MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 2 1 1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 2 1 1 1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần. MỤC LỤCMỞ ĐẦU1NỘI DUNG2CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC21.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc21.1.1. Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân21.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng31.1.3. Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới31.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, lực lượng và điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc41.2.1. Vai trò của việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc41.2.2. Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc61.2.3. Điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC122.1. Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay122.1.1. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh122.1.2. Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, nâng cao ý chí tự lực tự cường, giữ vững bản sắc dân tộc132.2. Một số thành tựu và hạn chế trong công tác đại đoàn kết dân tộc tại nước ta hiện nay162.1.1. Điểm đạt được trong công tác đại đoàn kết dân tộc162.1.2. Những tồn tại trong công tác đại đoàn kết dân tộc172.3. Phương hướng vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay182.3.1. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao khối đại đoàn kết toàn dân tộc182.3.2. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước192.3.3. Giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội;192.3.4. Tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.20KẾT LUẬN21TÀI LIỆU THAM KHẢO22 MỞ ĐẦUHồ Chí minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng cộng sản Việt nam. Toàn bộ cuộc đời của Người dành cho sự nghiệp cách mạng Việt nam. Trong số các di sản Người để lại cho dân tộc ta có đại đoàn kết một tư tưởng nổi bật, bao trùm, xuyên suốt, nhất quán cả trong tư duy lý luận và thực tiễn của Người.Tư tưởng Đại đoàn kết đã trở thành tình cảm, suy nghĩ của mọi người Việt nam yêu nước, là sợi dây liên kết cả dân tộc và tạo nên sức mạnh to lớn, đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam độc lập hoàn toàn, đất nước Việt Nam thống nhất trọn vẹn năm 1975.Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh, minh chứng rõ rằng : khi nào Đảng ta, dân tộc ta đoàn kết một lòng, thực hiện triệt để tư tưởng Đại đoàn kết của Người, thì cách mạng lúc đó thuận lợi, thu được nhiều thắng lợi. Ngược lại lúc nào, nơi nào dân ta vi phạm đoàn kết, xa rời tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, thì lúc đó nơi đó cách mạng gặp nhiều khó khăn, thậm chí tổn thất.Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Cách mạng nước ta đang trên đường đổi mới , với nhiều thách thức đặt ra. Chỉ có thể huy động sức mạnh đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta mới đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng dân giàu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh, dân chủ. Vì vậy, việc hiểu rõ và vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới hiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn. Đó là lý do tác giả chọn đề tài : “Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, lực lượng, điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc và phương hướng vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay NỘI DUNGCHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành từ những cơ sở quan trọng sau đây: 1.1.1. Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững. Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước nhân nghĩa đoàn kết đã trở thành một tình cảm tự nhiên, in đậm dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình làng xã quốc gia. Từ đời này sang đời khác, tổ tiên ta đã có rất nhiều chuyện cổ tích, ca dao, ngạn ngữ ca ngợi truyền thống đoàn kết dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ và nhận thức được vai trò của truyền thống yêu nước nhân nghĩa đoàn kết của dân tộc. Người khẳng định: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nướcChủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. 1.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc; liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng. Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác Lênin là vì chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng. V.I. Lênin cho rằng, sự liên minh giai cấp, trước hết là liên minh công nông là hết sức cần thiết bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản, rằng nếu không có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được. Như vậy, chủ nghĩa MácLênin không những đã chỉ ra vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử mà còn chỉ ra vị trí của khối liên minh công nông trong cách mạng vô sản. Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc. 1.1.3. Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước cũng như sau này, Hồ Chí Minh đã luônchú ý nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm của phong trào yêu nước Việt Nam và phong trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộcở các nước thuộc địa. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu những bài học của cuộcCách mạng Tháng Mười. Những là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúngcông nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng, để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh thấy rõ tầm quan trọng của việc đoàn kết, tập hợp lựclượng cách mạng, trước hết là công nông. Đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến Trung Quốc và ấn Độ là hai nước có thể đem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng yêu nước tiến bộ để tiến hành cách mạng.Những kinh nghiệm rút ra từ thành công hay thất bại của các phong trào dân tộc dân chủ, nhất là kinh nghiệm thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.1.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, lực lượng và điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc1.2.1. Vai trò của việc thực hiện đại đoàn kết dân tộcĐại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập hợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững. Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài, xuyên suốt tiến trình cách mạng.Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng. Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại của cách mạng.Chính sách mặt trận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là để thực hiện đoàn kết dân tộc. Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt trận đúng đắn. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam dành được nhiều thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh viết: Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc; Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng. Nhấn mạnh vấn đề này là nhấn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng. Bởi vì, cách mạng muốn thành công nếu chỉ có đường lối đúng thì chưa đủ, mà trên cơ sở của đường lối đúng, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợp quần chúng, tạo thực lực cho cách mạng. Thực lực đó chính là khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Bởi vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vì quần chúng. Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác. Đảng Cộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.1.2.2. Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộcHồ Chí Minh chỉ ra lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc là toàn dân trong đó lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng.Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nước lấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cách mạng là ngày hội của quần chúng”, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cái cẩm nang thần kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở lực lượng vô địch của nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân, nhân dân có một nội hàm rất rộng. Người dùng các khái niệm này để chỉ tất cả mọi công dân của nước Việt Nam, những người được gọi là “con Lạc cháu Hồng”. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người là đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các chính đảng, đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những người trước đây lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, quay về với chính nghĩa của dân tộc. Đoàn kết trong tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mở rộng và tranh thủ tất cả những lực lượng và bộ phận có thể tranh thủ. Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi được dựa trên điểm tương đồng là: “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”...Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làm nền tảng, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàn cục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế. Nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc tiếp tục được khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”, và sau này Người bổ sung thêm nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa công nhân, nông dân với trí thức: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối”.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 2
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 2
1.1.1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân 2
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng 3
1.1.3 Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới 3
1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, lực lượng và điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc 4
1.2.1 Vai trò của việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc 4
1.2.2 Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc 6
1.2.3 Điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc 9
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 12
2.1 Thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay 12
2.1.1 Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh 12
Trang 22.1.2 Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợptác quốc tế, nâng cao ý chí tự lực tự cường, giữ vững bản sắc dântộc 13
2.2 Một số thành tựu và hạn chế trong công tác đại đoàn kết dân tộc tại nước ta hiện nay 16
2.1.1 Điểm đạt được trong công tác đại đoàn kết dân tộc 162.1.2 Những tồn tại trong công tác đại đoàn kết dân tộc 17
2.3 Phương hướng vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay 18
2.3.1 Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao khối đại đoàn kết toàn dântộc 182.3.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước 192.3.3 Giải quyết tốt quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp xãhội; 192.3.4 Tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhànước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc 20
KẾT LUẬN 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
Trang 3MỞ ĐẦU
Hồ Chí minh, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới,người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng cộng sản Việt nam Toàn bộcuộc đời của Người dành cho sự nghiệp cách mạng Việt nam Trong số các
di sản Người để lại cho dân tộc ta có đại đoàn kết - một tư tưởng nổi bật,bao trùm, xuyên suốt, nhất quán cả trong tư duy lý luận và thực tiễn củaNgười
Tư tưởng Đại đoàn kết đã trở thành tình cảm, suy nghĩ của mọi người Việtnam yêu nước, là sợi dây liên kết cả dân tộc và tạo nên sức mạnh to lớn,đưa tới thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộcViệt Nam độc lập hoàn toàn, đất nước Việt Nam thống nhất trọn vẹn năm1975
Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh, minh chứng rõ rằng : khi nào Đảng
ta, dân tộc ta đoàn kết một lòng, thực hiện triệt để tư tưởng Đại đoàn kếtcủa Người, thì cách mạng lúc đó thuận lợi, thu được nhiều thắng lợi.Ngược lại lúc nào, nơi nào dân ta vi phạm đoàn kết, xa rời tư tưởng đạiđoàn kết Hồ Chí Minh, thì lúc đó nơi đó cách mạng gặp nhiều khó khăn,thậm chí tổn thất
Trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,Cách mạng nước ta đang trên đường đổi mới , với nhiều thách thức đặt ra.Chỉ có thể huy động sức mạnh đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minhchúng ta mới đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng dângiàu nước mạnh , xã hội công bằng văn minh, dân chủ Vì vậy, việc hiểu rõ
và vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mớihiện nay là vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn Đó là lý do
tác giả chọn đề tài : “Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, lực lượng, điều
Trang 4kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc và phương hướng vận dụng vào xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay"
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
DÂN TỘC 1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành từnhững cơ sở quan trọng sau đây:
1.1.1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân
tộc Việt Nam
Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tinh thầnyêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kếtdân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và củng cố, tạo thànhmột truyền thống bền vững Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước- nhânnghĩa- đoàn kết đã trở thành một tình cảm tự nhiên, in đậm dấu ấn trongcấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình -làng xã - quốc gia Từ đời này sang đời khác, tổ tiên ta đã có rất nhiềuchuyện cổ tích, ca dao, ngạn ngữ ca ngợi truyền thống đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh đã sớm hấp thụ và nhận thức được vai trò của truyềnthống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc Người khẳng định:
"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báucủa ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lạisôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt quamọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướpnước"
Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộcViệt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc
Trang 61.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thựchiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc; liên minhcông nông là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là vì chủ nghĩa Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng V.I.Lênin cho rằng, sự liên minh giai cấp, trước hết là liên minh công nông làhết sức cần thiết bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản, rằng nếukhông có sự đồng tình và ủng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũtiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thựchiện được
Mác-Như vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin không những đã chỉ ra vai trò của quầnchúng nhân dân trong lịch sử mà còn chỉ ra vị trí của khối liên minh côngnông trong cách mạng vô sản Đó là những quan điểm lý luận hết sức cầnthiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tốtích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tưtưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và cácnhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng của Người vềđại đoàn kết dân tộc
1.1.3 Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới
Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước cũng như sau này, Hồ ChíMinh đã luônchú ý nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm của phong tràoyêu nước Việt Nam và phong trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới,nhất là phong trào giải phóng dân tộcở các nước thuộc địa Đặc biệt, HồChí Minh đã nghiên cứu những bài học của cuộcCách mạng Tháng Mười.Những là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúngcông nông
Trang 7đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng, để xây dựng chế độ xãhội chủ nghĩa đã giúp Hồ Chí Minh thấy rõ tầm quan trọng của việc đoànkết, tập hợp lựclượng cách mạng, trước hết là công nông
Đối với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc,
Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến Trung Quốc và ấn Độ là hai nước có thểđem lại cho Việt Nam nhiều bài học rất bổ ích về tập hợp các lực lượng yêunước tiến bộ để tiến hành cách mạng
Những kinh nghiệm rút ra từ thành công hay thất bại của các phongtrào dân tộc dân chủ, nhất là kinh nghiệm thắng lợi của Cách mạng ThángMười Nga là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc
1.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò, lực lượng và điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc
1.2.1 Vai trò của việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết địnhthành công của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong thờiđại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc,giải phóng giai cấp và giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu nướcthì chưa đủ; cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tậphợp được tất cả mọi lực lượng có thể tập hợp, xây dựng được khối đại đoànkết dân tộc bền vững Chính vì vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoànkết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cơ bản, nhất quán và lâu dài,xuyên suốt tiến trình cách mạng
Để quy tụ được mọi lực lượng vào khối đại đoàn kết toàn dân, cầnphải có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng Trongtừng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, trước những yêu cầu và nhiệm vụkhác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp có thể và cần thiết phải điềuchỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau, đoàn kết dân tộc phải
Trang 8luôn luôn được nhận thức là vấn đề sống còn, quyết định thành bại củacách mạng.
Chính sách mặt trận của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra là để thựchiện đoàn kết dân tộc Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách mặt trận đúngđắn Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đạiđoàn kết dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam dành được nhiều thắng lợi tolớn Hồ Chí Minh viết: "Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đãlàm Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủCộng hòa; Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiếnthắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc;Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành đượcthắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa vàtrong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc"
Đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, đồng thời cũng
là nhiệm vụ hàng đầu của mọi giai đoạn cách mạng Nhấn mạnh vấn đề này
là nhấn mạnh tới vai trò của thực lực cách mạng Bởi vì, cách mạng muốnthành công nếu chỉ có đường lối đúng thì chưa đủ, mà trên cơ sở của đườnglối đúng, Đảng phải cụ thể hóa thành những mục tiêu, nhiệm vụ và phươngpháp cách mạng phù hợp với từng giai đoạn lịch sử để lôi kéo, tập hợpquần chúng, tạo thực lực cho cách mạng Thực lực đó chính là khối đạiđoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, đại đoàn kết dân tộc khôngphải chỉ là mục tiêu của Đảng, mà còn là nhiệm vụ hàng đầu của cả dântộc Bởi vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, phải do quần chúng, vìquần chúng Từ trong phong trào đấu tranh để tự giải phóng và xây dựng xãhội mới tốt đẹp, quần chúng nảy sinh nhu cầu đoàn kết và sự hợp tác ĐảngCộng sản phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng,chuyển những nhu cầu, những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúngthành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực có tổ chức trong khối đại đoàn
Trang 9kết, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh vì độc lập cho dântộc, tự do cho nhân dân và hạnh phúc cho con người.
