1. Trang chủ
  2. » Tất cả

tiểu luận tâm lý tiểu luận tâm lýtiểu luận tâm lýtiểu luận tâm lý

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Hiện Tượng Tâm Lí Trong Tập Thể: Ý Thức Và Vô Thức
Trường học Trường Đại Học XYZ
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 27,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bạn cần hỗ trợ, trao đổi, hay tài liệu tham khảo khóa luận, báo cáo, tiểu luận ib fb mình, or số điện thoại: 03371356022 https:www.facebook.comhongquan.mai.9210 Các bạn cần hỗ trợ, trao đổi, hay tài liệu tham khảo khóa luận, báo cáo, tiểu luận ib fb mình, or số điện thoại: 03371356022 https:www.facebook.comhongquan.mai.9210

Trang 1

Câu 1:

1.1 Những hiện tượng tâm lý trong tập thể:

Ý thức và vô thức:

Ý thức:

Khái niệm: có nhiều lĩnh vực quan tâm đến ý thức: Triết học, Giáo dục học, Tâm thần học, Tâm lí học…

Với Tâm thần học, ý thức chủ yếu giới hạn ở khả năng định hướng của con người: định hướng thời gian, định hướng không gian và định hướng bản thân Khái niệm ý thức trong Tâm lí học được hiểu rộng hơn so với Tâm thần học Như trên đã đề cập, những hình ảnh mà chúng ta quan sát được, những ý nghĩ và nhận định mà chúng ta có được trong quá trình tư duy… đều là những hiện tượng tâm lí Khi những hiện tượng tâm lí đó lại là đối tượng để chúng ta suy nghĩ: tại làm sao chúng ta quan sát được? Liệu những suy nghĩ và quyết định của chúng ta có đúng hay không?…Khi đó các hiện tượng tâm lí đã được nâng cấp lên bình diện mới: bình diện ý thức Nói một cách khác,

ý thức chính là năng lực hiểu được các hiểu biết Nói một cách khác, nếu các hiện tượng tâm lí là sự phản ánh thế giới khách quan thì sự phản ánh đó lại một lần nữa được phản ánh lại trong ta - đó chính là ý thức

Ở động vật cũng có sự phản ánh tâm lí Tuy nhiên sự phản ánh này chỉ dừng lại

ở đó mà không có sự phản ánh lại một lần nữa Con vật cũng có những khả năng nhận biết song chúng không nhận biết được rằng chúng đang nhận biết Chúng không

có ý thức

Trong ý thức của con người có một bộ phận đóng vai trò quan trọng: tự ý thức Tự

ý thức là năng lực hiểu được chính mình, hiểu được những mong muốn, những xu

Trang 2

hướng của mình Tự ý thức được xem là “bộ máy chỉ huy” cao nhất trong toàn bộ ý thức của con người

Cấu trúc: theo quan niệm chung, ý thức bao gồm 3 tầng bậc chính: nhận thức cảm tính, nhận thức lí tính và hoạt động

Nhận thức cảm tính bao gồm 2 quá trình chính gắn bó mật thiết với nhau là cảm giác và tri giác Các biểu tượng của nhận thức cảm tính giúp chúng ta nhận biết được

sự tồn tại của thế giới bên ngoài, làm ranh giới giữa thức và ngủ, giữa tỉnh và say

Nhận thức lí tính cung cấp cho chúng ta những hiểu biết một cách khái quát, những mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng

Trong tầng bậc hoạt động, các hành động có ý thức đóng vai trò là những đơn vị

cơ bản Hành động có ý thức là quá trình con người sử dụng những hiểu biết, kinh nghiệm của mình tác động vào thế giới hiện thực nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân và xã hội

Vô thức:

Vô thức là những hiện tượng tâm lí không được ý thức Nó bao gồm:

Những hành động hoặc những cảm giác diễn ra nhưng người ta không nhận biết được nguyên nhân

Thành phần tự động hóa trong các kĩ năng, kĩ xảo

Trạng thái mất ý thức do nguyên nhân sinh lí tự nhiên (mơ ngủ) hoặc do bệnh lí (chấn thương sọ não, sốt cao) hay nhân tạo (gây mê)

Trực giác

Trang 3

Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu tập trung vào vô thức song vẫn còn nhiều điều chưa được sáng tỏ trong lĩnh vực này

Tâm lí bao gồm các quá trình, trạng thái và thuộc tính:

Đây là cách chia dựa vào thời gian tồn tại và vị trí tương đối của chúng trong nhân cách

Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng Các quá trình đều có sản phẩm của mình Đó có thể là các biểu tượng của nhận thức cảm tính, là khái niệm, nhận định của tư duy, là rung cảm của cảm xúc…

Các trạng thái tâm lí: là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong khoảng thời gian dài, mở đầu và kết thúc không rõ ràng và luôn luôn đi kèm theo, làm nền cho các quá trình tâm lí Ví dụ như chú ý, tâm trạng…

Các thuộc tính tâm lí: là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định, hình thành chậm song cũng khó mất đi, tạo thành những nét riêng của nhân cách Thuộc tính tâm lí chính là sự khái quát phối hợp giữa một số quá trình tâm lí với trạng thái tâm lí Nét nhân cách có thể được xem xét một cách riêng biệt, ví dụ, tính cẩn thận, song chúng cũng có thể kết hợp tạo thành nhóm Ví dụ như xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất

Tâm lí bao gồm ba mặt:

Nhận thức: là các quá trình tâm lí giúp cho con người nhận biết được sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ của những sự vật hiện tượng đó Nhận thức gồm 2 nhóm chính là nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) và nhận thức lí tính (chủ yếu là tư duy)

Trang 4

Đời sống tình cảm: nếu như các quá trình nhận thức đem lại cho con người hiểu biết về thế giới khách quan thì đời sống tình cảm lại thể hiện mối quan hệ của chủ thể đối với các sự vật hiện tượng Tuy nhiên không phải đối với mọi sự vật hiện tượng

mà chỉ là đối với những sự vật hiện tượng có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu của chủ thể mà thôi Gọi nó là đời sống hay lĩnh vực bởi nó mang tính tổng thể (một cách tương đối) và bởi vì trong thành phần của nó có nhiều các thành tố khác nhau, trải dài

từ những màu sắc cảm xúc của cảm giác cho đến tình cảm Ngay trong lĩnh vực này,

sự tách biệt đâu là quá trình, đâu là trạng thái, thuộc tính cũng chỉ mang tính tương đối

Ý chí: là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn Ý chí là hình thức tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người Nhờ có ý chí, con người chuyển được từ nhận thức và rung động sang hoạt động thực tiễn Ý chí luôn đi kèm với hành động do vậy lĩnh vực này còn được gọi là hành động ý chí

Thế giới các hiện tượng tâm lí của con người là một chỉnh thể trọn vẹn, thống nhất, không thể chia cắt được Sự phân chia thành các lớp, loại, lĩnh vực trước hết nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu sâu hơn thế giới trừu tượng này Mỗi cách phân loại đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Ngay trong từng cách phân loại cũng đã mang tính tương đối bởi lẽ không thể xác định được một cách chính xác ranh giới của các hiện tượng, ví dụ giữa ý thức và vô thức hoặc không thể tách biệt một cách máy móc đâu là trạng thái cảm xúc và đâu là quá trình cảm xúc

1.2 Ý nghĩa đối với người làm lãnh đạo, quản lý

Thứ nhất, xác định mục đích của hoạt động thực tiễn

Xác định mục đích của quá trình hoạt động được coi là một trong những nội dung

cơ bản của năng lực thực tiễn Bởi lẽ, không chỉ vì mục đích là bản chất, là linh hồn chi phối toàn bộ nội dung, phương thức hoạt động của con người, mà còn bởi tính khó khăn của việc xác định, giữ vững mục đích trong quá trình hoạt động thực tiễn; đồng thời phải

Trang 5

xác định mục đích từng giai đoạn, từng thời kỳ của hoạt động thực tiễn đó Mặt khác, việc giữ vững mục đích trong hoạt động thực tiễn còn là kết quả của cuộc đấu tranh với các hoạt động ngăn cản, trở ngại từ những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, thậm chí cả sự chống phá của các thế lực thù địch

Kiên định với mục đích đã lựa chọn là một trong những nội dung và là tiêu chí hàng đầu để đánh giá năng lực thực tiễn của cán bộ Thực tế cho thấy, xác định mục đích của hoạt động thực tiễn không rõ ràng, trong đó có cả biểu hiện của “tư duy nhiệm kỳ”, khiến cho việc tổ chức thực hiện thiếu quyết tâm, quyết liệt dẫn đến hiệu quả công việc bị hạn chế

Thứ hai, xác định và sử dụng lực lượng, phương tiện tham gia vào hoạt động thực tiễn

