1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc việt nam và sự kế thừa nó trong xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay

20 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc việt nam và sự kế thừa nó trong xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 57,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 2 CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM 2 1 1 Một số khái niệm cơ bản 2 1 1 1 Quan niệm về đạo đức 2 1 1 2 Giá trị đạo đức truyền. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1PHẦN II: NỘI DUNG2CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM21.1. Một số khái niệm cơ bản21.1.1. Quan niệm về đạo đức21.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống21.2. Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam41.2.1. Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường dân tộc41.2.2. Lòng yêu thương, độ lượng, sống có nghĩa tình với con người51.2.3. Tinh thần cần cù, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động sản xuất61.2.4. Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo7CHƯƠNG II: SỰ KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA MỚI HIỆN NAY92.1. Thực trạng phát huy giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam92.1.1. Gia đình Việt Nam trong quá trình vừa bảo lưu các giá trị truyền thống, vừa tiếp thu yếu tố hiện đại92.1.2. Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống_Ảnh minh họa92.1.3. Các giá trị truyền thống và xu hướng dịch chuyển sang các giá trị hiện đại trong tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời102.1.4. Gia đình hiện đại và xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng122.2. Một số thành tự và hạn chế đạt được132.2.1. Một số thành tựu đạt được132.2.2. Một số hạn chế tồn tại142.3. Một số giải pháp trong xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay15KẾT LUẬN17TÀI LIỆU THAM KHẢO18  PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦULịch sử hàng nghìn năm dựng nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dân tộc Việt Nam đã viết lên những trang sử hào hùng. Trong tiến trình lịch sử của dân tộc đã tạo nên nhân cách con người Việt Nam với các giá trị đạo đức vô cùng phong phú. Cùng với thời gian, các giá trị đạo đức này được lưu truyền qua các thế hệ, trở thành truyền thống tốt đẹp, là sức mạnh và động lực của dân tộc. Hòa cùng với dòng chảy lịch sử dân tộc, vùng quê hưng thịnh và yên bình với tên gọi “Hưng Yên” đã chứa đựng cả bề dày và sự phong phú, độc đáo của vùng văn hóa sông Hồng, đồng thời phát huy được các giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc. Những thế hệ con người Hưng Yên đã mang trong mình dòng máu của người Việt Nam với đầy đủ các giá trị đạo đức truyền thống: Yêu quê hương, đất nước; đoàn kết, anh dũng trong cải tạo thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; ham học hỏi và giàu lòng nhân nghĩa, thủy chung...Hiện nay, những tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường đòi hỏi chúng ta một mặt, phải quan tâm tới phát triển kinh tế xã hội, tạo ra cuộc sống đầy đủ cho nhân dân, mặt khác duy trì và phát huy giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt với những thách thức, khó khăn. Việc tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đã giúp thanh niên, sinh viên có nhận thức, tư duy phát triển, thị hiếu thẩm mỹ nâng lên.Do vậy, sau quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và sự kế thừa nó trong xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay” để có cái nhìn sâu và rộng hơn. PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM1.1. Một số khái niệm cơ bản1.1.1. Quan niệm về đạo đức Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phán ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống xã hội. Ngày nay, đạo đức được hiểu là một trong những phương thức cơ bản điều tiết chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái ý thức xã hội, là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là đối tượng nghiên cứu của đạo đức học. Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong những giá trị tinh thần mà xã hội loài người đã sáng tạo ra. Đó là một hệ thống chuẩn mực, quan niệm, giá trị và nguyên tắc được hình thành trong đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người này với người khác, giữa cá nhân với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội. 1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống Khái niệmGiá trị đạo đức truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm, những chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức được truyền từ đời này sang đời khác và được mọi người hay một cộng đồng người nhất định tự nguyện noi theo. Nói đến các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là nói đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đã hình thành và bảo lưu cho đến thời điểm hiện tại. Đó là các giá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành vi giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và xã hội. Đặc điểmCác giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là kết quả và động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Đồng thời là kết quả của quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa của nhiều trào lưu tư tưởng, văn hóa lớn của thế giới để bồi đắp thêm cho những giá trị đạo đức – văn hóa vốn có của mình. Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Tình yêu là tình cảm phổ biến của nhân dân các dân tộc trên thế giới. V.I. Lênin đã từng khẳng định: “chủ nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua hàng năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” . Song sự hình thành sớm hay muộn, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện của nó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc. Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc, là một giá trị được tạo nên từ trong chiều sâu văn hóa dân tộc, là nhân tố tinh thần hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, được hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc. Cần cù là biểu hiện thái độ của con người trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần và các mặt hoạt động khác của con người. Nó là kết quả và điều kiện không thể thiếu được trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động là điều phải làm vì có như vậy mới có của cải vật chất. Truyền thống hiếu học của người Việt Nam được hình thành từ nhiều thế hệ là một trong những giá trị truyền thống dân tộc, nó luôn được kế thừa phát huy. Đảng ta luôn ý thức sâu sắc rằng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam từ xưa tới nay. Ngay từ rất sớm con người đã nhận thức được học hành không chỉ là quyền lợi mà còn nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Người xưa từng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (ngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng được, người không học thì không biết đạo). 1.2. Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt NamLà quốc gia nằm ở phía Đông, thuộc bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, châu Á; có diện tích 331.698 km2, bao gồm khoảng 327.480 km2 đất liền và 4.500 km2 biển nội thủy... Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới và một phần xích đạo nên có những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp; là nơi giao thoa của nhiều nền văn minh trên thế giới, điển hình là văn minh Trung Quốc và Ấn Độ với cốt lõi là hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo. Quy mô dân số gần 92,5 triệu người (năm 2016), đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc, trong đó, dân tộc Kinh (Việt) chiếm đa số, 53 dân tộc còn lại là các dân tộc thiểu số. Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa riêng mang đậm bản sắc địa phương, nhưng 54 dân tộc anh em cùng gắn bó chặt chẽ với nhau trong vận mệnh chung của cuộc đấu tranh, hòa hợp lâu dài, lấy tộc người Việt làm trung tâm. Điều này đã tạo nên văn hóa dân tộc Việt Nam thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa của các dân tộc với những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp.1.2.1. Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường dân tộcTình yêu dành cho quê hương, đất nước ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới hoàn toàn không giống nhau, song tựu chung lại sợi chỉ đỏ chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện khát vọng và hành động luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết. Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, bắt nguồn từ những tình cảm rất đơn sơ, bình dị trong gia đình, làng xã và rộng hơn là tình yêu Tổ quốc. Với vị trí địa lý là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia. Trong tiến trình phát triển của dân tộc, nhân dân ta đã phải trải qua thời gian dài chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Lịch sử thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm gương kiên trung, bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Từ Bà Triệu “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”; Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”; Nguyễn Huệ “Đánh cho để dài tócĐánh cho để đen răngĐánh cho nó chích luân bất phảnĐánh cho nó phiến giáp bất hoànĐánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”… đến Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Nguyễn Viết Xuân với tinh thần “Nhằm thẳng quân thù Bắn”… Chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập và tự cường dân tộc đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, là nền tảng tinh thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là nguồn sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, xứng đáng với lời ngợi ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.1.2.2. Lòng yêu thương, độ lượng, sống có nghĩa tình với con người

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM 2

1.1 Một số khái niệm cơ bản 2

1.1.1 Quan niệm về đạo đức 2

1.1.2 Giá trị đạo đức truyền thống 2

1.2 Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam 4

1.2.1 Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường dân tộc 4

1.2.2 Lòng yêu thương, độ lượng, sống có nghĩa tình với con người5 1.2.3 Tinh thần cần cù, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động sản xuất 6

1.2.4 Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo 7

CHƯƠNG II: SỰ KẾ THỪA GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VĂN HÓA MỚI HIỆN NAY 9

2.1 Thực trạng phát huy giá trị văn hóa truyền thống của gia đình Việt Nam 9

2.1.1 Gia đình Việt Nam trong quá trình vừa bảo lưu các giá trị truyền thống, vừa tiếp thu yếu tố hiện đại 9

2.1.2 Người dân Việt Nam vốn coi gia đình là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống_Ảnh minh họa 9

2.1.3 Các giá trị truyền thống và xu hướng dịch chuyển sang các giá trị hiện đại trong tiêu chuẩn lựa chọn bạn đời 10

2.1.4 Gia đình hiện đại và xu hướng suy giảm tính tập thể, tính cộng đồng 12

2.2 Một số thành tự và hạn chế đạt được 13

Trang 2

2.2.1 Một số thành tựu đạt được 13 2.2.2 Một số hạn chế tồn tại 14

2.3 Một số giải pháp trong xây dựng gia đình văn hóa mới hiện nay 15 KẾT LUẬN 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dân tộc Việt Nam đã viết lên những trang sử hào hùng Trong tiến trình lịch sử của dân tộc đã tạo nên nhân cách con người Việt Nam với các giá trị đạo đức vô cùng phong phú Cùng với thời gian, các giá trị đạo đức này được lưu truyền qua các thế hệ, trở thành truyền thống tốt đẹp, là sức mạnh và động lực của dân tộc Hòa cùng với dòng chảy lịch sử dân tộc, vùng quê hưng thịnh và yên bình với tên gọi “Hưng Yên” đã chứa đựng cả bề dày và sự phong phú, độc đáo của vùng văn hóa sông Hồng, đồng thời phát huy được các giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc Những thế hệ con người Hưng Yên đã mang trong mình dòng máu của người Việt Nam với đầy đủ các giá trị đạo đức truyền thống: Yêu quê hương, đất nước; đoàn kết, anh dũng trong cải tạo thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm; cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; ham học hỏi và giàu lòng nhân nghĩa, thủy chung

Hiện nay, những tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường đòi hỏi chúng ta một mặt, phải quan tâm tới phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra cuộc sống đầy đủ cho nhân dân, mặt khác duy trì và phát huy giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt cho thế

hệ trẻ Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt với những thách thức, khó khăn Việc tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đã giúp thanh niên, sinh viên có nhận thức,

tư duy phát triển, thị hiếu thẩm mỹ nâng lên

Do vậy, sau quá trình học tập và tìm hiểu, tác giả đã chọn đề tài “ Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và sự kế thừa nó trong xây dựng gia đình văn hoá mới hiện nay” để có cái nhìn sâu và rộng hơn.

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CỦA DÂN TỘC

VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Quan niệm về đạo đức

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phán ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống xã hội

Ngày nay, đạo đức được hiểu là một trong những phương thức cơ bản điều tiết chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái ý thức xã hội, là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là đối tượng nghiên cứu của đạo đức học

Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong những giá trị tinh thần mà xã hội loài người đã sáng tạo ra Đó là một hệ thống chuẩn mực, quan niệm, giá trị và nguyên tắc được hình thành trong đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người này với người khác, giữa cá nhân với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội

1.1.2 Giá trị đạo đức truyền thống

Khái niệm

Giá trị đạo đức truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm, những chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức được truyền từ đời này sang đời khác và được mọi người hay một cộng đồng người nhất định tự nguyện noi theo

Nói đến các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là nói đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đã hình thành và bảo lưu cho đến thời điểm hiện tại Đó là các giá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành vi giữa cá nhân và cá nhân, giữa

cá nhân và xã hội

Đặc điểm

Trang 5

Các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử Đó là kết quả và động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước Đồng thời là kết quả của quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa của nhiều trào lưu tư tưởng, văn hóa lớn của thế giới để bồi đắp thêm cho những giá trị đạo đức – văn hóa vốn có của mình

Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ lợi ích của Tổ quốc và nhân dân Tình yêu là tình cảm phổ biến của nhân dân các dân tộc trên thế giới V.I Lênin

đã từng khẳng định: “chủ nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua hàng năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” Song

sự hình thành sớm hay muộn, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện của nó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc

Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc, là một giá trị được tạo nên từ trong chiều sâu văn hóa dân tộc, là nhân tố tinh thần hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc

Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, được hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc Cần cù là biểu hiện thái độ của con người trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần và các mặt hoạt động khác của con người Nó là kết quả và điều kiện không thể thiếu được trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động là điều phải làm vì có như vậy mới có của cải vật chất

Truyền thống hiếu học của người Việt Nam được hình thành từ nhiều thế hệ là một trong những giá trị truyền thống dân tộc, nó luôn được kế thừa phát huy Đảng ta luôn ý thức sâu sắc rằng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Việt Nam từ xưa tới nay Ngay từ rất sớm con người đã nhận thức được học hành không chỉ là quyền lợi mà còn nghĩa vụ của mỗi cá nhân Người xưa từng nói:

Trang 6

“Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (ngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng được, người không học thì không biết đạo)

1.2 Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam

Là quốc gia nằm ở phía Đông, thuộc bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam

Á, châu Á; có diện tích 331.698 km2, bao gồm khoảng 327.480 km2 đất liền và 4.500 km2 biển nội thủy Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới và một phần xích đạo nên

có những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, nhất là sản xuất nông nghiệp; là nơi giao thoa của nhiều nền văn minh trên thế giới, điển hình là văn minh Trung Quốc

và Ấn Độ với cốt lõi là hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo Quy mô dân số gần 92,5 triệu người (năm 2016), đứng thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, gồm 54 dân tộc, trong đó, dân tộc Kinh (Việt) chiếm

đa số, 53 dân tộc còn lại là các dân tộc thiểu số Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa riêng mang đậm bản sắc địa phương, nhưng 54 dân tộc anh em cùng gắn bó chặt chẽ với nhau trong vận mệnh chung của cuộc đấu tranh, hòa hợp lâu dài, lấy tộc người Việt làm trung tâm Điều này đã tạo nên văn hóa dân tộc Việt Nam thống nhất trên cơ

sở đa dạng sắc thái văn hóa của các dân tộc với những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp

1.2.1 Lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập và tự cường dân tộc

Tình yêu dành cho quê hương, đất nước ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới hoàn toàn không giống nhau, song tựu chung lại sợi chỉ đỏ chủ nghĩa yêu nước là biểu hiện khát vọng và hành động luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành từ rất sớm, bắt nguồn

từ những tình cảm rất đơn sơ, bình dị trong gia đình, làng xã và rộng hơn là tình yêu

Tổ quốc Với vị trí địa lý là đầu mối giao thông quốc tế quan trọng, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược của nhiều quốc gia Trong tiến trình phát triển của dân tộc, nhân dân ta đã phải trải qua thời gian dài chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước Lịch sử thời kỳ nào cũng sáng ngời những tấm gương kiên trung, bất khuất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng: Từ Bà Triệu “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ đâu chịu khom lưng làm tì thiếp

Trang 7

cho người!”; Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”; Nguyễn Huệ “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”… đến Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, Nguyễn Viết Xuân với tinh thần “Nhằm thẳng quân thù! Bắn!”…

Chủ nghĩa yêu nước, ý chí độc lập và tự cường dân tộc đã trở thành “dòng chủ lưu của đời sống Việt Nam”, là nền tảng tinh thần to lớn, là giá trị đạo đức cao quý nhất trong thang bậc các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam, trở thành

“tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” và là nguồn sức mạnh vô địch để dân tộc ta vượt qua khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, xứng đáng với lời ngợi ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”

1.2.2 Lòng yêu thương, độ lượng, sống có nghĩa tình với con người

Đây là giá trị đạo đức nhân văn sâu sắc được sinh dưỡng trong chính đau thương, mất mát qua các cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống lam lũ hàng ngày từ nền sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước của dân tộc Việt Nam Điều dễ nhận thấy về biểu hiện lòng nhân ái của dân tộc ta được bắt nguồn từ một chữ “tình” - Trong gia đình đó là tình cảm đối với đấng sinh thành “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, tình anh em “như thể tay chân”, tình nghĩa vợ chồng

“đầu gối, tay ấp”; rộng hơn là tình làng xóm láng giềng và bao trùm hơn cả là tình yêu thương đồng loại “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”… Lòng yêu thương và sống có nghĩa tình còn được biểu hiện trong sự tương trợ, giúp đỡ nhau; sự khoan dung, vị tha dành cho cả những người đã từng lầm đường lạc lối biết lấy công chuộc tội

Không chỉ biểu hiện trong đời sống hàng ngày, tình yêu thương, sự khoan dung,

độ lượng với con người của dân tộc Việt Nam còn được nâng lên thành những chuẩn tắc trong các bộ luật của Nhà nước; đồng thời là cơ sở của tinh thần yêu chuộng hoà

Trang 8

bình và tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới Trong lịch sử, nhân dân ta luôn đề cao và coi trọng việc giữ tình hoà hiếu với các nước, tận dụng mọi cơ hội có thể để giải quyết hoà bình các xung đột, cho dù nguyên nhân từ phía kẻ thù Ngày nay, truyền thống nhân nghĩa đó không bị mai một hay mất đi, ngược lại tiếp tục được khẳng định và củng cố khi Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thực hiện đường lối nhất quán “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Ý thức đầu tiên về sự cố kết cộng đồng của người Việt Nam đã được dân gian thần thánh hóa bằng thiên truyền thuyết đẹp với hình ảnh

