực lượng cách mạng và phương phápcách mạng Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiếtphải điều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp vớinhững đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Ngườinhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng

Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều luận điểm về vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kếtquốc tế: Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công; Đoàn kết là điểm

Trang 6

mẹ; điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt; Đoàn kết, đoàn kết, đạiđoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công

Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần quanđiểm coi sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của nhân dân: "Dễ trăm lầnkhông dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" Đồng thời, Người lưu ýrằng, nhân dân bao gồm nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, nhiều tầng lớp, giai cấp,nhiều dân tộc, tôn giáo, do đó phải đoàn kết nhân dân vào trong Mặt trận dân tộcthống nhất Để làm được việc đó, Người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải có chủtrương, chính sách đúng đắn, phù hợp với các giai cấp, tầng lớp, trên cơ sở lấylợi ích chung của Tổ quốc và những quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động,làm "mẫu số chung" cho sự đoàn kết

1.1.2 Lực lượng của đại đoàn kết dân tộc

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm Dân, có nội hàm rất rộng Ngườidùng các khái niệm này để chỉ "mọi con dân nước Việt", "con Rồng cháu Tiên",không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, người tín ngưỡng với ngườikhông tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ, gái trai, giàu, nghèo Nói đến đạiđoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi người dân vào một khốitrong cuộc đấu tranh chung Người đã nhiều lần nêu rõ: "Ta đoàn kết để đấutranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựngnước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhândân thì ta đoàn kết với họ" Với tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã dùng kháiniệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đoàn kết toàndân trong suốt tiến trình cách mạng, bao gồm mọi giai cấp, dân tộc, tôn giáo

Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thốngyêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độlượng với con người Người đã nhiều lần nhắc nhở: "Bất kỳ ai mà thật thà tánthành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây

Trang 7

chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ" Để thực hiệnđược đoàn kết, Người còn căn dặn: Cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần phải thậtthà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân

Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có lập trường giai cấp rõ ràng, đó

là đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là khối liên minh công - nông - trí thức doĐảng của giai cấp công nhân lãnh đạo Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dântộc rộng lớn như vậy, thì phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đại đoàn kếtdân tộc và những lực lượng nào tạo nên cái nền tảng đó Người đã chỉ rõ: Đạiđoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhândân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Ngườicoi công nông cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững,gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác "Lực lượng chủ yếu trongkhối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảngcủa Mặt trận dân tộc thống nhất Về sau, Người nêu thêm: lấy liên minh công -nông - lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân Nền tảngcàng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng được mở rộng,không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc

1.1.3 Điều kiện xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng để xây dựng được khối đại đoàn kết dântộc cần phải dựa trên các nguyên tắc, đó là:

Thứ nhất, phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốcgia, dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội

Trong mỗi quốc gia dân tộc bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp, giai cấpkhác nhau Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác nhau nhưng tất cả cáclợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích dân tộc Quyền lợi củacác tầng lớp, giai cấp có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào dân tộc

Trang 8

đó có được độc lập tự do, có đoàn kết hay không và việc nhận thức, giải quyếtđúng đắn các quan hệ lợi ích đó như thế nào.

Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trân trọng

và phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp đến mức thấp nhất những yếu tốkhác biệt, mâu thuẫn và Người bao giờ cũng tìm ra những yếu tố của đoàn kếtdân tộc thay cho sự đào sâu tách biệt, thực hiện sự quy tụ thay cho việc loại trừnhững yếu tố khác nhau về lợi ích

Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền vàtoàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do Lợi ích tối cao này là ngọn cờđoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạngViệt Nam Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh đểNgười tìm ra những phương pháp để thực hiện nguyên tắc đó trong chiến lượcđại đoàn kết dân tộc của mình

Thứ hai, tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dânĐây là nguyên tắc xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của ông cha tađược Người kế thừa và nâng lên một bước trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩaMác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo

ra lịch sử

Tin vào dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tin tưởngvững chắc vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của nhân dân, phải đánh giáđúng vai trò của lực lượng nhân dân Người viết “Có lực lượng dân chúng việc

to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được Không có thì việc gì làm cũng khôngxong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng,đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”

Thứ ba, đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kếtlâu dài, chặt chẽ

Trang 9

Theo Hồ Chí Minh, có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh của cách mạng.Muốn đoàn kết thì trước hết phải có Đảng cách mạng để trong thì vận động, tổchức dân chúng, ngoài thì liên minh với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản

ở mọi nơi Như vậy, để đoàn kết và lãnh đạo cách mạng, điều kiện tiên quyết làphải có một Đảng cách mạng với tính cách là Bộ tham mưu, là hạt nhân để tậphợp quần chúng trong nước và tổ chức, giữ mối liên hệ với bè bạn ở ngoài nước.Đảng cách mạng muốn thống nhất về chính trị và tư tưởng, đảm bảo được vaitrò đó, thì phải giữ vững bản chất của giai cấp công nhân, phải được vũ trangbằng chủ nghĩa chân chính, khoa học và cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác –Lênin

1.1.4 Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc

Hình thức tổ chức đại đoàn kết toàn dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhấtđược xây dựng trên nền tảng khối liên minh công – nông – trí thức, dưới sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, trước hếtphải tin vào dân, dựa vào dân, vì lợi ích của nhân dân để phát động các phongtrào thi đua yêu nước theo yêu cầu cách mạng trong từng thời kỳ khác nhau, thời

kỳ kháng chiến, hòa bình, trong sản xuất, chiến đấu, xây dựng đất nước Sứcmạnh của đại đoàn kết là ở nhân dân Vì vậy, cần thực hiện đoàn kết lâu dài,rộng rãi, chặt chẽ, tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo Cần phải vận động nhân dân,giác ngộ để dân tự nguyện tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnhđạo của Đảng Hồ Chí Minh cho rằng: “đoàn kết là một chính sách dân tộc,không phải là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất vàđộc lập của Tổ quốc, ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”.Người đã tổngkết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công

Đoàn kết cần trên cơ sở hiệp thương dân chủ, chân thành, thẳng thắn,nhân ái, gắn với đấu tranh, tự phê bình và phê bình, có sự nhất trí về mục đích

và lập trường rõ ràng Đoàn kết phải trên cơ sở kế thừa truyền thống yêu nước

Trang 10

-nhân nghĩa của dân tộc Muốn đoàn kết phải có lòng khoan dung, độ lượng vớicon người, quy tụ mọi lực lượng Bác Hồ cũng nhiều lần khẳng định trong mấytriệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng đều là đồng bào ta, ít nhiều

họ đều có lòng yêu nước Vì thế nên quy tụ mọi người bằng lòng chân thành,thương dân Ngay cả “với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tìnhthân ái mà cảm hóa họ Có như thế mới thành đại đoàn kết…”

1.1.5 Phương thức thực hiện đại đoàn kết dân tộc

Hồ Chí Minh cũng chỉ ra phương thức thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đó

là phải biết áp dụng phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục,nghĩa là đoàn kết phải trên cơ sở tự nguyện, không thể áp đặt, ép buộc Vì vậyphải tuyên truyền, vận động làm cho mọi người nhận thức được sự cần thiết phảiđoàn kết để họ tự nguyện, tự giác tham gia vào một tổ chức đoàn thể trong khốiđại đoàn kết Trong tuyên truyền, vận động, giáo dục phải phản ánh đúngnguyện vọng sâu xa và những quyền lợi cơ bản, chung nhất của toàn thể dân tộc;phản ánh nguyện vọng, quyền lợi riêng phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, từngcộng đồng xã hội cụ thể Phải nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, giản dị nhưng vẫnrất sâu sắc, sử dụng biện pháp nêu gương, kết hợp giữa lời nói và việc làm

Phương pháp xử lý các mối quan hệ trong xã hội cũng khác nhau, đối vớilực lượng cách mạng (chí cốt là công nhân, nông dân, lao động chân tay, laođộng trí óc) thì phải biết khai thác, phát huy sự thống nhất, tương đồng, hạn chế,khắc phục, tiến tới xoá bỏ dần những khác biệt trong mục tiêu, lợi ích; đối vớinhững bất đồng trong nội bộ thì phương pháp xử lý là thẳng thắn, có lý và cótình; đối với lực lượng trung gian (các tầng lớp trên, các trí thức thượng lưu,nhân sĩ, hoàng tộc, quan lại…) thì phải biết xoá bỏ mọi thành kiến, mặc cảm,khơi gợi, cổ vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, chân thành hợp tác và trọngdụng; đối với các thế lực thù địch thì cần phải chủ động, kiên quyết tiến côngtiêu diệt trên cơ sở phân hoá, cô lập chúng đến mức cao độ

Trang 11

Khối đại đoàn kết bao gồm nhiều tầng lớp, giai cấp khác nhau; nhiều cánhân khác nhau có lợi ích chung nhưng lại cũng có những lợi ích riêng khácnhau Những lợi ích riêng đó có thể xung đột nhau, thậm chí lợi ích riêng củamột bộ phận nào đó có thể đi ngược lại lợi ích chung Do đó phải có tổ chứcchặt chẽ để luôn đặt được lợi ích chung lên trên hết, trước hết; không để cho một

bộ phận hoặc cá nhân nào có thể vì lợi ích riêng mà làm hại đến lợi ích chung

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập tự chủ

Phong cách là “lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ vàphẩm cách đã trở thành nền nếp ổn định của một người hoặc của một lớp người,được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động, như lao động, học tập, sinh hoạt,ứng xử, diễn đạt (nói và viết)… tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt củachủ thể đó”(1) Tư duy, theo Từ điển tiếng Việt, là “giai đoạn cao của quá trìnhnhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện tính quy luật của sự vật bằng nhữnghình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý”

Có thể hiểu, phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo của Hồ Chí Minh

là một trong những nét độc đáo trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh; là cơ sởcho việc hình thành những luận điểm, tư tưởng đặc sắc mang dấu ấn Hồ ChíMinh, tạo nên sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh với nhiều nhà tư tưởng, nhà lãnhđạo tiền bối và đương thời

Với Hồ Chí Minh, độc lập là không phụ thuộc, không bắt chước, khôngtheo đuôi, giáo điều, tránh lối cũ, đường mòn và tự mình phải luôn tìm tòi, suynghĩ Tự chủ là tự mình làm chủ suy nghĩ, làm chủ bản thân và công việc củamình, tự mình thấy trách nhiệm trước đất nước và dân tộc Sáng tạo là vận dụngđúng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù; sẵn sàng từ bỏnhững cái cũ, lạc hậu, tìm tòi, đề xuất những cái mới để có thể trả lời đượcnhững đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống đặt ra Nhờ tinh thần độc lập, tự chủ và

Trang 12

sáng tạo, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra quy luật của cách mạng Việt Nam, phùhợp với quy luật phát triển chung của nhân loại.

Chính tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo đó đã tạo ra sự khác biệt trongcách đi, bước đi, quan điểm, tư tưởng giữa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh vớicác nhà yêu nước cách mạng tiền bối và cùng thời với Người Để đưa ra quyếtđịnh lựa chọn cứu nước theo con đường cách mạng vô sản, trong suốt 10 năm,

từ năm 1911 đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tự mình khảo sát, nghiên cứucác cuộc cách mạng ở các nước tư bản Mỹ, Anh, Pháp…, đã sống, lao động, họctập, tiếp xúc với đủ hạng người, từ tầng lớp thượng lưu, tinh hoa đến nhữngngười lao động nghèo khổ nhất ở châu Á, Âu, Phi, Mỹ La-tinh Điều đó giúpNgười mở rộng tầm mắt, tăng cường vốn sống, hiểu biết về cuộc sống, tìnhcảnh, số phận con người, nhất là người lao động ở các nước tư bản và các nướcthuộc địa

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh coi đó là kim chỉ nam chohành động, là “mặt trời soi sáng”, “trí khôn”, “cái cẩm nang thần kỳ” có tínhphương pháp luận chỉ dẫn hành động Người coi việc học tập chủ nghĩa Mác -Lê-nin là học tập cái tinh thần xử trí đối với mọi việc, với người và với mình; lànắm vững lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lê-nin đểgiải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam Người không tự hạn chế, tự tróibuộc mình và cũng không trói buộc người khác hoặc để người khác trói buộcmình vào từng câu chữ Tư duy của Hồ Chí Minh là sự thấm nhuần lời chỉ dẫncủa Lê-nin: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đó đãxong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặtnền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải pháttriển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộcsống”

Trang 13

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực, tự cường

1.3.1 Hồ Chí Minh coi tự lực, tự cường là tiền đề của độc lập tự do và là điều kiện tiên quyết để phát triển quan hệ, vị thế ngoại giao.

Thực tế đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đã giúp Hồ ChíMinh hiểu rằng: Công cuộc giải phóng phải là công cuộc “tự giải phóng” chứkhông thể trông chờ vào thiện chí hay sự bố thí, rộng lượng của những kẻ cướpnước Vì thế, lên án chủ nghĩa thực dân bao nhiêu thì Người cũng quyết liệt bấynhiêu trong việc kêu gọi nhân dân các dân tộc bị áp bức tiến hành cuộc đấu tranh

tự giải phóng: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh emrằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực củabản thân anh em”.'

Trở về lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau 30 năm hoạt động quốc tế,Người luôn nhấn mạnh: Việc giải phóng của ta phải do ta tự làm lấy chứ khôngthể trông mong vào lực lượng bên ngoài Tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợivào tháng 8/năm 1945, Người đã kêu gọi đồng bào “đem sức ta mà giải phóngcho ta” Sức mạnh như “triều dâng, thác đổ” của tinh thần dân tự giải phóng đãmang lại nền độc lập thiêng liêng cho Tổ quốc

Từ kinh nghiệm và bài học thực tế của Việt Nam và thế giới, Người đã rút

ra kết luận: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khácgiúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” Sau khi đã giành được chính quyền,với vị thế của một nguyên thủ Quốc gia, Hồ Chí Minh tìm mọi cách để duy trì

sự độc lập, tự chủ của nhân dân Việt Nam Người nói: “Độc lập nghĩa là chúngtôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoàivào”, kể cả sự can thiệp của các đồng minh Khi động viên toàn dân tích cựctham gia và ủng hộ kháng chiến vì nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc, Ngườinói rõ: “Mỗi một người dân phải hiểu: Có tự lập mới độc lập, có tự cường, mới

tự do”

Trang 14

Là một nhà hoạt động quốc tế lỗi lạc, Hồ Chí Minh luôn coi đoàn kếtquốc tế là chiến lược trọng yếu của Đảng nhưng Người hiểu rằng, muốn tăngcường đoàn kết quốc tế thì trước hết phải tăng cường nội lực dân tộc, phát huytinh thần tự lực cánh sinh Người nhấn mạnh: “Thực lực mạnh, ngoại giao sẽthắng Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to, tiếng mớilớn” Ngược lại, nếu không có thực lực thì không thể nói gì đến ngoại giao, càngkhông thể mong muốn sự bình đẳng, độc lập, tự chủ mà “chỉ là một khí cụ trongtay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy” Tóm lại, giữa

tự chủ, tự lực, tự cường và sức mạnh, vị thế dân tộc có mối quan hệ tỉ lệ thuậnvới nhau

1.3.2 Hồ Chí Minh khẳng định phát huy tinh thần tự lực, tự cường là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong mọi chặng đường lịch sử.

Là biểu hiện của ý chí và tinh thần độc lập, tự chủ, ngay từ khi tiếp cậnchủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hiểu rằng: Nếu biến lý luận Mác -Lênin thành “kinh thánh” và “công thức sáo mòn” thì tức là đã gạt bỏ nó ra khỏicuộc sống Vì thế, Người đã rất sáng tạo trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác -Lênin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam Người đã đặt câu hỏi: “Mác đãxây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng lịch

sử nào? Lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhânloại” Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh không chỉ làm cho học thuyết Mác - Lêninđược “Việt hóa”, thích ứng với điều kiện Việt Nam mà còn giúp nhân dân ViệtNam thoát khỏi tâm lý thụ động để phát huy truyền thống tự lực, tự cường củadân tộc để đi đến những thắng lợi vĩ đại

Với sự trải nghiệm của một người đã từng đi “năm châu, bốn biển”, ngaysau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã cho rằng nền văn hóa mới của ViệtNam phải góp phần tẩy bỏ tâm lý nô lệ để xây dựng một tinh thần mới - “tinhthần độc lập tự cường” Thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường

Ngày đăng: 20/03/2023, 04:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê (Chủ biên) (2018), “Một số vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb. Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề định hướngxã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Lao Động
Năm: 2018
2. Dương Phú Hiệp (Chủ biên) (2016), “Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ quachế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Dương Phú Hiệp (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2016
3. Dương Phú Hiệp (2018), “Triết học và đổi mới”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học và đổi mới
Tác giả: Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2018
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, Hà Nội Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết số 06-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w