SACH DIA PHUONG PHU THO (sau tham dinh) indd 2 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Phú Thọ lớp 6 đều được chỉ dẫn bằng một kí hiệu Thầy cô giáo sẽ hướng d[.]
Trang 2HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Phú Thọ lớp 6
đều được chỉ dẫn bằng một kí hiệu Thầy cô giáo sẽ hướng dẫn học sinh theo những chỉ dẫn này Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu này
để dành tặng các em học sinh lớp sau.
Trang 3LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
Chủ đề 1 Phú Thọ từ thời nguyên thuỷ đến thế kỉ X 5
Chủ đề 2 Truyền thuyết về thời đại Hùng Vương 16
Chủ đề 3 Một số nhân vật tiêu biểu thời Hùng Vương dựng nước 22
Chủ đề 4 Nghệ thuật trình diễn dân gian Phú Thọ 28
Chủ đề 5 Hát Xoan Phú Thọ 34
Chủ đề 6 Ẩm thực tỉnh Phú Thọ 43
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP 48
Chủ đề 7 Vị trí địa lí, địa giới và sự phân chia hành chính 48
Chủ đề 8 Nghề truyền thống ở Phú Thọ 55
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ − XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG 61
Chủ đề 9 Thực hiện trật tự, an toàn giao thông ở Phú Thọ 61
MỤC LỤC
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, Thông
tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông Trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, nội dung giáo dục địa phương các cấp học phổ thông gồm những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá, lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của địa phương với mục đích nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng học sinh tình yêu và niềm tự hào về quê hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; biết trân trọng và có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh địa phương, vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học
để góp phần giải quyết những vấn đề của địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp
Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Phú Thọ lớp 6 được biên soạn theo đúng quy định;
nội dung, thông tin đề cập tới khá phong phú; là học liệu cơ bản nhất, cung cấp những thông tin cơ bản về tỉnh Phú Thọ bảo đảm sát thực, khoa học, thể hiện tính sư phạm cao; giúp ích cho giáo viên tham khảo trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, kế hoạch bài dạy về chương trình giáo dục địa phương theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; đồng thời, là cơ sở cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tối
đa tính tự giác, tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh
Nhóm biên soạn Tài liệu giáo dục địa phương gồm các chuyên gia, các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán của tỉnh Phú Thọ Tài liệu trước khi ban hành đã tiếp thu ý kiến của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ quản lí giáo dục, giáo viên các cơ sở giáo dục trong tỉnh; đồng thời đã được tổ chức thực nghiệm tại một số cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, được các nhà trường, thầy, cô, các em học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi và thực tiễn cao; được Hội đồng Khoa học cấp tỉnh nghiệm thu và Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
Hy vọng tài liệu sẽ giúp ích cho các thầy giáo, cô giáo, các em học sinh trong các trường phổ thông tỉnh Phú Thọ nâng cao chất lượng dạy và học nội dung giáo dục địa phương, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Tuy nhiên, tài liệu sẽ không tránh được những sai sót, Ban Biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương mong được góp ý của các độc giả; các quí thầy, cô giáo trong Ngành
Trang 5CHỦ ĐỀ
• Kể được tên những địa điểm tìm thấy dấu tích của người nguyên thuỷ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
• Nêu được một số dấu ấn nổi bật của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
• Trình bày được những đóng góp của nhân dân Phú Thọ trong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc
• Tự hào về truyền thống lịch sử quê hương
Yêu cầu cần đạt
Phú Thọ là vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử lâu đời Em có những hiểu biết gì về vùng đất Phú Thọ? Dựa trên cơ sở nào mà đưa đến những nhận định như vậy? Em có thể lấy một vài ví dụ để chứng minh rằng nhận định đó là chính xác
1 Những dấu tích của người nguyên thuỷ trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, với địa hình rất đa dạng, bao gồm cả vùng núi, vùng đồi trung du và đồng bằng Từ khoảng 3 vạn năm trước, ở đây, tại các khu vực ven sông Hồng, sông Lô, sông Đà – nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đã có các thị tộc,
bộ lạc sinh sống
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ
LĨNH VỰC
Trang 6Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học đã cho thấy trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ngày nay
có nhiều dấu tích từ thời nguyên thuỷ, thuộc các nền văn hoá từ Sơn Vi đến Đồng Đậu, Gò Mun, có niên đại cách ngày nay từ khoảng 30 000 năm đến 3 000 năm
Bảng 1 Một số địa điểm tìm thấy dấu tích của người nguyên thuỷ ở Phú Thọ
Số
1 Hang Ngựa (Thu Cúc,
Tân Sơn)
Dấu vết hoá thạch của người nguyên thuỷ Sơn Vi (đá cũ) Khoảng 3 vạn năm
2 Sơn Vi (Lâm Thao)
Hòn cuội nguyên được dùng làm chày, bàn nghiền, hòn ghè, mảnh tước thì được ghè ở rìa cạnh
Sơn Vi (hậu kì đá cũ) 3 – 1 vạn năm
3 Phùng Nguyên (Kinh Kệ,
Lâm Thao) Rìu đá được mài nhẵn, hình dáng đẹp; đồ trang
sức bằng đá; đồ gốm;
cục xỉ đồng và mẩu đồng thau nhỏ; mộ táng,
Phùng Nguyên (sơ kì đồ đồng) 4 000 – 3 500 năm
Gò Mun (hậu kì đồng thau)
Khoảng 3 000 – 2 500 năm
Hình 1 Công cụ đá được tìm thấy ở Sơn Vi
(huyện Lâm Thao) Hình 2 Công cụ đá thuộc văn hoá Phùng Nguyên
được tìm thấy ở di chỉ Phùng Nguyên (xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao)
Trang 7a) Nha chương bằng đá được phát hiện tại di chỉ
Phùng Nguyên (xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao) b) Bát gốm được phát hiện tại di chỉ Xóm Rền (xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh)
c) Vò gốm được phát hiện tại di chỉ Xóm Rền
(xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh) d) Thố gốm được phát hiện tại di chỉ Xóm Rền (xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh)
Hình 3 Một số hiện vật khác thuộc văn hoá Phùng Nguyên được phát hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Đọc thông tin và khai thác các hình trong mục 1, em hãy giới thiệu trên lược đồ về các địa điểm tìm thấy dấu tích của người nguyên thuỷ ở Phú Thọ theo gợi ý sau: địa điểm tìm thấy dấu tích, hiện vật liên quan, niên đại
Trang 8sông Mùa
sông Lô sông Chảy
sô
D iê
Tỉ lệ 1 : 450 000
CHÚ GIẢI
Nơi phát hiện di vật thời Văn Lang – Âu Lạc
Nơi tìm thấy di vật thời tiền Đông Sơn
(Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun)
Nơi tìm thấy di vật đồ đá cũ (Sơn Vi)
Hy Cương Sơn Vi
Thương Nông
Tứ Xã Kinh Kệ
LƯỢC ĐỒ NƠI TÌM THẤY DẤU TÍCH THỜI NGUYÊN THUỶ
VÀ THỜI VĂN LANG – ÂU LẠC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
Hình 4 Lược đồ một số địa điểm tìm thấy dấu tích của thời nguyên thuỷ và Văn Lang – Âu Lạc trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
Trang 92 Vùng đất Phú Thọ thời kì Văn Lang – Âu Lạc
Thời kì dựng nước đầu tiên, các Vua Hùng đã chọn vùng đất hợp lưu của sông Hồng, sông Đà, sông Lô làm đất đóng đô (với trung tâm là thành phố Việt Trì ngày nay)
Hùng Vương vốn là tù trưởng của bộ lạc Văn Lang, bộ lạc mạnh nhất với địa bàn trải rộng hai bên bờ sông Hồng, từ chân núi Ba Vì đến chân núi Tam Đảo, đã đóng vai trò trung tâm tập hợp các bộ lạc khác, trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc, rồi chuyển hoá thành người đứng đầu một tổ chức nhà nước
(Theo Phan Huy Lê (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập I,
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr 151 – 152)
Tư liệu 1
Thời Văn Lang, cư dân trên vùng đất Phú Thọ đã có nghề đúc đồng khá phát triển
Giai đoạn Đông Sơn, tại di tích Làng Cả đã phát hiện được khá nhiều khuôn đúc, nồi nấu đồng, rót đồng Đó là những khuôn đúc rìu, dao găm, giáo, chuông,
(Theo Phan Huy Lê (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập I, Sđd)
Tư liệu 2
Tại các di chỉ tiêu biểu như: Làng Cả và Gò De (thành phố Việt Trì) đã tìm thấy rất nhiều công cụ, đồ vật bằng đồng (lưỡi cày, rìu, giáo, trống, thạp, ) và cả một số công cụ bằng sắt Tại nhiều địa phương khác trong tỉnh Phú Thọ cũng phát hiện một số hiện vật đồng thuộc văn hoá Đông Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 2 500 - 2 000 năm
a) Trống đồng được phát hiện tại Thượng Nông
(xã Dân Quyền, huyện Tam Nông) b) Trống đồng được phát hiện tại di chỉ Làng Cả (thành phố Việt Trì)
Trang 10c) Trống đồng được phát hiện tại Đền Hùng
(xã Hy Cương , thành phố Việt Trì) d) Trống đồng được phát hiện tại xã Tất Thắng (huyện Thanh Sơn)
e) Thạp đồng được phát hiện tại di chỉ Làng Cả
(thành phố Việt Trì) g) Thạp đồng được phát hiện tại di chỉ Vạn Thắng (huyện Cẩm Khê)
Hình 5 Một số trống đồng, thạp đồng thuộc văn hoá Đông Sơn năm
được phát hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Hình 6 Một số công cụ và vũ khí bằng đồng thuộc văn hoá Đông Sơn
được phát hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
a) Rìu đồng gót vuông được phát hiện tại di
chỉ Làng Cả (thành phố Việt Trì)
b) Qua đồng được phát hiện tại di chỉ
Làng Cả (thành phố Việt Trì) c) Rìu và mũi lao đồng được phát hiện tại di chỉ Gò De (thành phố Việt Trì)
Trang 11Cuối thế kỉ III trước công nguyên, sau cuộc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Hùng Vương thứ mười tám đã nhường ngôi cho Thục Phán – thủ lĩnh của bộ lạc Tây Âu Thục Phán xưng là An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc với lời thề “sẽ ra sức giữ gìn cơ nghiệp của tổ tông và đời đời thờ phụng nhà Hùng“ Kinh đô được chuyển từ vùng Việt Trì (Phú Thọ) về vùng Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) Vùng đất Phú Thọ vẫn là địa bàn chính của nước Âu Lạc
Hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Văn Lang – Âu Lạc là sản xuất nông nghiệp (trồng lúa nước, các loại ngũ cốc và cây ăn quả) Nghề săn bắt, chăn nuôi, đánh cá cũng phát triển Ngoài ra họ còn làm các nghề khác như dệt vải, làm gốm,
Cư dân Văn Lang trên đất Phú Thọ sống tập trung trong các làng, chạ; đã tạo dựng một đời sống tinh thần vô cùng phong phú Họ sáng tạo ra những điệu nhảy, múa hát diễn tả quang cảnh lao động, vui chơi rất sinh động Hằng năm, vào những ngày hội mùa, dân làng thường tổ chức lễ hội, với các hoạt động múa hát, đua thuyền, thu hút cả già trẻ, trai gái tham gia
1 Dựa vào tư liệu 1, em hãy xác định trên lược đồ (hình 4) địa bàn lãnh thổ của bộ lạc
Văn Lang Tư liệu cho em biết điều gì về người đứng đầu bộ lạc?
2 Khai thác tư liệu 2 và các hình 5, 6, em rút ra điều gì về di tích Làng Cả (Việt Trì) và
vùng đất Phú Thọ thời Hùng Vương?
3 Hãy nêu một số dấu ấn nổi bật về Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ
3 Nhân dân Phú Thọ trong các cuộc đấu tranh chống xâm lược thời Bắc thuộc
a) Phú Thọ với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (thế kỉ I)
Năm 113 trước Công nguyên, sau khi tiêu diệt nhà Triệu, nhà Hán chiếm Nam Việt, trong đó gồm cả địa bàn trước đó thuộc nước Âu Lạc Nhà Hán chia vùng đất mới chiếm làm 9 quận Vùng đất Phú Thọ thời kì này thuộc huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ.Tháng 3 – 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, đã phất cờ khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ với ngọn cờ “đền nợ nước, trả thù nhà “ Cuộc khởi nghĩa
đã nhanh chóng lan rộng và đã lật đổ được ách thống trị của nhà Hán
Trang 12Hình 7 Gác chuông chùa Bối Linh (nay thuộc xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì)
nơi tương truyền Hai Bà Trưng bước đầu tập hợp lực lượng cho cuộc khởi nghĩa
Em có biết?
Theo “Lâu Thượng thần tích ngọc phả cổ truyền” soạn năm 1572 được lưu tại đình Lâu Thượng:
Sau khi Thi Sách bị sát hại, Hai Bà Trưng đã đi lẩn tránh và sau quay về thành cũ Phong Châu, đến ở tại chùa Bối Linh, nương nhờ nơi cửa Phật, tu hành ở đó suốt 5 năm và nuôi chí sớm dẹp giặc xâm lăng, giải phóng đất nước, dựng lại nghiệp xưa họ Hùng.
Chùa Bối Linh là nơi bước đầu Hai Bà Trưng tập hợp lực lượng cho cuộc khởi nghĩa Tại đây Trưng Trắc đã viết bài hịch cứu nước truyền đi khắp nơi và được hào kiệt khắp các vùng miền hưởng ứng Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã chiêu mộ được đông đảo tướng sĩ, tổ chức hội quân tại bãi Dầu (bãi nổi trên sông Lô thuộc địa phận xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì) Trưng Trắc vào làm lễ dâng hương tại đền thờ Tản Viên Sơn Thánh (miếu Vật, xóm Đồi), làm lễ tế cờ và mở tiệc khao quân tại bến Vò (xóm Sải), sau đó làm lễ xuất quân tại chùa Bối Linh và kéo về hội thề cửa sông Hát (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội)
(Theo Phạm Bá Khiêm, Bối Linh, nơi chiêu hiền tụ nghĩa của Hai Bà Trưng,
website Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ)
Tham gia trong đội quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng có nhiều nữ tướng ở vùng Đất Tổ như: Nàng Nội ở Kẻ Lú, Bát Nàn ở trang Phượng Lâu (Việt Trì), Thiều Hoa ở Hiền Quan (Tam Nông), Nguyệt Cư ở Điêu Lương (Cẩm Khê), Nguyệt Diện ở Ca Đình (Đoan Hùng), Hà Liễu ở Giầu Cấm (Phù Ninh), Các nữ tướng đã sát cánh chiến đấu cùng Hai Bà Trưng chống giặc và giành thắng lợi; nhiều người đã anh dũng hi sinh trong cuộc kháng chiến chống quân Hán
do Mã Viện chỉ huy (năm 43)
Trang 13Hiện nay, ở nhiều địa phương trong tỉnh Phú Thọ vẫn còn đình, đền thờ Hai Bà Trưng
và các nữ tướng của Hai Bà, như: đình Lâu Thượng (Việt Trì) thờ Hai Bà Trưng, đền Hương Nha (Tam Nông) thờ Xuân Nương công chúa, đền Bát Nàn ở Phượng Lâu (Việt Trì) thờ bà Bát Nàn
Vũ Thục Nương,
Hình 8 Đền Bát Nàn tại thôn Phượng Lâu, xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì,
được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hoá cấp tỉnh năm 2009
b) Phú Thọ trong cuộc kháng chiến chống quân Lương xâm lược (thế kỉ VI)
Năm 546, trước cuộc tấn công của quân Lương vào căn cứ hồ Điển Triệt (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc), Lý Nam Đế (Lý Bí) đã cho quân rút qua sông Hồng về động Khuất Lão (nay thuộc xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông) để củng cố và phát triển lực lượng Tại đây, quân đội của Lý Nam Đế đã được nhân dân địa phương hết lòng ủng hộ và giúp đỡ
Hình 9 Tượng thờ Lý Nam Đế
Khi bị ốm nặng, biết không thể qua khỏi, Lý Nam Đế
đã giao toàn bộ quyền lãnh đạo cuộc kháng chiến cho Triệu Quang Phục – một vị tướng trẻ có tài, có đức, thay vì giao cho những người ruột thịt của mình Chính mảnh đất nguồn cội, nơi in đậm những dấu tích của công cuộc dựng nước và giữ nước đã khiến Lý Nam Đế có quyết định rất tiến bộ và sáng suốt, đặt lợi ích của quốc gia lên trên lợi ích của dòng tộc
Trang 14Sau khi Lý Nam Đế qua đời, thi hài của ông được nhân dân địa phương an táng ngay tại động Khuất Lão Trải qua hàng nghìn năm, lăng mộ của ông vẫn luôn được nhân dân trong vùng chăm sóc, hương khói.
Hình 10 Đền thờ Lý Nam Đế tại xã Vạn Xuân (huyện Tam Nông)
1 Hãy kể tên một số nhân vật tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã tham gia đội
nghĩa binh của Hai Bà Trưng chống quân Hán xâm lược
2 Theo em, vùng đất và con người Phú Thọ có vai trò, đóng góp như thế nào trong
cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc của dân tộc?
1 Hãy ghép thông tin ở cột bên trái với cột bên phải sao cho đúng.
1 Hang Ngựa
Địa điểm
a) Hòn cuội ghè đẽo rìa lưỡi
Hiện vật được tìm thấy
2 Phùng Nguyên b) Công cụ, vũ khí, đồ trang sức bằng đồng
Trang 152 a) Hãy hoàn thiện bảng thống kê sau về các nữ tướng tiêu biểu tham gia cuộc khởi
nghĩa Hai Bà Trưng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
b) Từ kết quả của bài tập phần a, em có nhận xét gì về tinh thần đấu tranh chống xâm lược của nhân dân Phú Thọ?
1 Có ý kiến cho rằng: “Phú Thọ là vùng đất cổ – nơi hội tụ những sáng tạo văn hoá của
người Việt cổ trong quá trình hình thành quốc gia – dân tộc”, em có đồng ý với ý kiến
đó không? Vì sao?
2 Tìm hiểu và cho biết ở địa phương em có di tích lịch sử – văn hoá nào liên quan đến
thời Hùng Vương dựng nước và cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc
Trang 16CHỦ ĐỀ
Nước bốn nghìn năm (1) , nôi cổ sơ Cỏ cây quen thuộc đến bây giờ Nơi vua cày ruộng, quan trồng lúa Công chúa làm nương và dệt tơ.
(Vũ Quần Phương)
• Nhận biết được một số đặc điểm (nhân vật, cốt truyện, yếu tố kì ảo, nộ i dung phả n á nh, ) của truyền thuyết về thờ i đạ i Hù ng Vương nói chung và truyền
thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô nói riêng
• Bước đầu thấy được sự tương quan giữa những điều phản ánh trong truyền thuyết với sự thực lịch sử Biết gắn kết quá khứ với cuộ c số ng hôm nay
• Biết kể lại một truyền thuyết, trao đổi về ý nghĩ a của truyền thuyết đó Tập sưu tầm truyền thuyết ở địa phương
• Viết được bà i văn kể lạ i mộ t truyề n thuyế t về thờ i đạ i Hù ng Vương và nêu cả m nghĩ
về truyền thuyết đó
• Tự hà o về mộ t vù ng quê già u cá c sự tí ch về thờ i đạ i Hùng Vương
Yêu cầu cần đạt
Đọ c bố n câu thơ củ a Vũ Quầ n Phương trong lờ i đề từ và trả lời các câu hỏi sau:
1 Nhà thơ đã hì nh dung như thế nà o về thờ i Hù ng Vương?
2 Theo em, nhà thơ dự a và o đâu mà hì nh dung như vậ y?
1 Tri thứ c đọ c hiể u: Truyề n thuyế t và truyề n thuyế t thờ i đạ i Hù ng Vương
Truyền thuyết là mộ t thể loại truyệ n cổ dân gian gắ n vớ i cá c sự kiệ n và nhân vậ t lị ch sử Truyền thuyết đượ c xây dự ng bằ ng sự kế t hợ p cá c yế u tố kì ả o vớ i cá c yế u tố hiệ n thự c, nhằ m giả i thí ch cá c sự kiệ n, nhân vậ t lị ch sử , đị a danh hoặ c cá c sả n vậ t liên quan đế n nhân vậ t và
đị a danh Truyề n thuyế t có yế u tố lị ch sử nhưng không phả i là lị ch sử
(1) Theo truyề n thuyế t, Nhà nướ c Văn Lang đượ c thành lậ p cá ch đây hơn 4 000 năm, nhưng theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học hiện nay, Nhà nướ c Văn Lang đượ c thành lậ p và o thế kỉ VII trướ c Công nguyên, cá ch ngày nay khoảng 2 700 năm.