“bọc trăm trứng” để lý giải cùng chung nguồn cội con cháu Rồng Tiên - Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ Trải qua thực tiễn trong cuộc sống lao động cũng như chiến đấu, tinh thần đoàn kết dân tộc bền chặt càng được đề cao và đã trở thành một triết lý nhân sinh sâu sắc “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công” Trong 86 năm qua kể từ khi có Đảng lãnh đạo, thực tiễn cách mạng Việt Nam thêm một lần nữa đã thể hiện sức sống kỳ diệu và chứng minh chân lý đúng đắn về sức mạnh vĩ đại của tinh thần đại đoàn kết dân tộc Sức mạnh đó chính là mạch nguồn của các thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám (1945), kháng chiến chống Pháp (1946 -1954) và chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tinh thần đoàn kết dân tộc càng có ý nghĩa hơn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, do đó tư tưởng chỉ đạo chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam luôn được Đảng ta nhấn mạnh “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế… phát huy cao độ nội lực, đồng thời phải tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại” Như vậy, biểu hiện về tinh thần đại đoàn kết cộng đồng đã trở thành một truyền thống tốt đẹp, có giá trị lý luận và thực tiễn cách mạng sâu sắc Phát huy đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết rộng rãi và lâu dài, đó là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam

- “Một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta”

1.2.3 Tinh thần cần cù, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động sản xuất

Cần cù, siêng năng là một trong những giá trị đạo đức nổi bật, phẩm chất đáng quý của người Đông Á, trong đó có Việt Nam Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng tạo trong lao động là điều phải làm vì có như vậy mới có của cải vật

Trang 9

chất Phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động của người Việt Nam luôn gắn với sự dành dụm, tiết kiệm và trở thành đức tính cần có như một lẽ tự nhiên Như vậy, đầu tiên, đức tính cần cù, sáng tạo và tiết kiệm trong lao động chính là yếu tố quan trọng giúp con người có thể đảm bảo được việc duy trì cuộc sống cá nhân Trong

xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, sự cần cù, sáng tạo đi đôi với thực hành tiết kiệm trong lao động sản xuất của mỗi người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa thiết thực, bởi đây chính là động lực tiên quyết nhằm tăng năng suất, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, qua đó tự mỗi người đóng góp một phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

1.2.4 Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo

Từ ngàn đời nay, hiếu học đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Lịch sử khoa bảng của dân tộc còn lưu danh những tấm gương sáng ngời về

ý chí và tinh thần ham học: Nguyễn Hiền mồ côi cha từ nhỏ, theo học nơi cửa chùa, đã trở thành Trạng nguyên nhỏ tuổi nhất trong lịch sử nước ta khi mới 13 tuổi Mạc Đĩnh Chi vì nhà nghèo không thể đến lớp, chỉ đứng ngoài nghe thầy giảng, đêm đến phải học dưới ánh sáng của con đom đóm trong vỏ trứng, đã đỗ trạng nguyên và trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trung Hoa và Đại Việt) Đó còn là những tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài đáng kính: Nhà giáo Chu Văn An, Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng lường Lương Thế Vinh, nhà bác học Lê Quý Đôn…; là tinh thần của nghị lực phi thường vươn lên trở thành nhà giáo ưu tú - Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký…

Sự hiếu học, tinh thần ham học hỏi của dân tộc Việt Nam còn được biểu hiện ở thái độ coi trọng việc học và người có học, tôn trọng thầy cô, kính trọng họ như cha mẹ của mình “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Không thày đố mày làm nên” Cùng với tiến trình lịch sử dân tộc, dòng chảy của truyền thống hiếu học ấy với tinh thần “Học! Học nữa! Học mãi!” đã được các thế hệ người Việt Nam hôm nay tiếp tục phát huy và tỏa sáng:

Đó là những tấm gương vượt khó, học giỏi trên khắp mọi miền của đất nước; từ những nếp nhà trong gia đình tất cả con cháu đều chăm học và thành đạt như giáo sư Đặng Thai Mai, giáo sư Đào Duy Anh, giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân… đến những vận động viên khổ luyện thành tài như kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên, xạ thủ Hoàng Xuân Vinh, tài năng như giáo sư Ngô Bảo Châu, nữ tiến sĩ trẻ tuổi nhất Nguyễn

Trang 10

Kiều Liên… Họ đã thực sự là niềm tự hào làm rạng danh đất Việt và tô thắm thêm tinh thần hiếu học của cha ông

Ngày đăng: 20/03/2023, 02:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Chí Minh. Toàn tập, tập 6. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.171 Khác
2. Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.66 Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
5.Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
7. C.Mác và Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w