Xác định, khơi dậy, quy tụ và sử dụng có hiệu quả lực lượng, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích đã đề ra là một phẩm chất quan trọng tạo nên năng lực thực tiễn của cán bộ Lực lượng, phương tiện mà cán bộ sử dụng để thực hiện mục đích của mình luôn tồn tại cả ở trạng thái thực tế và tiềm năng Do đó, cần xác định

rõ lực lượng, phương tiện hiện có và khả năng có thể huy động để không rơi vào ảo tưởng, phi thực tế Ngoài ra, cần xác định và tận dụng lực lượng, phượng tiện của các chủ thể khác để phát huy sức mạnh tổng hợp thực hiện đạt kết quả và hiệu quả cao nhất mục đích của mình Việc sử dụng lực lượng, phương tiện không đúng nơi, đúng lúc, đúng thời

cơ, không phù hợp với môi trường, hoàn cảnh sẽ làm hạn chế kết quả hoạt động thực tiễn, thậm chí dẫn đến thất bại

Thứ ba, phát hiện và giải quyết mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn kịp thời, chính xác

Phát hiện và giải quyết kịp thời, chính xác các mâu thuẫn tạo ra động lực thúc đẩy thực hiện mục đích là yếu tố quan trọng hợp thành năng lực thực tiễn của cán bộ, nhất là đối với những hoạt động thực tiễn có phạm vi rộng, thời gian dài, đối tượng phức tạp

Trang 6

Thực tế cho thấy, vẫn còn một bộ phận cán bộ chưa xác định rõ những mâu thuẫn phát sinh trong thực tiễn công tác như mâu thuẫn nào là cơ bản, chủ yếu; giữa mục đích với phương pháp thực hiện; giữa lực lượng, phương tiện với phương thức thực hiện nhiệm vụ; giữa cá nhân với tổ chức… để có giải pháp phù hợp giải quyết, xử lý chính xác, kịp thời trong quá trình thực hiện mục đích đề ra

Thứ tư, gắn bó, say mê với hoạt động thực tiễn

Trong hoạt động thực tiễn của mỗi cán bộ bao giờ cũng có sự thống nhất không thể tách rời giữa quyền lợi và nghĩa vụ, thuận lợi và khó khăn, thành công và thất bại Cán bộ tâm huyết, gắn bó với hoạt động thực tiễn sẽ sẵn sàng chấp nhận hy sinh, gian khổ, không chỉ tìm thấy niềm vui khi thuận lợi, thành công, mà còn tìm thấy niềm vui khi vượt qua những khó khăn, thử thách, chinh phục được những đỉnh cao, vượt qua được chính mình

và được xã hội thừa nhận, qua đó giúp họ không ngừng nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn Tuy nhiên, trong thực tiễn không ít cán bộ chưa say mê với công việc, thiếu tinh thần khắc phục khó khăn, ngại khó, ngại khổ, e ngại, không dám nghĩ, dám làm, nhất là đối với các nhiệm vụ mới Một trong những đòi hỏi đối với cán bộ trong hoạt động thực tiễn là phải “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”(4),

có như vậy năng lực thực tiễn của cán bộ mới ngày càng được nâng cao

Thứ năm, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động thực tiễn

Kịp thời kiểm tra, đánh giá kết quả, xác định đúng nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc là thuộc tính quan trọng tạo nên năng lực thực tiễn của cán bộ Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động thực tiễn thực chất là quá trình tự ý thức về bản thân mình, vì vậy đòi hỏi cán bộ phải có tâm lý nghiêm túc và phương pháp khoa học thể hiện ý chí, quyết tâm để đạt được mục đích đã xác định Trong kiểm tra, đánh giá cần sử dụng lực lượng phù hợp nhằm phát hiện, giải quyết mâu thuẫn, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, điều chỉnh kế hoạch, đề ra phương hướng, giải pháp mới để hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả cao

Trang 7

Thực tiễn cho thấy, còn một bộ phận cán bộ coi nhẹ công tác kiểm tra, đánh giá, biểu hiện ở việc đơn giản trong phương pháp và tác phong, thiếu sâu sát, tỉ mỉ, máy móc dẫn đến làm sai lệch kết quả đạt được hoặc kiểm tra, đánh giá không thực chất làm cho hoạt động thực tiễn kém hiệu quả

1.3 Nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa với người lãnh đạo quản lý, liên hệ thực

tiễn nơi công tác

-Thứ nhất, ảnh hưởng của một số lý thuyết quản lý đến sự hình thành tâm lý và kỹ năng trong hoạt động lãnh đạo, quản lý

Những nội dung cần phân tích, triển khai đáp ứng tư tưởng chủ đạo và mục đích, yêu cầu của hướng nghiên cứu bao gồm:

1 Thao tác hóa một số khái niệm công cụ: tâm lý, lãnh đạo, quản lý

Thao tác hóa khái niệm, nghĩa là triển khai cùng người học để những khái niệm có tính học thuật, trừu tượng được hiểu một cách “dung dị” hơn và có tính thiết thực hơn ví dụ: khi trao đổi về khái niệm tâm lý, không cần quá phân tích đầy đủ: “tâm lý là khái niệm để chỉ tất cả các chức năng, quá trình, hoạt động tâm lý và những kết quả của chúng, phát sinh trên cơ sở những chức năng, quá trình và hoạt động sinh lý học của hệ thần kinh cấp cao Tâm lý phản ánh thực tại khách quan vào óc người và điều khiển hoạt động người trong quan hệ với thế giới chung quanh ” Tâm lý là những yếu tố bên trong phản ánh đời sống tinh thần của con người” mà cần phân tích nhấn mạnh: những yếu tố bên trong nó là gì? và vai trò của nó trong điều hành các hành vi, hoạt động của con người nói chung, người lãnh đạo nói riêng trong thực tiễn hiện nay như thế nào?

2 Giới thiệu một số lý thuyết quản lý trong lịch sử, các học thuyết quản lý Ví dụ: X.Y.Z hay F.Hezberg song, đặc biệt chú trọng đến các mô hình và phương thức lãnh

Trang 8

đạo, quản lý trong những lý thuyết có tính đương đại, hiện hành được giới nghiên cứu và lãnh đạo hiện nay quan tâm như: lý thuyết Pareto - 80/20 áp dụng trong phương thức lãnh đạo, quản lý hiện nay hoặc áp dụng lãnh đạo, quản lý theo mô hình “đầu tầu” và “con cua”

- Thứ hai, những nghiên cứu về chủ thể lãnh đạo

Khoa học lãnh đạo xét đến cùng là nghiên cứu, đào tạo nhằm hình thành và phát triển kỹ năng lãnh đạo cho chủ thể/người lãnh đạo Chủ đề này cần được tiếp cận trên ba nội dung cơ bản:

+ Chủ thể lãnh đạo với cấu trúc: tầm; tâm; tài Những tiêu chí của: tầm, tâm, tài đáp ứng được thực tiễn hoạt động lãnh đạo hiện nay cho chủ thể là gì? cơ sở tâm lý và con đường nào để chủ thể lãnh đạo hoàn thiện cấu trúc ?

+ Nghệ thuật sử dụng quyền lực chính trị trong lãnh đạo của chủ thể đặt trong giải quyết mối quan hệ hữu cơ giữa quyền lực vị trí với quyền lực cá nhân người lãnh đạo trong thể chế chính trị hiện nay ở nước ta

+ “Thuật” lãnh đạo: hình thành chiến lược, từ tư duy lãnh đạo khoa học đến nghệ thuật thực hành lãnh đạo; lãnh đạo hướng đến nhân viên - củng cố niềm tin và chiến lược xây dựng lòng trung thành; không lãnh đạo bằng quyền lực; lãnh đạo như không lãnh đạo; không lãnh đạo bằng miệng mà lãnh đạo bằng sự ảnh hưởng; lãnh đạo bằng nhiệt huyết và lòng trắc ẩn

- Thứ ba, xây dựng êkíp và tổ chức, quản lý nguồn nhân lực

Khoa học lãnh đạo đương đại đặt nghiên cứu “lãnh đạo sự thay đổi” là một trong những nội dung cốt yếu của quá trình tổ chức thực hành lãnh đạo trong điều kiện và xu thế phát triển hiện nay Xây dựng êkip và tổ chức quản lý nguồn nhân lực là vấn đề có

Trang 9

mục đích góp phần đáp ứng ý tưởng nghiên cứu lãnh đạo, quản lý sự thay đổi Vấn đề này được cụ thể hóa trên những nội dung:

+ Tổ chức êkip làm việc hiệu quả - những tiêu chức cơ bản

+ Chiến lược quy hoạch nguồn nhân lực: tổ chức các hoạt động chiêu tuyển; đánh giá, lựa chọn; sắp xếp; quy hoạch; đào tạo; luân chuyển cán bộ, nhân viên