1.2.2 Lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh chỉ ra lực lượng của khối đại đoàn kết dân tộc là toàndân trong đó lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức làm nền tảng
Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông:
“Nước lấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác xít “Cáchmạng là ngày hội của quần chúng”, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cáicẩm nang thần kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhấtđất nước ở lực lượng vô địch của nhân dân: “Trong bầu trời không có gìquý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoànkết của nhân dân” Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân, nhân dân có một nộihàm rất rộng Người dùng các khái niệm này để chỉ tất cả mọi công dân củanước Việt Nam, những người được gọi là “con Lạc cháu Hồng” Tư tưởngđại đoàn kết dân tộc của Người là đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, cácgiai cấp, các chính đảng, đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo, kể cả những ngườitrước đây lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, quay về với chính nghĩacủa dân tộc Đoàn kết trong tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mởrộng và tranh thủ tất cả những lực lượng và bộ phận có thể tranh thủ.Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi được dựa trên điểm tương đồng là: “Bất kỳ ai
mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì dù nhữngngười đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kếtvới họ” “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụnhân dân thì ta đoàn kết với họ”
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấylợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động làmnền tảng, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, bộ phận và toàncục, giai cấp và dân tộc, quốc gia và quốc tế Nền tảng của khối đại đoàn
Trang 10kết dân tộc tiếp tục được khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phảiđoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nôngdân và các tầng lớp nhân dân lao động khác”, và sau này Người bổ sungthêm nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc là liên minh giữa công nhân,nông dân với trí thức: “Trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xâydựng xã hội chủ nghĩa, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻvang; và công, nông, trí cần phải đoàn kết chặt chẽ thành một khối”.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự kết hợp hài hòa,quyện chặt và nhất quán giữa yếu tố dân tộc và yếu tố giai cấp Đoàn kếtdân tộc trên cơ sở lấy liên minh công nông làm gốc, không một lúc nàoquên đi lợi ích giai cấp song Người cũng có một tư duy vượt trước khikhẳng định chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của cách mạng ViệtNam
Theo Người, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc chỉ được pháthuy khi tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cả dân tộc hay toàn dân chỉ có thể tạo nên một sức mạnh to lớn, trởthành lực lượng vô địch khi được tổ chức thành một khối chặt chẽ, đượcgiác ngộ sâu sắc về mục tiêu lý tưởng, được định hướng bởi một đường lốichính trị đúng đắn, nếu không thì dù quần chúng nhân dân có số đông tớihàng triệu người cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh, rời rạc
Ngay từ khi tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Hồ ChíMinh đã rất lưu ý tới công tác tập hợp quần chúng, đưa họ vào những tổchức yêu nước phù hợp với đặc điểm của từng giới, lứa tuổi, giai cấp, tôngiáo Bao trùm tất cả là tư tưởng muốn thu nạp được đông đảo các tầnglớp nhân dân vào Mặt trận dân tộc thống nhất Mặt trận cần thu nạp đượcđông đảo quần chúng nhân dân, những người ít nhiều có tinh thần yêunước, Mặt trận cần là một tổ chức rộng rãi Rộng rãi nhằm thực hiện đoànkết được nhiều tổ chức, nhiều lực lượng không phân biệt giàu nghèo, đảngphái, xu hướng chính trị Người nói: “Mặt trận bao gồm tất cả những
Trang 11người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôngiáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác” Do đó Mặt trận không chỉ thuhút được mọi tầng lớp lao động nghèo khổ, bị áp bức, mà còn thu hút được
cả tầng lớp trên không thuộc nhân dân lao động và một bộ phận phân hóatrong hàng ngũ của kẻ thù Trong Mặt trận, xương sống và sức mạnh chủyếu của khối đại đoàn kết là khối liên minh công nông làm nền tảng, Ngườinói: “Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nênliên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất”
Mối quan hệ giữa Mặt trận với liên minh công nông phản ánh về mặt
tổ chức xã hội mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp Trong đó,tách biệt hoặc nhấn mạnh một chiều vai trò của Mặt trận hoặc liên minhcông nông đều không đúng với biện chứng của đời sống cách mạng, khôngđúng với nguyên tắc đoàn kết của Người Tuyệt đối hóa vai trò, vị trí củaliên minh công nông, hạ thấp vai trò của Mặt trận sẽ dẫn đến cực đoan, “tảkhuynh” và bệnh cô lập, hẹp hòi Ngược lại, nhấn mạnh, đề cao một chiềuvai trò của Mặt trận, xem nhẹ liên minh công nông sẽ dẫn tới hữu khuynh,