Trang 17Các truyền thuyết thời đại Hùng Vương kể về cuộc sống sản xuất, sinh hoạt khi dân ta bắt đầu chuyển từ đời sống săn bắn, hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi Đó cũng là lúc dân ta biết chế tạo các món ăn, đồ mặc, thiết lập các phong tục, Truyền thuyết thời Hùng Vương cũng kể những câu chuyện chống thiên tai và đánh giặc giữ nước gắn liền với công lao của các nhân vật anh hùng.
Nhân vật phổ biến trong các truyền thuyết trên là Vua Hùng (Hùng Vương) cùng các bộ tướng của nhà vua Vua Hùng có tài trí hơn người, là người dạy dân trồng trọt, dùng lửa để làm chín thức ăn, đồng thời cũng là thủ lĩnh đánh giặc
Các truyền thuyết về thời đại Hùng Vương là hình ảnh về buổi đầu dựng nước của dân tộc ta (thường gọi là thời kì Văn Lang – Âu Lạc) Các truyền thuyết này hầu hết có gốc từ thần thoại So với thần thoại, truyền thuyết gần gũi với đời sống hơn Sức mạnh của nhân vật anh hùng chủ yếu không dựa trên sự trợ giúp của thần linh mà trên tài năng của cá nhân kết hợp với sức mạnh tập thể của cả cộng đồng
Hình 1 Cổng vào Đền Hùng
2 Văn bản
HÙNG VƯƠNG CHỌN ĐẤT ĐÓNG ĐÔ
Vua Hùng đi nhiều nơi để tìm đất đóng đô cho nước Văn Lang(1)
Đi theo sông Thao, tới một vùng thấy trước mặt là sông lớn, sau lưng là núi cao, đầm nước mênh mông vây bọc những hòn đảo nhỏ(2) Vua đang xem ngắm, chợt có con rùa vàng hiện lên khỏi mặt nước, lưng như tấm phản, gật đầu chào vua, tự xưng là chúa đầm này Vua cưỡi lên lưng rùa, rùa đưa vua đi thăm đủ 99 ngách Cây cối loà xoà, nước đen như mực,
(1) Thực chất Hùng Vương chỉ là thủ lĩnh của bộ lạc gốc Văn Lang đồng thời là thủ lĩnh của liên minh 15 bộ lạc, lập nên nước Văn Lang Khu vực cư trú của bộ lạc Văn Lang trải dài và rộng theo hai bên bờ sông Hồng, từ chân núi Ba Vì đến chân núi Tam Đảo Còn lãnh thổ nước Văn Lang tương ứng với khu vực các tỉnh phía Bắc hiện nay (từ Thừa Thiên – Huế trở ra) Kinh đô Văn Lang chủ yếu là trung tâm của bộ lạc Văn Lang
(2) Nay có lẽ là Ao Châu, huyện Hạ Hoà.
Trang 18các loài thuỷ tộc vui mừng chào đón nhà vua Vua khen cảnh đẹp nhưng cho rằng không
có thế mở rộng để họp muôn dân, dựng cung điện nên lại bỏ đi
Vua đi tới một miền phong cảnh đẹp đẽ, đất phẳng mà rộng, có nhiều khe suối(1) Vua cho
là thế đất chưa đủ, bèn sai chim đại bàng đắp 100 quả gò, hẹn trước khi trời sáng phải xong Chim đại bàng khuân đất đá đắp được 99 quả gò, chợt có con gà ngủ mơ gáy sáng, chim đại bàng ngỡ trời đã rạng liền vỗ cánh bay đi Vua Hùng đi tìm đất khác
Tới một nơi khác, vua thấy có một ngọn núi cao sừng sững như cái trụ chống trời vươn lên giữa hàng trăm quả đồi vây quanh Vua thúc ngựa lên ngọn núi, dừng ngựa ngắm trông bốn phương tám hướng, thấy cảnh rộng hẹp thấp cao, rừng trải xa xa, khe ngòi quanh lượn, vua đẹp lòng vừa ý, mới dong ngựa từ từ xuống núi Chợt con ngựa quay đầu, vó ngựa đạp mạnh, núi lở xuống, sạt mất một góc(2) Vua chê thế đất không vững, bèn bỏ đi
Lại tới một toà núi thấp, dài đầu cao đuôi, nằm giữa một trăm quả đồi nhỏ như con giao long bơi lượn trên lớp lớp sóng dồn Trên núi có đường lên trời, có hang xuống đất(3) Vua bước vào hang chợt gặp một con rắn trắng chắn đường Vua cho là điềm không lợi, bèn bỏ đi.Lần tới sông Đà, trước mắt hiện ra một cảnh sóng xô cuồn cuộn, núi Tản vươn mình, một dải ven sông cây xanh bát ngát, địa thế rất đẹp(4) Vua ưng chọn đây làm đất đóng đô, liền truyền cho chim phượng hoàng đào 100 cái hồ Đào được 99 cái thì chợt có tiếng phượng trống kêu ở nơi xa Con phượng mái vỗ cánh bay lên theo tiếng gọi của chim trống, cả đàn con bay theo Vua thấy không đủ 100 cái hồ nên lại bỏ đi
Vua đi mãi nơi này nơi khác mà chưa chọn được nơi nào có thể định đô Một hôm, vua
đi tới một vùng trước mặt là ba sông hội tụ, hai bên có Tản Viên, Tam Đảo chầu về, đồi núi gần
xa, khe ngòi quanh quất, thế đất bày ra như hổ phục rồng chầu, như tướng quân bắn nỏ, như ngựa chạy phượng bay Giữa những quả đồi xanh tốt, một ngọn núi đột ngột nổi lên như con voi mẹ nằm giữa đàn con
Vua lên núi nhìn ra bốn phía thấy ba bề bãi rộng phù sa bồi đắp, bốn mặt cây xanh hoa tươi quả ngọt, vừa trùng điệp vừa quanh co, có rộng mà phẳng, có hẹp mà sâu Vua cả mừng khen rằng đây là đất họp muôn dân, đủ hiểm để giữ, có thế để mở, thế đất vững bền, có thể dựng nước được muôn đời
Vua Hùng đặt đô ở đó, gọi tên là thành Phong Châu(5)
(Theo Dương Huy Thiện, Phú Thọ, miền đất cội nguồn, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2010)
(1) Nay có lẽ là xã Thanh Vân, huyện Thanh Ba.
(2) Nay có lẽ là núi Sứt, ở vào giữa ba huyện Thanh Ba, Đoan Hùng, Phù Ninh.
(3) Nay có lẽ là núi Thắm, huyện Thanh Ba.
(4) Nay có lẽ là xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thuỷ.
(5) Thành Phong Châu được đoán định là một trong ba địa điểm ngày nay: khu vực Đền Hùng (xã Hy Cương), phường Thọ Sơn và phường Bạch Hạc, tất cả đều thuộc Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Chú ý, thành Phong Châu trong câu chuyện này khác với Phong Châu (Châu Phong) đời nhà Đường cai trị, là một châu trong 12 châu của nước ta thời ấy, tương ứng với vùng đất ngày nay là các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Sơn Tây cũ.
Trang 191 Em hãy dùng bản đồ của Google Maps kết hợp với bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam(1)
để xác định các vị trí: núi Ba Vì (Tản Viên), núi Nghĩa Lĩnh (Hy Cương), núi Tam Đảo, sông Đà, sông Thao (sông Hồng), sông Lô, di tích Đền Hùng
2 Vua Hùng đã tìm đến những vùng đất nào để chọn đất đóng đô? Lí do khiến nhà
vua không chọn những nơi đó?
3 Vùng đất được Vua Hùng chọn đóng đô có địa thế và cảnh quan thiên nhiên như
thế nào? Việc Vua Hùng quyết định chọn vùng đất ấy nói lên điều gì?
4 Thống kê các chi tiết kì ảo (ví dụ: Vua cưỡi lên lưng rùa, rùa đưa vua đi thăm đủ 99
ngách ) Những chi tiết này có tác dụng gì cho câu chuyện?
5 Thống kê những chi tiết nói về cảnh thiên nhiên Những chi tiết này có đặc điểm gì
và có tác dụng gì cho câu chuyện?
Hình 2 Ngã ba đường Trần Phú – Hùng Vương, thành phố Việt Trì
Ghi nhớ
Để tính kế lâu dài cho đất nước, Vua Hùng tìm một nơi hội tụ nhiều mặt thuận lợi
để làm kinh đô Truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô là cách giải thích của người
xưa về việc này
Truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô cho thấy việc chọn đất đóng đô được
tính toán rất cẩn trọng, tuy có yếu tố hoang đường nhưng cũng chứa tinh thần khoa học, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của nhà vua: đất đóng đô phải hội đủ các điều kiện về
tự nhiên lẫn con người Điều này cũng cho thấy khát vọng xây dựng một nước Văn Lang hùng mạnh của dân ta thời ấy
Những chi tiết kì ảo và những cảnh thiên nhiên hoang sơ đã khiến câu chuyện trở nên kì vĩ và mĩ lệ, nửa hư nửa thực
(1) Bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam khổ lớn hoặc bản đồ tự nhiên vùng trung du – miền núi Bắc Bộ và
vùng đồng bằng sông Hồng trong Át lát địa lí Việt Nam của NXB Giáo dục Việt Nam.
Trang 201 Kể lại truyền thuyết Hùng Vương chọn đất đóng đô.
2 Kể (trước nhóm hoặc lớp) một truyền thuyết khác về thời Hùng Vương mà em biết
Trao đổi với bạn về ý nghĩa của truyền thuyết đó
Gợi ý: Tham khảo truyền thuyết dưới đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới
KHOAI LANG
Vua Hùng mỗi khi đi săn thường có các quan lang và các mị nương (1) đi theo
Một hôm, trên đường trở về, đoàn người đi qua một quả đồi có thứ dây lá bò lan xanh tốt, ngựa rất thích ăn Vua bèn truyền nghỉ chân Bầy ngựa say sưa ăn thứ lá này đến nỗi không chịu
về Vua thấy lạ, bảo nhổ thử gốc dây lên xem sao thì thấy có thứ củ to sắc tía Ai nấy đều lạ, không hiểu là thứ củ gì Có người nói củ này trời cho để nuôi súc vật nhà trời Lại có người bảo củ này có ma Vua truyền nếu có ma cứ ném vào lửa đốt là tất ma phải chết Mọi người nhóm lửa, vứt thử vài củ vào Khi vỏ củ cháy đen thì thấy củ mềm và có mùi thơm, nếm thử, thấy bùi và ngọt, ai cũng khen ngon Vua Hùng truyền nướng ăn cho đỡ đói Vua còn bảo các quan lang đem một ít dây lẫn củ về trồng
Dần dần cả vùng lấy giống trồng nhiều mãi lên Vì bắt đầu trồng từ nhà quan lang nên gọi
là khoai lang.
(Theo Dương Huy Thiện, Phú Thọ, miền đất cội nguồn, Sđd)
a) Ngoài việc giải thích tên gọi, truyện còn nói lên điều gì?
b) Em nghĩ gì về chi tiết Vua Hùng truyền “nếu có ma cứ ném vào lửa đốt là tất ma phải chết“?
3 Chọn một truyền thuyết về thời Hùng Vương để viết thành bài văn kể chuyện và nêu
cảm nghĩ của em
1 Đọc thông tin dưới đây và thực hiện yêu cầu ở dưới.
Theo sách Lịch sử Việt Nam, tập 1 (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2017), hiện nay có ba ý
kiến khác nhau đoán định vị trí của kinh đô nước Văn Lang, tương đương với các vị trí ngày nay là:
– Khu vực Đền Hùng, phía tây bắc thành phố Việt Trì
– Phường Thọ Sơn, phía nam thành phố Việt Trì
– Phường Bạch Hạc, cực phía nam thành phố Việt Trì
(1) Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn), thời đó các con trai của
Vua Hùng gọi là quan lang, các con gái thì gọi là mị nương.
Trang 21Chưa có ý kiến nào hoàn toàn thuyết phục, song điều chắc chắn, kinh đô nước Văn Lang vẫn không nằm ngoài vùng đất Tổ Phú Thọ.
Xác định trên bản đồ của Google Maps các vị trí trên kết hợp với xem bản đồ địa lí tự nhiên Việt Nam để chọn những thông tin đúng:
a) Thành phố Việt Trì là nơi chuyển tiếp từ vùng trung du và miền núi Bắc Bộ xuống vùng đồng bằng sông Hồng
b) Bên phải thành phố Việt Trì là dãy núi Ba Vì, bên trái là dãy núi Tam Đảo (đứng xuôi dòng sông Lô)
c) Thành phố Việt Trì và vùng lân cận phía nam thành phố là nơi gặp gỡ của ba con sông lớn: sông Đà, sông Hồng, sông Lô
d) Khu vực Đền Hùng và phường Thọ Sơn nằm ở giữa hai con sông – sông Hồng và sông Lô
e) Khu vực phường Bạch Hạc là nơi sông Lô chảy vào sông Hồng
g) Ba vị trí – Đền Hùng, Thọ Sơn, Bạch Hạc – cách đều nhau (nằm ở ba đỉnh một tam giác đều)
h) Ba vị trí – Đền Hùng, Thọ Sơn, Bạch Hạc – gần như trên một đường thẳng, chạy gần như song song sông Hồng và sông Lô
2 Đọc trích đoạn dưới đây và thực hiện yêu cầu ở dưới.
Đền Hùng ở trên núi Hy Cương thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì
Núi Hy Cương ở về phía đông nam thị xã Phú Thọ, là núi cao nhất trong khu vực này Đứng trên đỉnh núi ta thấy được sông Hồng uốn khúc và xa xa hơn nữa, trên khung cảnh ruộng đồng xanh ngắt, sông Đà, sông Lô nhập với sông Hồng tạo nên vùng nước mênh mông gọi là Ngã Ba Hạc Cũng lạ thay, ba con sông lớn nhất của vùng trung châu và đồng bằng Bắc Bộ lại gặp nhau trên khu vực lịch sử rộng lớn Đền Hùng!
Đằng xa là núi Tản Viên xanh thẫm cao vút đứng sừng sững bên sông Đà, phía bên trái là núi Tam Đảo với ba ngọn chọc trời Xung quanh núi Hy Cương với những quả đồi lô nhô, quả to quả nhỏ, quả thấp quả cao, mỗi quả một hình Nhưng nổi bật giữa đám đồi này vẫn là núi Hy Cương hùng vĩ và hai quả đồi cạnh nó, đồi Trọc và đồi Vặn, tạo thành một hình mà nhân dân địa phương gọi là “con rồng”
(Theo Lê Tư Lành, Tuyển tập Lê Tư Lành, NXB Thế giới, 2013)
Dựa vào kết quả ở bài tập 1 kết hợp với tham khảo trích đoạn trên, hãy nêu ý kiến của
em về nhận định: dù kinh đô ở vị trí nào trong ba vị trí nói trên thì đều có những lợi thế cho một kinh đô thời ấy
Trang 22CHỦ ĐỀ
• Kể tên, nêu được ý nghĩa biểu tượng của những nhân vật tiêu biểu thời Hùng Vương dựng nước
• Tự hào về truyền thống; có ý thức giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương
1 Điểm chung về các nhân vật thời Hùng Vương dựng nước
Các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương dựng nước đều được biết đến thông qua các truyền thuyết dân gian và các thần tích lưu giữ tại các đền thờ, được truyền từ đời này qua đời khác
Các nhân vật này được xây dựng và truyền tụng trở thành những biểu tượng, là hiện thân của những giá trị và truyền thống lịch sử – văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước
1 Hãy cho biết điểm chung về các nhân vật lịch sử thời Hùng Vương dựng nước.
2 Dựa vào hiểu biết của bản thân và liên hệ với kiến thức đã học, em hãy kể tên một
số nhân vật liên quan đến thời Hùng Vương dựng nước
Trang 232 Một số nhân vật tiêu biểu
LẠC LONG QUÂN VÀ ÂU CƠ
Hình 1 Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ (tranh minh hoạ)
Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân chính là Rồng, còn Âu Cơ là Tiên Rồng sống ở vùng đồng bằng, còn Tiên sống ở vùng non cao Lạc Long Quân và Âu Cơ đã kết đôi và cùng chung sống, sinh ra bọc trăm trứng, rồi nở thành một trăm người con trai
Rồng và Tiên đã trở thành biểu tượng cho tổ tiên của người Việt; bọc trăm trứng vừa
là tổ tiên của người Việt, vừa là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng (đồng bào), đồng thời trứng còn là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, phồn vinh
Do vậy, trong tâm thức của người Việt, Lạc Long Quân và Âu Cơ đã trở thành biểu tượng cho cội nguồn cao quý “con Lạc cháu Hồng” của dân tộc Việt Nam
1 Hãy kể lại nội dung chính của truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ mà em đã
được đọc/được học
2 Theo em, hình tượng Lạc Long Quân và Âu Cơ có ý nghĩa như thế nào trong tâm
thức của người Việt
SƠN TINH – THUỶ TINH
Theo truyền thuyết, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh là các vị thần, là hiện thân của các hiện tượng
tự nhiên, núi non, sông nước, được hình tượng hoá thành những con người có những tài năng
và phẩm chất khác nhau Qua truyền thuyết, nếu như Thuỷ Tinh đại diện cho sức mạnh thiên nhiên dữ dội, hung bạo (hiện tượng bão, lụt xảy ra hằng năm), thì Sơn Tinh lại là biểu tượng cho sức mạnh của nhân dân, của cộng đồng Thông qua hình tượng Sơn Tinh và những cuộc
Trang 24đương đầu chống lại Thuỷ Tinh thể hiện truyền thống đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau của người Việt trong công cuộc trị thuỷ, phòng chống thiên tai; đồng thời phản ánh ước mơ, khát vọng chinh phục, chế ngự thiên tai của nhân dân ta.
Hình 2 Sơn Tinh – Thuỷ Tinh (tranh minh hoạ)
Trải qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, hầu hết các làng xã ở Phú Thọ đều có đình, đền, miếu thờ Sơn Tinh, suy tôn ngài là Tản Viên Sơn Thánh, một vị thần được sùng kính vào bậc nhất, được coi là linh khí của đất Việt
Theo thần tích Đình Tế, xã Tất Thắng (Thanh Sơn): Tản Viên Sơn Thánh tên là Nguyễn Tuấn, quê
ở động Lăng Xương (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thuỷ) Gia đình nghèo khó, hàng ngày Tuấn phải lên núi hái củi bán Sau đó gặp được tiên ông cho gậy thần để cứu giúp muôn dân Năm Tuấn 20 tuổi thì mẹ mất, chàng được bà chúa động Mường ở Ba Vì nhận làm con nuôi Đến khi mẹ nuôi mất, chàng được thừa hưởng tất cả gia sản của bà chúa động Dãy Ba Vì có ngọn núi cao nhất gọi là núi Tản Viên, nên người ta cũng gọi chàng là Tản Viên động chủ Tản Viên đã đua tài với Thuỷ Tinh và chiến thắng, lấy được Công chúa Ngọc Hoa và trở thành con
rể của Vua Hùng Sơn Tinh đã giúp Vua Hùng hai lần chống quân Thục thắng lợi Vua Hùng có
ý nhường ngôi cho, song chàng không nhận và khuyên Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Phán Sơn Tinh cùng vợ trở về Đông Cung (Đền Và thuộc thị xã Sơn Tây ngày nay) Về sau thần thường hiển linh giúp các triều đại chống giặc ngoại xâm, nên được các triều đại lập đền thờ cúng và cấp sắc phong
Tản Viên Sơn Thánh được nhân dân ta suy tôn là một trong “Tứ bất tử” – bốn vị thánh bất tử và được phong là thành hoàng làng, thờ ở nhiều nơi trên đất nước ta (đền Lăng Sương
ở Thanh Thuỷ, Phú Thọ; đền thờ Tản Viên Sơn Thánh ở Ba Vì, Hà Nội; )
Trang 251 Hãy kể lại truyền thuyết Sơn Tinh – Thuỷ Tinh theo cách của em.
2 Sơn Tinh – Tản Viên Sơn Thánh có công lao gì đối với cộng đồng, dân tộc?
3 Theo em, ý nghĩa giáo dục thông qua hình tượng Sơn Tinh là gì?
LANG LIÊU
Bánh chưng, bánh giầy là hai thứ bánh do Lang Liêu, con Vua Hùng thứ sáu làm để dâng vua cha trong cuộc thi chọn người lên kế vị
Truyền thuyết kể rằng: Khi Hùng Vương đã già, có ý muốn truyền ngôi vua cho người con nào tạo ra được trân cam mĩ vị (những
gì được cho là tinh tuý nhất) để tiến cúng Tiên vương, giúp nhà vua giữ tròn đạo hiếu Những người con của Vua Hùng đều đua nhau đi tìm của ngon vật lạ Duy có vị hoàng tử thứ mười tám tên là Lang Liêu theo lời nhắc bảo của thần nhân thì làm theo cách riêng của mình Lang Liêu chọn thứ gạo nếp trắng tinh, chọn lấy những hạt tròn và mẩy nhất, đem vo thật sạch, lấy lá xanh bọc xung quanh thành hình vuông, cho trân cam mĩ vị vào bên trong để tượng trưng cho vạn vật, rồi đun lửa nấu chín, gọi là bánh chưng Lại lấy gạo nếp đã nấu chín giã cho thật nhuyễn, nặn thành một thứ bánh
có hình tròn, gọi là bánh giầy Chính nhờ hai loại bánh ấy mà Lang Liêu được chọn để truyền ngôi Theo lời căn dặn của Vua Hùng, cứ vào ngày tết, con cháu lại làm hai thứ bánh của Lang Liêu để dâng cúng cha mẹ, tổ tiên
Bánh giầy tròn tượng trưng cho Trời, bánh chưng vuông tượng trưng cho Đất, thịt mỡ, đậu xanh, lá dong tượng trưng cho muôn loài Đó chính là sự hoà hợp giữa con người với Đất, Trời, với thiên nhiên Vua Hùng thông qua việc chọn Lang Liêu làm người kế vị đã nêu cao bài học về tình thương yêu và đoàn kết Nhà vua muốn nhắc các hoàng tử và quân thần về bài học giữ nước Bánh chưng, bánh giầy với biểu tượng cao quý ấy đã thể hiện cái tâm, cái tài, nhất là lòng trung, hiếu của Lang Liêu, xứng đáng được Vua Hùng truyền ngôi báu Hình tượng Lang Liêu và
truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy thể hiện ý thức lấy dân làm gốc, coi trọng nghề nông, quý hạt
gạo, biết ơn tổ tiên, kính Trời, Đất của con người Việt Nam
1 Hãy giới thiệu về nhân vật chính được nhắc đến trong truyền thuyết Bánh chưng,
bánh giầy.
2 Theo em, ý nghĩa giáo dục thông qua hình tượng bánh chưng, bánh giầy và nhân vật
Lang Liêu là gì?
Hình 5 Bánh chưng, bánh giầy
Trang 26Tiếng lành đồn xa, sự mẫu mực và tài đức của người thầy giáo làng đã truyền đến triều đình lúc bấy giờ Hùng Vương thứ mười tám mời ông vào kinh, giao cho trọng trách chăm lo
sự học của hai cô công chúa là Ngọc Hoa và Tiên Dung Sau này, để tưởng nhớ công ơn của những người đã dạy dân chữ nghĩa và nghề nông, dân làng Hương Lan đã lập đền thờ vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang – Nguyễn Thị Thục (đền Thiên Cổ) Hiện ngôi đền nằm ở thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì
Hình 6 Đền Thiên Cổ
1 Vợ chồng ông bà Vũ Thê Lang – Nguyễn Thị Thục được biết đến là người như thế nào?
2 Nhân dân địa phương lập đền thờ ông bà Vũ Thê Lang – Nguyễn Thị Thục chứng
tỏ điều gì?
Trang 271 Lập bảng hệ thống (hoặc thể hiện dưới dạng sơ đồ tư duy, ) về các nhân vật tiêu biểu
thời Hùng Vương dựng nước (tham khảo gợi ý dưới đây)
2 Cùng tìm hiểu và giới thiệu về những nhân vật khác thời Hùng Vương dựng nước (gắn
liền với di tích lịch sử ở địa phương em hoặc trên địa bàn tỉnh Phú Thọ)
1 Có quan điểm cho rằng: các nhân vật thời Hùng Vương đều là nhân vật truyền thuyết,
nên không có thật và không có giá trị lịch sử Em có đồng ý với ý kiến đó không? Vì sao?
2 Liên hệ và cho biết ở địa phương em có di tích lịch sử – văn hoá nào liên quan đến các
nhân vật thời Hùng Vương dựng nước Điều đó chứng tỏ truyền thống tốt đẹp nào của dân tộc ta?
3 Nội dung về nhân vật nào trong bài chứng tỏ truyền thống hiếu học của nhân dân
vùng Đất Tổ? Hãy viết khoảng 5 – 7 câu thể hiện hiểu biết của em về việc kế thừa truyền thống đó ở tỉnh Phú Thọ hiện nay
Trang 28CHỦ ĐỀ
• Kể được tên các thể loại nghệ thuật truyền thống của đồng bào dân tộc ít người ở Phú Thọ (dân ca dân tộc Dao, Cao Lan; tục chàm đuống của người Mường; )
• Thực hành hát được một bài dân ca hay biểu diễn được một điệu múa truyền thống
– Nơi em sinh sống có thể loại nghệ thuật trình diễn dân gian nào không?
– Em được nghe/được biết đến các thể loại dân ca và nhạc cụ truyền thống trong hoàn cảnh nào?
Phú Thọ là nơi xưa kia các Vua Hùng đóng đô dựng nước, cội nguồn của dân tộc Việt Nam, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc trong đó có nền nghệ thuật dân gian phong phú và độc đáo Cùng với nghệ thuật hát Xoan Phú Thọ, nơi đây còn có nhiều thể loại trình diễn nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số như: hát Rang, hát Ví, tục chàm đuống, múa trống đu (dân tộc Mường); hát Sình ca, múa chim gâu, múa xúc tép (dân tộc Cao Lan); múa chuông, múa chạy rùa (trong lễ Tết nhảy của dân tộc Dao Quần Chẹt); múa khèn, kèn lá (dân tộc Mông), Dưới đây, chúng ta cùng tìm hiểu một số thể loại nghệ thuật trình diễn dân gian tiêu biểu
1 Một số thể loại nghệ thuật trình diễn dân gian tiêu biểu của dân tộc Mường
a) Hát Rang
Hát Rang là lối hát dân dã, lối kể những câu chuyện sử thi, truyền thuyết, ca ngợi cuộc sống lao động, phong tục tập quán, tín ngưỡng tốt đẹp của người Mường Hát Rang thường được hát trong các dịp như Tết, mừng đám cưới, mừng nhà mới, ; trong các nghi
lễ nông nghiệp: lễ gọi vía lúa, lễ hội xuống đồng, Những bài hát Rang có giai điệu mộc mạc, nhẹ nhàng, nội dung lời ca gần với ngôn ngữ giao tiếp và được thay đổi cho phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể
Trang 29Hình 1 Hát Rang trong lễ cúng vía lúa của đồng bào Mường ở Phú Thọ
b) Tục chàm đuống (đâm đuống)
Chàm đuống của người Mường là hình thức diễn xướng dân gian thường được biểu diễn trong dịp quan trọng như Tết, hội mùa, cưới xin, dựng nhà, Lễ chàm đuống được hình thành từ cuộc sống lao động của đồng bào dân tộc Mường trong quá trình làm nông nghiệp Người Mường tin rằng trong những ngày Tết, tiếng đuống vang, rộn ràng thì năm đó sẽ mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, mọi điều may mắn
Đuống là chiếc máng gỗ giã lúa, còn chàm là chiếc chày giã lúa Diễn tấu chàm đuống có ba động tác cơ bản:
– Giã: đâm thẳng đầu chày vào thành đuống
– Đập: đập cạnh đầu chày vào thành đuống
– Đánh: đánh hai cạnh đầu chày vào nhau
Ngày nay, chàm đuống được đồng bào Mường ở Phú Thọ biểu diễn trong các lễ hội mùa xuân, lễ hội Đền Hùng và những ngày quan trọng trong dịp lễ, Tết
Hình 2 Tục chàm đuống của đồng bào Mường ở Phú Thọ
Trang 301 Hát Rang của người Mường thường được hát trong những dịp nào?