+ Chiến lược sử dụng nguồn nhân lực: lựa chọn và xác định nhân viên là đối tượng phụ thuộc hay là chủ thể hoạt động Sự lựa chọn và xác định này có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng “chảy máu chất xám” thời gian gần đây là quan niệm không đúng về “đối tượng” xem như một “công cụ để sai bảo”

+ Những mô hình chính trong quản lý nguồn nhân lực:

Lấy cá nhân làm trung tâm, tập trung ảnh hưởng kiểu gia đình trị trong truyền thống Mô hình người lãnh đạo là hạt nhân, tập trung mọi quyền lực Người lãnh đạo chỉ tập trung áp chế nhân công, chú ý đến sự cống hiến của nhân viên mà thiếu tôn trọng tự

do sáng tạo và bảo vệ quyền lợi cho nhân viên Nhân viên chỉ là công cụ tạo lợi nhuận, không có quyền tham gia vào việc hoạch địch các phương hướng phát triển

Cá nhân làm trung tâm nhưng theo hướng quản lý tập thể Nhận rõ và nhấn mạnh vai trò người đứng đầu, song người đứng đầu nhận thức rõ trách nhiệm “đại diện” của mình để tổ chức, khai thác trí tuệ tập thể theo nguyên tắc “tập trung dân chủ” Trong mô hình này, nhân viên được coi là chủ thể hoạt động dưới định hướng và sự quản lý, khích

lệ của hạt nhân lãnh đạo Mọi nhân viên đều được bày tỏ chính kiến và thể hiện sự năng động trong việc tham gia tích cực vào các công việc và chính sách Mối quan hệ giữa lãnh đạo với nhân viên có sự gắn kết trên tinh thần dân chủ và đồng thuận

Trang 10

Tập thể lãnh đạo kiểu cũ Mô hình nhiều người lãnh đạo, nên không thấy vai trò người chỉ huy cao nhất Mọi trách nhiệm không được quy định cụ thể cho một cá nhân nào Nhiều công việc thường dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc” Tiến độ công việc trì trệ, chất lượng công việc không cao Mô hình này thường xuất hiện nhiều “hội đồng” kiểm duyệt; nhiều cuộc họp “quán triệt” Chỉ có một số ít làm việc thực sự Quản

lý theo kiểu “chỉ tay năm ngón” thường ít được lựa chọn Những cá nhân tích cực thường

ít có cơ hội tham gia hội đồng

- Thứ tư, chiến lược xây dựng lòng trung thành cho nhân viên

+ Phát hiện tiềm năng lãnh đạo cho nhân viên Tạo cơ hội phấn đấu cho nhân viên

là một trong những vấn đề cốt yếu của người lãnh đạo Qua đó, người lao động ý thức được sự tôn trọng của cấp trên Họ cảm thấy hài lòng về các nhu cầu làm việc của mình được thỏa mãn Cơ sở khoa học trong xây dựng chiến lược là sự nhận diện tâm lý nhân viên thông qua định dạng tâm lý các nhóm đối tượng cùng các hiện tượng tâm lý: nhu cầu; định hướng giá trị; bầu không khí tâm lý; dư luận xã hội; truyền thống; xung đột và với các hiện tượng tâm lý khác

+ Hình thành kỹ năng ứng xử trong quá trình giao tiếp lãnh đạo Giao tiếp là một phương thức quan hệ có ý nghĩa tích cực trong quá trình hiểu biết về nhau giữa lãnh đạo với nhân viên Trong mối quan hệ đó thường xuất hiện hai hình thức: ứng xử theo các tình huống và giao tiếp với nghĩa là quá trình Hình thành kỹ năng ứng xử trong tổ chức giao tiếp của chủ thể, sẽ giúp người lãnh đạo chủ động hơn trong nhận bắt tâm lý để gây ảnh hưởng và gắn kết sự hợp tác của nhân viên

+ Hình thành và giáo dục niềm tin cho nhân viên Niềm tin không chỉ là một giá trị với tính cách là tri thức mà còn là nhu cầu kích thích con người đòi thỏa mãn và hiện thực hóa Do vậy, hình thành và giáo dục niềm tin cho nhân viên là một vấn đề trọng yếu nhất trong chiến lược xây dựng lòng trung thành cho nhân viên hiện nay Mọi sự “duy lý” khiên cưỡng; mọi sự áp đặt “duy ý chí” trong hình thành và giáo dục niềm tin của người

Ngày đăng: 19/03/2023, 22:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w