vô chính phủ Người từng nói rằng: “Trong chính sách đoàn kết cần phảichống hai khuynh hướng sai lầm: cô độc, hẹp hòi và đoàn kết vô nguyêntắc”
Trong lực lượng phong phú của Mặt trận, Đảng Cộng sản Việt Namđược xác định là một thành viên, bởi Đảng là bộ phận ưu tú nhất của giaicấp công nhân Tuy nhiên, Đảng không phải là một thành viên bình thường,
mà là người lãnh đạo của khối đại đoàn kết toàn dân Một trong nhữngnhiệm vụ hàng đầu của Đảng là tuyên truyền, giáo dục để quần chúng giácngộ sự cần thiết phải đoàn kết lại; chọn lựa những hình thức, phương pháp
tổ chức thích hợp để có thể thu hút rộng rãi các lực lượng yêu nước, tiến bộtrong dân chúng; hướng dẫn khối đại đoàn kết toàn dân đấu tranh, lao độngsáng tạo theo những mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với lợi ích thiêng liêngcủa dân tộc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Người cũng nhấn
Trang 12mạnh quyền lãnh đạo Mặt trận không phải Đảng tự phong cho mình, màphải được nhân dân thừa nhận: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừanhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thànhnhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công táchàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và nănglực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”.
Tóm lại, lực lượng góp thành sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc làtoàn dân, trong đó lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nềntảng được tập hợp trong một Mặt trận thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng Thực tiễn đã trả lời chỉ trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc này, đại đoànkết dân tộc mới có sức sống bền vững và trường tồn
1.2.3 Điều kiện thực hiện đại đoàn kết dân tộc
Thứ nhất, phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia, dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã hội.
Trong mỗi quốc gia dân tộc bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp, giai cấpkhác nhau Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác nhau nhưng tất cảcác lợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích dân tộc Quyềnlợi của các tầng lớp, giai cấp có thực hiện được hay không còn phụ thuộcvào dân tộc đó có được độc lập tự do, có đoàn kết hay không và việc nhậnthức, giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích đó như thế nào
Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc theo Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trântrọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp đến mức thấp nhấtnhững yếu tố khác biệt, mâu thuẫn và Người bao giờ cũng tìm ra nhữngyếu tố của đoàn kết dân tộc thay cho sự đào sâu tách biệt, thực hiện sự quy
tụ thay cho việc loại trừ những yếu tố khác nhau về lợi ích
Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do Lợi ích tối cao này làngọn cờ đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch củacách mạng Việt Nam Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ
Trang 13Chí Minh để Người tìm ra những phương pháp để thực hiện nguyên tắc đótrong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình.
Thứ hai, tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân
Đây là nguyên tắc xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của ông cha
ta được Người kế thừa và nâng lên một bước trên cơ sở quan điểm của chủnghĩa Mác-Lênin, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân làngười sáng tạo ra lịch sử
Tin vào dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tintưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của nhân dân,phải đánh giá đúng vai trò của lực lượng nhân dân Người viết “Có lựclượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được Không cóthì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đềmột cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, nhữngđoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”
Thứ ba, đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đoàn kết lâu dài, chặt chẽ
Theo Hồ Chí Minh, có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh của cáchmạng Muốn đoàn kết thì trước hết phải có Đảng cách mạng để trong thìvận động, tổ chức dân chúng, ngoài thì liên minh với các dân tộc bị áp bức
và giai cấp vô sản ở mọi nơi Như vậy, để đoàn kết và lãnh đạo cách mạng,điều kiện tiên quyết là phải có một Đảng cách mạng với tính cách là Bộtham mưu, là hạt nhân để tập hợp quần chúng trong nước và tổ chức, giữmối liên hệ với bè bạn ở ngoài nước Đảng cách mạng muốn thống nhất vềchính trị và tư tưởng, đảm bảo được vai trò đó, thì phải giữ vững bản chấtcủa giai cấp công nhân, phải được vũ trang bằng chủ nghĩa chân chính,khoa học và cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin, Người nói “Để làmtrọn trách nhiệm người lãnh đạo cách mạng, Đảng ta phải dựa vào giai cấpcông nhân, lấy liên minh công nông làm nền tảng vững chắc để đoàn kếtcác tầng lớp khác trong nhân dân Có như thế mới phát triển và củng cốđược lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng”