MỤC LỤC Lớp kinh tế quốc tế 49A Đề án môn học Lớp kinh tế quốc tế 49A Đề án môn học MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 1LỜI MỞ ĐẦU 11 Tính cấp thiết 22 Đối tượng nghiên cứu 23 Phạm vi ng[.]
Tính cấp thiết
Sau khi mở cửa nền kinh tế vào cuối năm 1986, Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn và thử thách để đạt được những thành tựu phát triển ngày càng lớn Việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự hội nhập sâu rộng của nền kinh tế nước ta Với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia trên thế giới”, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với 191 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ với Liên minh châu Âu giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế.
EU là thị trường xuất khẩu tiềm năng và nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam, dù xếp thứ 5, 6 về vốn đăng kí nhưng có vốn thực hiện lớn thứ 2 với 4,8 tỷ USD chiếm 14,37% tổng vốn thực hiện tính đến năm 2007 Vốn thực hiện đã tăng nhanh, đạt khoảng 7 tỷ USD năm 2008, chiếm tới 60% vốn đăng ký và gấp khoảng 4 lần mức trung bình của các nhà đầu tư tại Việt Nam trong cùng năm Do đó, có thể xem EU là nhà đầu tư lớn thứ hai tại Việt Nam sau Nhật Bản.
Trong thời gian gần đây, Hà Lan đã nổi lên là một trong những nhà đầu tư hàng đầu trong số các quốc gia thuộc EU đầu tư vào Việt Nam Tính đến tháng 12/2009, Hà Lan đã xếp trong nhóm các nhà đầu tư lớn nhất, thể hiện mối quan tâm ngày càng tăng của quốc gia này đối với thị trường Việt Nam Các dự án đầu tư của Hà Lan không chỉ góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam mà còn mở ra nhiều cơ hội hợp tác dài hạn giữa hai nước Nhờ vào môi trường đầu tư hấp dẫn và chính sách thân thiện, Hà Lan đang trở thành đối tác chiến lược quan trọng tại Việt Nam hiện nay.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, các nước thuộc khối Liên minh châu Âu đã đầu tư khoảng 2,9 tỷ USD vào Việt Nam, xếp sau Pháp với 3 tỷ USD Đặc biệt, Hà Lan đã đầu tư hơn 2,2 tỷ USD vào Việt Nam, tăng hơn 300 lần so với cùng kỳ năm 2009, chiếm 26% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong năm (Báo cáo đầu tư nước ngoài của Việt Nam năm 2009 và 6 tháng đầu năm 2010 – Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư)
Hà Lan là một quốc gia có diện tích nhỏ, khoảng 41 nghìn km², dân số 16,5 triệu người, trong đó khoảng 30% sống dưới mực nước biển Tuy nhiên, nền kinh tế Hà Lan phát triển nhanh, với tốc độ tăng trưởng trung bình từ 2000-2008 là 1,8% và GDP bình quân đầu người khoảng 40.000 USD (2008) Tỉ lệ thất nghiệp và lạm phát ở Hà Lan rất thấp, chỉ khoảng 2% mỗi năm Hà Lan có thế mạnh trong các lĩnh vực xây dựng, hóa chất, khai thác dầu khí, công nghiệp chế biến máy móc và thiết bị điện tử, vi điện tử, nông sản, thực phẩm, với các tập đoàn lớn như Akzo Nobel, Gemco Industries, Peja, Philips, IHC Holland NV Tuy nhiên, các dự án đầu tư của Hà Lan tại Việt Nam chủ yếu là các dự án nhỏ, tập trung vào ngành chế biến nông sản và khai thác dầu khí, chưa phản ánh đúng tiềm năng kinh tế của cả hai quốc gia.
Nhận thấy vai trò quan trọng của Hà Lan trong quá trình thu hút vốn đầu tư của Việt Nam, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Lan vào Việt Nam” làm đề án môn học Đề tài này nhằm phân tích tác động và xu hướng đầu tư của Hà Lan vào thị trường Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức về mối quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia Việc nghiên cứu này giúp làm rõ các chiến lược thu hút vốn FDI từ Hà Lan, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy sự phát triển của các dự án đầu tư trong tương lai.
Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 3 chương chính:
Chương 1: Những vấn đề chung về FDI và kinh nghiệm thu hút FDI từ Hà Lan của một số nước
Chương 2: Thực trạng thu hút FDI của Hà Lan tại Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cương thu hút FDI của Hà Lan vào ViệtNam
Những vấn đề chung về FDI và kinh nghiêm thu hút FDI từ Hà Lan của một số nước
Những vấn đề chung về FDI
Từ khi xuất hiện, có nhiều tổ chức kinh tế cố gắng đưa ra định nghĩa tổng quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), FDI xảy ra khi nhà đầu tư từ một quốc gia sở hữu tài sản ở quốc gia khác cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là yếu tố giúp phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản tại nước ngoài đều là các cơ sở kinh doanh, và trong những trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài.
"công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty"
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) được định nghĩa là khoản đầu tư mang tính lâu dài, trong đó nhà đầu tư trực tiếp từ một nền kinh tế khác thu lợi ích bền vững từ doanh nghiệp đặt tại quốc gia đó Mục tiêu của nhà đầu tư là muốn nâng cao ảnh hưởng và tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế và mở rộng thị trường quốc tế.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vốn bằng tiền hoặc các tài sản được chính phủ Việt Nam chấp thuận vào Việt Nam để hợp tác kinh doanh Đây bao gồm các hình thức như hợp đồng hợp tác, thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, phù hợp với quy định của luật này.
Luật đầu tư 2005 tại Việt Nam quy định rằng: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác vào Việt Nam để thực hiện hoạt động đầu tư Điều này nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế và phát triển các dự án đầu tư đa dạng trong nước Việc đầu tư này giúp tăng cường nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư quốc tế Các dự án đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mở rộng thị trường tại Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động nhà đầu tư từ một quốc gia đưa vốn hoặc tài sản vào quốc gia khác để sở hữu, quản lý hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế nhằm tối đa hóa lợi ích Tài sản trong FDI có thể là tài sản hữu hình như máy móc, thiết bị, bất động sản, hợp đồng có giá trị; tài sản vô hình như quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết, kinh nghiệm quản lý; hoặc tài sản tài chính như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ Đây là hình thức đầu tư mang lại lợi ích chiến lược và thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia.
FDI là dạng quan hệ kinh tế trong đó có sự dịch chuyển tư bản quốc tế và chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn cũng như quản lý đối tượng đầu tư Đây đặc trưng của FDI thể hiện qua việc các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn và tham gia vào quá trình quản lý doanh nghiệp tại quốc gia đầu tư Việc liên kết quốc tế trong FDI giúp thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng cường chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường FDI đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhờ sự kết hợp giữa dịch chuyển vốn và vai trò của nhà đầu tư trong quá trình sản xuất và quản lý.
1.1.2 Các hình thức của FDI
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư theo 7 hình thức khác nhau, bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, đầu tư theo hợp đồng BCC, BOT, BT và BTO, mua cổ phần và góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư, cũng như đầu tư thực hiện mua lại, sáp nhập doanh nghiệp và phát triển kinh doanh Trong số đó, có 3 hình thức chủ yếu và phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh và hợp đồng EPC.
1.1.2.1 Doanh nghiệp liên doanh Đây là hình thức đầu tư do hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam dựa trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Đặc điểm của hình thức này là các bên nước ngoài tham gia kinh doanh cùng với nước chủ nhà sẽ cùng góp vốn, cùng hưởng lợi cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Theo quy định luật pháp Việt Nam, phần vốn góp của các bên nước ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp không bị hạn chế mức cao nhất theo thỏa thuận của các bên nhưng không được dưới 30%. Đây là hình thức đầu tư được áp dụng phổ biến nhất trên thế giới, được các quốc gia sử dụng làm công cụ để thâm nhập thị trường nước ngoài Tuy nhiên, Việc đầu tư theo hình thức này cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định phụ thuộc vào góc độ xem xét của các bên liên quan. Đối với chủ đầu tư:
Thứ nhất, tận dụng được hệ thống phân phối sẵn có của đối tác nước sở tại
Vào thứ hai, doanh nghiệp có thể tập trung đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh có khả năng sinh lời cao, đồng thời cần lưu ý tránh các ngành bị cấm hoặc hạn chế đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và tối ưu hóa lợi nhuận.
Thứ ba, khả năng thâm nhập vào thị trường truyền thống của nước chủ nhà một cách nhanh chóng và tiết kiệm thời gian, chi phí cho nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ kinh doanh Thứ tư, chia sẻ chi phí và giảm thiểu rủi ro hiệu quả nhờ sự hợp tác với các đối tác đầu tư khác, nâng cao khả năng thành công của dự án.
Thứ nhất, sự khác biệt về cách nhìn nhận chi phí đầu tư giữa các bên đối tác dễ gây khó khăn cho việc hợp tác kinh doanh.
Thứ hai, quá trình thương lượng các vấn đề liên quan đến dự án đầu tư mất nhiều thời gian, đặc biệt là trong việc định giá tài sản góp vốn và giải quyết các vấn đề về việc làm cho lao động của đối tác trong nước.
Việc thiếu chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp có thể dẫn đến mất cơ hội kinh doanh do khác biệt về văn hóa, tập quán và cách tiếp cận vấn đề Đối với nước tiếp nhận đầu tư, lợi ích nổi bật bao gồm giải quyết tình trạng thiếu vốn, thúc đẩy đổi mới công nghệ và mở rộng thị trường mới Ngoài ra, đầu tư nước ngoài còn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động trong nước và mang lại cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các quốc gia tiên tiến.
Nhược điểm của doanh nghiệp Việt Nam gồm gặp khó khăn trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến dự án đầu tư và đối mặt với mâu thuẫn trong quá trình điều hành Các nhà đầu tư nước ngoài thường chú trọng đến lợi ích toàn cầu, dẫn đến các nhà đầu tư Việt Nam đôi khi phải chịu thiệt thòi về lợi ích.
1.1.2.2 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là loại hình doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn tại Việt Nam Điều này cho phép nhà đầu tư nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam mà không cần phải liên doanh với các đối tác địa phương Việc thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư quốc tế thực hiện các dự án kinh doanh, góp phần thúc đẩy hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động độc lập dưới sự quản lý và giám sát của chủ đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, nó vẫn bị ảnh hưởng bởi môi trường kinh doanh, điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế của quốc gia sở tại Ngoài ra, pháp luật và các quy định của địa phương cũng trực tiếp tác động đến hoạt động của doanh nghiệp này.
Các nhân tố thúc đẩy đầu tư nước ngoài
1.2.1 Chênh lệch năng suất cận biên giữa các nước
Các nhà kinh tế cho rằng, một quốc gia thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn, trong khi quốc gia thiếu vốn lại có năng suất cận biên cao hơn, dẫn đến dòng vốn chảy từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là doanh nghiệp chỉ đầu tư vào các hoạt động có năng suất cận biên cao, bởi vì nhiều hoạt động quan trọng, mang tính sống còn, vẫn được doanh nghiệp tự sản xuất dù năng suất cận biên của chúng thấp.
1.2.2 Chu kì sản phẩm Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kì sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đọan sản phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Sản phẩm mới ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện(giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
1.2.3 Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Các công ty đa quốc gia tận dụng lợi thế về năng lực cơ bản để vượt qua các trở ngại về chi phí tại nước ngoài, từ đó sẵn sàng đầu tư trực tiếp vào các thị trường mới Khi lựa chọn địa điểm đầu tư, họ ưu tiên những nơi có điều kiện thuận lợi về lao động, đất đai và chính trị nhằm phát huy các lợi thế cạnh tranh của mình Các doanh nghiệp này thường có lợi thế về vốn và công nghệ, nhắm tới những quốc gia có nguồn nguyên liệu phong phú, lao động giá rẻ và thị trường tiêu thụ tiềm năng để mở rộng hoạt động kinh doanh.
1.2.4 Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc
1.2.5 Tiếp cận nguồn tài nguyên Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.
Sự cần thiết tăng cường thu hút FDI của Hà Lan vào Việt Nam
1.3.1.1 Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế
Đóng góp của vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt từ Hà Lan, đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian qua Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vượt bậc với tốc độ 5,3% năm 2009 và 6,2% năm 2008, phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ của cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa Sự xuất hiện của nhiều ngành công nghiệp mới đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu đời sống của người dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
1.3.1.2 Góp phần chuyển dịch kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
Trong những năm qua, khu vực đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, với tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp vượt mức trung bình toàn quốc Hiện tại, Hà Lan là một trong những nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực dầu khí, công nghiệp nặng và công nghiệp thực phẩm, chiếm đến 75,16% tổng vốn đầu tư của Hà Lan với 1.532 triệu USD tính đến cuối năm 2005 Bên cạnh đó, Hà Lan còn đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch vụ như bán buôn, bán lẻ hàng hoá và các dịch vụ tiếp thị, bán hàng, mở ra cơ hội phát triển các ngành mũi nhọn của Việt Nam, nâng cao chất lượng và tốc độ phát triển ngành dịch vụ quốc gia.
1.3.1.3 Thúc đẩy chuyển giao công nghệ
Hà Lan được coi là một quốc gia có nền công nghiệp phát triển mạnh, nổi bật với các lĩnh vực như khai thác dầu khí, xây dựng, hóa chất và sản xuất máy móc điện tử, đòi hỏi công nghệ sản xuất cao mà Việt Nam hiện chưa đáp ứng được Nền nông nghiệp của Hà Lan phát triển vượt bội với năng suất cao, được mệnh danh là "vườn rau của thế giới", chiếm 7,7% thị phần nông sản toàn cầu, trong đó hoa chiếm 60%, đồng thời là nhà xuất khẩu nông sản lớn thứ hai châu Âu sau Pháp (Nguồn: Vietnamembassy.nl) Trong khi đó, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế về kỹ thuật sản xuất lạc hậu không đủ để thúc đẩy sự phát triển bền vững Do đó, việc Hà Lan đầu tư vào Việt Nam góp phần chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, giúp cải thiện công nghệ và thúc đẩy tăng trưởng các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam.
1.3.1.4 Tác động lan tỏa tới các thành phần khác trong nền kinh tế
Thông qua mối liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp trong nước, công nghệ cùng năng lực kinh doanh được chuyển giao hiệu quả từ các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tới các thành phần khác của nền kinh tế Sự lan tỏa này diễn ra theo cả chiều dọc giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, cũng như theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề tương tự Hiện nay, tính đến năm
Năm 2005, Hà Lan đã có 20 dự án đầu tư liên doanh với tổng vốn đăng ký 280,1 triệu USD, cùng với 3 dự án theo hình thức BCC và 37 dự án vốn nước ngoài 100% Các dự án này không chỉ thúc đẩy chuyển giao công nghệ mà còn giúp các doanh nghiệp trong nước học hỏi kỹ năng quản lý, kinh nghiệm làm việc và phương thức kinh doanh hiệu quả từ các doanh nghiệp Hà Lan.
1.3.1.5 Đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và cân đối vĩ mô
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước tại Việt Nam Trong giai đoạn 1996-2000, thu từ các doanh nghiệp FDI đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với 5 năm trước đó, thể hiện sự tăng trưởng nhanh chóng Trong 5 năm tiếp theo (2001-2005), thu ngân sách từ khu vực doanh nghiệp FDI vượt mốc 3,6 tỷ USD, với mức tăng trung bình 24% hàng năm Ngoài ra, FDI còn thúc đẩy cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, và cán cân thanh toán quốc tế nhờ việc chuyển vốn vào Việt Nam, mở rộng nguồn thu ngoại tệ thông qua khách quốc tế, tiền thuê đất, mua máy móc và nguyên vật liệu, góp phần nâng cao vị thế kinh tế quốc gia.
1.3.1.6 Góp phần mở rộng và nâng cao quan hệ quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu
Khu vực đầu tư nước ngoài đã tăng tốc mạnh mẽ trong kim ngạch xuất khẩu, vượt xa mức trung bình cả nước và góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng chung của xuất khẩu quốc gia Các doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng lớn trong một số ngành hàng chủ lực như dầu khí (100%), điện tử, máy tính và linh kiện (84%), da giày (42%) và may mặc (35%) Nhờ mạng lưới phân phối rộng khắp của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã mở rộng thị trường ra quốc tế, thúc đẩy xuất khẩu ngày càng phát triển.
1.3.2 Đối với Hà Lan Đầu tư dưới hình thức FDI tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư Hà Lan có thể kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và có thể đưa ra những quyết định có lợi nhất, do đó vốn đầu tư được sử dụng với hiệu quả cao Mặc dù các nhà đầu tư Hà Lan đến Việt Nam tương đối muộn (từ năm 1991) nhưng đầu tư của Hà Lan tăng nhanh từ chỗ chỉ có 3 dự án với tổng số vốn đầu tư 110 triệu USD năm 1991 lên tới 110 dự án với tổng số vốn là 2.798,5 triệu USD tính đến hết năm 2008 Như vậy có thể thấy rằng các nhà đầu tư Hà Lan ngày cành nhận thấy những thuận lợi khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam (Nguồn:
Báo cáo đầu tư nước ngoài của Việt Nam – Cục đối ngoại Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư).
Các nhà đầu tư Hà Lan ưu tiên hình thức đầu tư FDI để vượt qua hàng rào bảo hộ thị trường và mở rộng thị phần tại Việt Nam Đầu tư trực tiếp giúp các tập đoàn như Pepsi – IBC, Ulilever Bestfood, Panasonic Holding BV, Metro Cash & Carry, cùng hai ngân hàng quốc tế ABB Ambro và ING dễ dàng thâm nhập thị trường, tận dụng mạng lưới phân phối sẵn có và giảm thiểu chi phí nghiên cứu thị trường Hình thức liên doanh còn giúp các doanh nghiệp Việt Nam và Hà Lan hợp tác, quảng bá thương hiệu và tăng cường xuất khẩu sản phẩm hiệu quả hơn.
Các nhà đầu tư có thể giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm bằng cách tận dụng nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Việt Nam với dân số 86 triệu dân (tính đến 2009) là một quốc gia có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào và giá thuê nhân công cạnh tranh Ngoài ra, tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng nhiều khoáng sản chưa khai thác hết tiềm năng là những lợi thế lớn thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại thị trường Việt Nam.
1.4 Kinh nghiệm thu hút FDI của Hà Lan từ một số nước
1.4.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc
Trung Quốc thúc đẩy chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thông qua các hình thức đa dạng như hợp đồng sản xuất, liên doanh và thành lập các khu đặc biệt để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư quốc tế.
Chính sách chính yếu để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Trung Quốc là chính sách thuế, với các mức thuế ưu đãi phù hợp Trung Quốc áp dụng nhiều loại thuế riêng biệt cho các hình thức đầu tư như hợp tác liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Các doanh nghiệp liên doanh phải đóng thuế lợi tức ở mức 30%, cộng thêm 10% thuế địa phương Trong khi đó, các doanh nghiệp sở hữu 100% vốn nước ngoài có mức thuế lợi tức từ 20% đến 40%, kèm theo mức thuế 10% dành cho địa phương, nhằm khuyến khích các nhà đầu tư quốc tế đầu tư lâu dài tại Trung Quốc.
Trung Quốc miễn thuế nhập khẩu cho các mặt hàng như máy móc, thiết bị và bộ phận rời, đặc biệt là các vật liệu góp vốn liên doanh hoặc do nước ngoài cung cấp để khai thác dầu khí, phát triển năng lượng, xây dựng hạ tầng giao thông như đường sắt và đường bộ, cũng như các khu chế xuất Chính sách này nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế và phát triển các ngành công nghiệp trọng yếu của Trung Quốc.
Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư, giúp quá trình xin phép diễn ra nhanh chóng Sau khi nhận được giấy phép đầu tư, các thủ tục liên quan đến triển khai dự án như giải phóng mặt bằng, cấp điện, cấp nước, giao thông và môi trường được xử lý dứt điểm, đảm bảo tiến độ dự án Chính sách “một cửa” được áp dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào quốc gia này.
Indonesia khuyến khích đầu tư vào các dự án xuất khẩu để thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến thành phẩm và bán thành phẩm, đồng thời khuyến khích tiết kiệm ngoại tệ và chuyển giao công nghệ Chính phủ Indonesia cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng chuyên gia nước ngoài và lao động để nâng cao năng lực sản xuất và hội nhập toàn cầu Những chính sách này nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển ngành xuất khẩu của Indonesia.
Thực trạng thu hút FDI của Hà Lan vào Việt Nam
Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009
Sự ra đời của Bộ luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Trải qua hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã 4 lần sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài, góp phần thúc đẩy sự chuyển biến tích cực trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là trong lĩnh vực vốn FDI Trong hơn 10 năm thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam đã chứng kiến nhịp độ thu hút vốn khá cao, đến tháng 9/1997 đã có 2.175 dự án được cấp phép với vốn đăng ký lên tới 32,5 tỷ USD, trong đó khoảng 30% vốn thực hiện đã đi vào hoạt động, cho thấy sự hấp dẫn và tiềm năng lớn của thị trường Việt Nam đối với nhà đầu tư quốc tế.
Năm 2000 tổng số vốn đầu tư nước ngoài ( vốn đăng kí) ở Việt Nam đã lên đến trên
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2009, Việt Nam đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể về đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đầu tư đạt 41.217 triệu USD tính đến cuối năm 2001 và tổng số dự án đầu tư là 3.796 dự án Năm 2002, vốn cấp mới ước tính khoảng 2 tỷ USD, với vốn thực hiện trong năm đạt khoảng 2,2 tỷ USD, tăng 13,3% so với năm 2001 Đến năm 2009, Việt Nam thu hút 1.504 dự án FDI, tổng vốn đạt 21,482 tỷ USD, trong đó có 839 dự án mới với tổng số vốn đăng ký là 16,34 tỷ USD, tăng 24,6% so với năm 2008, cùng 215 dự án bổ sung vốn với tổng vốn tăng thêm là 5,13 tỷ USD, bằng 98,3% so với năm 2008 (Nguồn: Báo cáo đầu tư nước ngoài của Việt Nam 2008, 2009 – Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Trong bảng xếp hạng dự án của Cục Đầu tư nước ngoài năm 2009, lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm số vốn lớn nhất với 8,8 tỷ USD, thể hiện sức hút mạnh mẽ của ngành này đối với nhà đầu tư Kế đến là ngành kinh doanh bất động sản, đạt vốn đăng ký 7,6 tỷ USD, góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đứng thứ ba với quy mô vốn đăng ký 2,97 tỷ USD, mở ra nhiều cơ hội trong ngành công nghiệp chế tạo của Việt Nam.
Trong năm 2009, Hoa Kỳ dẫn đầu danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, chiếm 45,6% tổng vốn đầu tư Đây tiếp tục là năm Hoa Kỳ duy trì vị trí nhà đầu tư lớn nhất vào thị trường Việt Nam, cùng với các quốc gia khác góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.
Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp tục là địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhất, phản ánh sức hút mạnh mẽ của khu vực này đối với các nhà đầu tư Sau đó, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai và Phú Yên cũng là các địa phương nổi bật về thu hút vốn FDI, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh thành phía Nam Vốn thực hiện tại các địa phương này ghi nhận mức tương đối cao, ước đạt tạo đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế địa phương và khẳng định vị thế của Việt Nam trong thu hút đầu tư quốc tế.
10 tỷ USD, bằng 87% so với năm 2008.
Thực trạng thu hút FDI của Hà Lan vào Việt Nam giai đoạn 2000 – 2009
2.2.1 Xu hướng vốn đầu tư của Hà Lan vào Việt Nam
Hà Lan luôn nằm trong top 20 quốc gia có FDI lớn nhất vào Việt Nam, dù đến Việt Nam muộn hơn (từ năm 1991) Sự đầu tư của Hà Lan đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và gia tăng hợp tác thương mại giữa hai nước Với tiềm năng lớn và chiến lược đầu tư bền vững, Hà Lan trở thành đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực.
Hà Lan tăng nhanh từ chỗ chỉ có 3 dự án với tổng số vốn đầu tư là 110 triệu USD năm
Từ năm 1991, giá trị vốn đầu tư của Hà Lan đã tăng đáng kể, đạt 460 triệu USD vào năm 1996 Đến năm 2008, Hà Lan đã triển khai hơn 110 dự án với tổng vốn đăng ký lên tới 2,8 tỷ USD, trong đó hơn 2 tỷ USD vốn đã được triển khai thực hiện, thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của các dự án đầu tư quốc tế trong nước.
Việt Nam – Liên minh châu Âu đang đối mặt với thực trạng và cần các giải pháp thích hợp để thúc đẩy hợp tác kinh tế Đến hết năm 2008, Hà Lan đã vượt lên vị trí thứ hai trong danh sách các nhà đầu tư EU tại Việt Nam, sau Pháp, và trở thành nhà đầu tư thứ 14 của Việt Nam Năm 2009, số vốn và dự án đầu tư của Hà Lan tại Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, từ 110 dự án với 2,8 tỷ USD vốn đăng ký lên 124 dự án với 3 tỷ USD vốn đăng ký, cho thấy sự phát triển đáng kể trong hợp tác đầu tư giữa Hà Lan và Việt Nam.
Pháp là một trong những quốc gia châu Âu đầu tư vào Việt Nam, với số lượng dự án FDI lên tới 240 dự án theo báo cáo đầu tư nước ngoài năm 2008 và 2009 của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư Mặc dù số dự án của Hà Lan chỉ bằng một phần ba so với Pháp, song tổng vốn đăng ký và thực hiện của Pháp cũng chỉ cao hơn một chút so với Hà Lan.
Năm 2008, tổng vốn đăng ký đầu tư của các quốc gia nổi bật là 2,931 tỷ USD và 1,940 tỷ USD, cho thấy quy mô lớn trong các dự án quốc tế Trong khi đó, Hà Lan chỉ với 110 dự án nhưng vẫn ghi nhận số vốn đăng ký 2,798 tỷ USD và 1,562 tỷ USD, thể hiện sự tập trung đầu tư chất lượng cao Các con số này phản ánh sự đa dạng và phân bổ đầu tư toàn cầu, góp phần vào sự phát triển kinh tế của từng quốc gia.
Bảng 2.1 10 nước có đầu tư cao nhất vào Việt Nam giai đoạn 1991- 2007
Nước và vùng lãnh thổ
Vốn đầu tư ( tỷ USD)
Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện
Nguồn: tạp chí kinh tế và dự báo số 1/2008
Trong giai đoạn 1991 – 2007, Hà Lan đứng thứ 9 trong danh sách các nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam với tổng cộng 84 dự án, vốn đăng ký đạt 2,592 tỷ USD và vốn thực hiện là 2,027 tỷ USD Dù có số dự án ít nhất trong Top 10 quốc gia, Hà Lan lại có tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký cao nhất là 0,78, cho thấy sự cam kết mạnh mẽ của nhà đầu tư Hà Lan So với Hàn Quốc, quốc gia có nhiều dự án lớn nhất (1.837 dự án) nhưng tỷ lệ vốn thực hiện chỉ đạt 0,2, điều này chứng tỏ rằng hầu hết các dự án của Hà Lan đều được thực hiện đúng cam kết, ít bị thất bại hoặc kết thúc trước thời hạn.
Vốn điều lệ của Hà Lan trong các dự án tại Việt Nam khá cao, với 1,479 tỷ đồng cho 84 dự án, thể hiện quy mô trung bình của mỗi dự án của Hà Lan lớn hơn nhiều so với các nhà đầu tư khác Trong khi đó, Hoa Kỳ có nhiều dự án hơn (384 dự án) nhưng tổng vốn điều lệ chỉ khoảng 1,436 tỷ USD, thấp hơn Hà Lan, cho thấy quy mô trung bình mỗi dự án của Mỹ nhỏ hơn nhiều Điều này cho thấy các nhà đầu tư Hà Lan thường có quy mô vốn lớn hơn so với các đối tác khác khi đầu tư tại Việt Nam.
Về xu hướng đầu tư, từ năm 1991 đến năm 2009, Hà Lan luôn luôn duy trì mức đầu tư cao và nhìn chung là tăng dần qua các năm.
Biểu đồ 2.1 Đầu tư mới của Hà Lan vào Việt Nam (2000 – 2009)
Nguồn: Bộ Kế Hoạch Đầu Tư
Dựa trên biểu đồ 2.1, số dự án đầu tư mới của Hà Lan vào Việt Nam từ năm 2000 đến 2008 có xu hướng tăng trưởng, nhưng tốc độ không nhanh Năm 2000, Hà Lan mới có 5 dự án đầu tư vào Việt Nam, đến năm 2008, số dự án đã tăng gấp 4 lần, đạt 21 dự án Thời kỳ 2002 và 2004 ghi nhận những biến động lớn về dòng vốn đầu tư, khi năm 2002 số dự án giảm mạnh xuống còn 2, tương đương khoảng 1,1 triệu USD, còn năm 2004 chỉ có 4 dự án mới với tổng vốn 48,2 triệu USD Tuy nhiên, từ năm 2005 đến 2008, đầu tư của Hà Lan vào Việt Nam bắt đầu có sự tăng trưởng ổn định.
Hà Lan liên tục mở rộng số lượng dự án và vốn đầu tư trong thời gian qua Năm 2005, quốc gia này có 10 dự án với tổng vốn đầu tư là 33,03 triệu USD, đến năm 2008, số dự án đã tăng lên 21 với tổng vốn đầu tư đạt 217,92 triệu USD Sự phát triển này thể hiện sự tăng trưởng đều đặn của Hà Lan về cả số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư trong giai đoạn này.
Hà Lan là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Vì vậy, số dự án đầu tư mới tại Hà Lan đã giảm rõ rệt, từ 21 dự án xuống còn ít hơn trước Điều này cho thấy tác động nghiêm trọng của khủng hoảng đối với hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế của đất nước.
(2008) xuống còn 14 dự án(2009) với tổng số vốn đăng kí chỉ bằng khoảng 0,5 lần so với năm 2008.
Mặc dù Hà Lan không phải là quốc gia có số lượng dự án đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, nhưng lại dẫn đầu về số dự án thành công và tỷ lệ vốn thực hiện cao Điều này cho thấy các nhà đầu tư Hà Lan khi đã quan tâm đến thị trường Việt Nam đều cam kết thực hiện các dự án đầu tư một cách hiệu quả và bền vững.
2.2.3 Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu
Hà Lan là một trong những quốc gia đầu tư lớn tại Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực như dầu khí, công nghiệp nặng và thực phẩm, chiếm tới 75,16% tổng vốn đầu tư của Hà Lan tại Việt Nam tính đến ngày 31/12/2005 Trong lĩnh vực dầu khí, có hai dự án với tổng vốn đầu tư 635,6 triệu USD đạt hiệu quả cao, với số vốn thực hiện vượt xa so với vốn đăng ký, đạt 171,7% Lĩnh vực công nghiệp nặng bao gồm 15 dự án, chiếm 34,93% tổng vốn đầu tư của Hà Lan, trong khi ngành công nghiệp thực phẩm, dù chỉ chiếm 9,06% tổng vốn, nhưng có vốn thực hiện khá lớn, tiêu biểu là dự án thành lập công ty nước giải khát Pepsi (Pepsi – IBC) với vốn đầu tư 130 triệu USD (Nguồn: Sách quan hệ kinh tế Việt Nam – Liên minh châu Âu: Thực trạng và triển vọng – NXB Giao Thông Vận Tải).
Hà Lan có nhiều dự án lớn về dịch vụ như dự án của Metro Cash & Carry xây dựng 8 trung tâm bán buôn hàng hóa với tổng vốn đầu tư 120 triệu USD, và dự án của Panasonic Holding BV cung cấp dịch vụ tiếp thị và bán hàng với số vốn đầu tư 98 triệu USD Ngoài ra, hai ngân hàng quốc tế nổi tiếng là ABN AMRO và ING cũng đang hoạt động mạnh mẽ tại đất nước này.
Bảng 2.2 Các lĩnh vực đầu tư của Hà Lan vào Việt Nam tính 24/07/2008
Lĩnh vực Số dự án Tỷ lệ phần trăm
So với tổng dự án (%)
Vốn đăng ký (tỷ USD)
Tỷ lệ phần trăm so với tổng vốn (%)
Nguồn: đại sứ quán Hà Lan tại Hà Lan
Tính đến ngày 24/07/2008, các dự án đầu tư của Hà Lan tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp, chiếm 48,9% số dự án với tổng vốn đăng ký đạt 2,04 tỷ USD, chiếm 78,5% vốn đầu tư Các ngành công nghiệp nhận đầu tư gồm công nghiệp nặng, nhẹ, dầu khí, thực phẩm và xây dựng, trong đó dầu khí và công nghiệp nặng là những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu do Hà Lan có thế mạnh về công nghệ và kinh nghiệm sản xuất Do Hà Lan là quốc gia khan hiếm tài nguyên dầu khí, họ thường xuyên tìm kiếm, thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên này từ các quốc gia khác Ngoài ra, Hà Lan còn có 39 dự án đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ với vốn đăng ký là 379,3 triệu USD, chiếm 41,5% số dự án và 14,5% tổng vốn đăng ký, bao gồm các dịch vụ đa dạng như tư vấn, du lịch, y tế, giao nhận vận tải, ngân hàng và hàng không, góp phần phát triển thị trường Việt Nam.
Nông nghiệp là ngành có số lượng dự án đầu tư ít nhất, tuy nhiên tổng vốn đăng ký lại khá cao với 1.807 triệu USD từ 9 dự án, chiếm 7% tổng vốn đầu tư Mặc dù số dự án đăng ký thấp, ngành nông nghiệp vẫn thu hút dòng vốn đáng kể, phản ánh tiềm năng phát triển lớn của lĩnh vực này Điều này thể hiện rằng, dù quy mô dự án không nhiều, ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong tổng thể đầu tư của nền kinh tế.
Đánh giá tình hình thu hút FDI của Hà Lan vào Việt Nam trong thời gian qua
2.3.1 Những thành tựu đạt được
Dù mới đến Việt Nam chưa lâu, nhưng sự có mặt của các nhà đầu tư FDI từ Hà Lan đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước Kể từ năm 1991, khi Hà Lan bắt đầu thực hiện các khoản đầu tư vào Việt Nam, hoạt động thu hút FDI từ Hà Lan đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế.
Các doanh nghiệp Hà Lan tại Việt Nam hiện chưa nhiều về số lượng, nhưng phần lớn hoạt động của họ đều mang lại hiệu quả tích cực, với tỷ lệ dự án thất bại hoặc rút vốn sớm rất thấp Mặc dù Hà Lan chỉ đứng thứ 14 về số vốn FDI đăng ký tại Việt Nam năm 2009, nhưng tỷ lệ vốn thực hiện của doanh nghiệp Hà Lan lại thuộc top cao nhất cả nước, chứng tỏ họ có khả năng chuyển đổi dự án thành công cao và giữ vững niềm tin vào thị trường Việt Nam.
1991 – 2007 là 0,78) Điều này chứng tỏ rằng các dự án đầu tư của Hà Lan hoạt động rất tốt phù hợp với thị trường Việt Nam.
Các dự án đầu tư của Hà Lan không chỉ mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp riêng lẻ mà còn góp phần thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chúng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp như công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và xây dựng, góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và phát triển các ngành công nghiệp còn yếu của nước ta Những dự án này rất có lợi cho quá trình đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững và tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Việc các công ty Hà Lan góp phần lan tỏa ảnh hưởng tích cực tới các thành phần khác của nền kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân, giúp doanh nghiệp thiếu kỹ năng quản lý và sản xuất học hỏi, tiếp cận công nghệ sẵn có một cách thuận lợi Đối với thành phần kinh tế nhà nước, sự trì trệ và cơ chế quan liêu là những hạn chế lớn, nhưng đây vẫn là thành phần chủ đạo, đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế quốc gia Vì vậy, đổi mới quản lý là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời, sự hợp tác với doanh nghiệp Hà Lan mang lại cơ hội học hỏi kỹ năng quản lý vĩ mô, kinh nghiệm lãnh đạo và hướng dẫn hoạt động, giúp cả hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển mạnh mẽ hơn.
Các hoạt động của các công ty Hà Lan đã thu hút hàng nghìn lao động Việt Nam, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân và giảm tình trạng thất nghiệp Năm 2009, gần 3 triệu lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có nhiều lao động làm việc tại các doanh nghiệp Hà Lan với mức lương trung bình từ 2-3 triệu VND/tháng, mức lương cao so với trung bình của quốc gia đang phát triển như Việt Nam Những khoản thu nhập này giúp cải thiện cuộc sống và đáp ứng nhu cầu của người dân, đồng thời nâng cao nhận thức và trình độ phát triển của đất nước.
Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thu hút FDI từ Hà Lan, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài.
Hà Lan vẫn duy trì quy mô và khối lượng đầu tư vào Việt Nam ở mức khiêm tốn, chưa phản ánh đúng tiềm năng kinh tế lớn của đất nước này Mặc dù Hà Lan là một nền kinh tế phát triển, nhưng các dự án đầu tư của họ tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, cho thấy còn nhiều cơ hội để mở rộng hợp tác kinh doanh giữa hai bên Việc tăng cường đầu tư từ Hà Lan sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hội nhập sâu rộng hơn giữa Việt Nam và Hà Lan trong thời gian tới.
Làn là một trong những quốc gia phát triển nhất châu Âu, nổi bật với thu nhập bình quân đầu người trên 40.000 USD mỗi năm Với nền kinh tế vững mạnh, Lan có mức GDP cao, đạt 556 tỷ Euro vào năm 2007, thể hiện sự phát triển kinh tế vượt bậc của quốc gia này.
Hà Lan đã xây dựng các ngành kinh tế mạnh như xây dựng, hóa chất, dầu khí, sản xuất máy móc vi điện tử, chế biến nông sản và thực phẩm, phản ánh sự đa dạng và đặc thù của nền kinh tế quốc gia này Tuy nhiên, tổng vốn đầu tư của Hà Lan vào Việt Nam rất khiêm tốn, với khoảng 2,8 tỷ USD năm 2009 từ 110 dự án, đứng thứ 14 trong số các quốc gia đầu tư tại Việt Nam và chiếm khoảng 20% tổng vốn FDI Ngoài các dự án về bia và thực phẩm, phần lớn dự án của Hà Lan tại Việt Nam đều có quy mô vừa và nhỏ, trong khi các dự án lớn về ngành công nghiệp nặng, dầu khí và xây dựng vẫn chưa thu hút nhiều vốn đầu tư Mặc dù Hà Lan đã tham gia vào một số dự án lớn, phần vốn đầu tư vẫn chưa phản ánh đúng trình độ phát triển của đất nước này trong các lĩnh vực công nghiệp nặng và năng lượng.
Hà Lan chủ yếu tập trung đầu tư vào các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương, với mức độ phân bổ không đều giữa các địa phương Ngoài ra, Hà Lan cũng đầu tư tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây nhưng chủ yếu ở các dự án nhỏ Năm 2005, Hà Lan chỉ có hoạt động đầu tư tại 9 trong tổng số 64 tỉnh thành của Việt Nam, trong đó 6 tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm Hà Nội, Hà Tây, Bình Dương và các địa phương khác.
Trong cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp của Hà Lan vào Việt Nam, tỷ trọng các ngành dịch vụ, đặc biệt là lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chiếm tỷ lệ thấp Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch Đầu tư năm 2005, Hà Lan chỉ có một số dự án trong ngành dịch vụ và ngân hàng, như dự án của Công ty Metro Cash & Carry xây dựng 8 trung tâm thương mại với tổng vốn đầu tư 120 triệu USD, cùng với các khoản đầu tư của hai ngân hàng nổi tiếng thế giới là ABN AMRO và ING, mỗi ngân hàng đầu tư 15 triệu USD vào lĩnh vực ngân hàng Như vậy, tổng vốn đầu tư của Hà Lan vào ngành dịch vụ năm 2005 đạt 150 triệu USD, chiếm khoảng 6% tổng số vốn Hà Lan đầu tư vào Việt Nam.
Việt Nam Con số này là quá ít so với tiềm lực kinh tế, kinh nghiệm và khả năng kinh doanh của Hà Lan trong lĩnh vực dịch vụ.
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại
Chiến lược định hướng đầu tư của chính phủ Hà Lan tập trung vào phục vụ nhu cầu địa phương hoặc khu vực trong chuỗi giá trị, khác với các nước như Hàn Quốc, Singapore hay Đài Loan chú trọng sản xuất hàng xuất khẩu Các công ty EU thường xem khả năng tiếp cận thị trường và năng lực chi trả của người tiêu dùng là nền tảng xây dựng chiến lược đầu tư, không coi lao động rẻ hay tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quyết định Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các công ty Hà Lan mang tính tập trung cao, chủ yếu thu hút bởi quy mô thị trường lớn, sự giàu có và mức độ liên kết cao Trong khi đó, Việt Nam với nguồn dân số đông và thị trường rộng lớn vẫn gặp nhiều hạn chế về thu nhập của người dân và mức độ liên kết giữa các thị trường chưa chặt chẽ.
Hà Lan phát triển nền kinh tế mạnh mẽ với khả năng tiêu thụ hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng hiện đại và thị trường liên kết chặt chẽ Là thành viên của EU, Hà Lan tuân thủ chính sách phát triển vùng và chiến lược hợp tác nội khối, khuyến khích đầu tư giữa các nước thành viên Hầu hết vốn đầu tư FDI của Hà Lan tập trung vào các quốc gia phát triển khác trong khu vực, trong khi chỉ một phần nhỏ được đầu tư vào các nước đang phát triển để hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương.
Bộ máy hành chính của Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề như thủ tục hành chính chồng chéo, gây khó khăn cho quá trình đầu tư của doanh nghiệp Nhiều nhà đầu tư nước ngoài mong muốn đầu tư vào Việt Nam nhưng cảm thấy ngao ngán trước quy trình xin cấp phép phức tạp Bên cạnh đó, số lượng cán bộ hành chính đông đảo nhưng ý thức trách nhiệm với công việc còn chưa cao, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả quản lý nhà nước.
Cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn nhiều yếu kém, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư và kinh doanh Các chuyên gia từ Đại học Harvard nhận xét rằng nhiều dự án đầu tư hạ tầng bị phung phí, thiếu hiệu quả, đặc biệt là các chương trình như "một triệu tấn đường", "đánh bắt cá xa bờ" và các khu công nghiệp, khu kinh tế mới đây không mang lại lợi ích thiết thực cho người dân nông thôn Nhiều dự án bị chậm tiến độ, đội vốn, chất lượng kém và không dựa trên tiêu chí kinh tế phù hợp Ví dụ, trong khi nhiều cảng nước sâu được xây dựng mới dọc miền Trung, hạ tầng tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu lại quá tải nghiêm trọng do thiếu đầu tư thích đáng, ảnh hưởng lớn đến khoảng 60% dân số và lực lượng lao động của cả nước.