2 Hình thức diễn xướng chàm đuống của người Mường thường được biểu diễn
trong những dịp nào? Đuống được làm bằng gì? Kể tên và mô tả các động tác cơ bản của chàm đuống
2 Một số thể loại nghệ thuật trình diễn dân gian tiêu biểu của dân tộc Cao Lan
a) Hát Sình ca (Sịnh Ca)
Sình ca là một thể loại dân ca trữ tình, một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc, phong phú và hấp dẫn của đồng bào Cao Lan Sình ca được hình thành và gắn liền với câu chuyện tình của nàng Lưu Ba, một nữ thần thơ ca xinh đẹp của dân tộc Cao Lan
Sình ca có hai loại: hát theo lời hát cổ có sẵn, được lưu truyền hoặc người hát tự sáng tác trong khi hát đối đáp để giãi bày tâm trạng hoặc đố và giải Hát Sình ca không quy định tuổi tác Người trẻ thường hát giao duyên, đối đáp theo từng đôi nam nữ hoặc một tốp nam với một tốp nữ Người cao tuổi thì hát theo lời cổ Sình ca thường được hát trong các dịp Tết,
lễ hội của làng, trong đám cưới, trong lao động sản xuất hay trong các buổi sinh hoạt thôn xóm,
Hình 3 Hát Sình ca của đồng bào Cao Lan ở Phú Thọ
b) Múa xúc tép (sóc công)
Múa xúc tép thể hiện một hoạt động của con người trong cuộc sống lao động thường ngày Điệu múa thường có từ ba người trở lên Khi múa, hai tay cầm cán vợt đưa chéo xuống, một chân làm trụ, chân kia bước theo nhịp của trống, hai tay đưa vợt lên xuống,
Trang 31làm động tác như đang xúc tép Điệu múa thể hiện sự kết hợp nhịp nhàng giữa nhịp trống
và sự uyển chuyển hình thể của người biểu diễn Múa xúc tép không hạn chế về số lượng, tuổi tác và giới tính người tham gia nên mỗi dịp tổ chức múa đều tạo sự vui tươi, phấn khởi cho làng, bản
Hình 4 Múa xúc tép của đồng bào Cao Lan ở Phú Thọ
1 Sình ca của người Cao Lan thường được hát trong các dịp nào?
2 Múa xúc tép thể hiện hoạt động gì của con người? Em hãy thử thể hiện điệu múa
này dựa theo mô tả trong bài
3 Múa chuông trong lễ Tết nhảy của người Dao Quần Chẹt
Múa chuông là điệu múa quan trọng nhất, mở màn cho phần chính lễ trong lễ Tết nhảy Người Dao Quần Chẹt quan niệm, nếu không có điệu múa chuông thì coi như chưa tổ chức lễ Tết nhảy Đây là điệu múa giới thiệu xuất xứ từng loại dụng cụ được thờ cúng trong nhà với các thần thánh như: cờ, đao, kiếm, quân bài, lệnh bài, Sau khi được giới thiệu, các dụng cụ đó mới được các đoàn thần thánh công nhận và người múa mới được sử dụng các dụng cụ đó vào các điệu múa tiếp theo
Những người tham gia múa chuông nối nhau, xếp thành hình tròn giữa nhà và làm theo các động tác của thầy mo Mỗi người cầm một quả chuông nhỏ để trước bụng, chân bước đi
lúc bình thường, lúc chậm, vừa đi vừa lắc chuông vừa hát bài Linh la xuất thế.
Trang 32Hình 5 Múa chuông trong lễ Tết nhảy của đồng bào Dao Quần Chẹt ở Phú Thọ
Em hãy nêu ý nghĩa của múa chuông trong lễ Tết nhảy của người Dao Quần Chẹt
4 Múa khèn, thổi kèn lá của dân tộc Mông
a) Múa khèn
Khèn là một nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống của người Mông và là một phần quan trọng tạo nên nét văn hoá đặc sắc của dân tộc này Khèn có mặt trong hầu hết các sinh hoạt văn hoá và tâm linh của người Mông
Khèn được cấu tạo phù hợp với dáng người cúi khum và múa xoay vòng, vừa quay vừa nhảy Múa khèn do nam giới thể hiện Động tác múa khèn của người Mông rất phong phú,
đa dạng Theo thống kê, có khoảng 30 động tác, tổ hợp múa khèn như: nhảy đưa chân, nhảy lưới, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, quay di động, vờn khèn, quay cầu, quay gót, chọi gà, trong
đó, chủ đạo là quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoáy ốc
Hình 6 Múa khèn của người Mông
Trang 33b) Thổi kèn lá
Kèn lá là một nhạc cụ trữ tình đơn giản, ở đâu có
cây đều có thể hái lá để làm ra kèn lá Người thổi kèn
lá thường chọn những cây có lá hơi mềm, tương đối
dai và mép lá trơn
Có nhiều cách thổi kèn lá nhưng thường theo
hai cách sau:
– Ngậm ngang chiếc lá ở giữa hai môi, dùng môi
để giữ, kết hợp giữa việc sử dụng lưỡi và đẩy hơi ra
qua kẽ hở của môi
– Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái ở hai bàn tay
để giữ hai đầu của lá sau khi đã ngậm ở môi, dùng lưỡi kết hợp với môi đẩy hơi tạo ra âm thanh Khi thổi, lá dùng làm kèn được gập đôi lại ở phần mép lá mỏng hơn và ngậm vào môi, dùng hơi điều chỉnh âm thanh cao thấp, trầm bổng theo âm điệu bài hát
Người Mông thổi kèn lá lúc nông nhàn, trên đường đi nương hay ngồi nghỉ dưới gốc cây để bày tỏ cảm xúc với thiên nhiên, với con người Kèn lá có từ xa xưa, nam hay nữ cũng đều có thể thổi được Tuy đơn giản song kèn lá là một nhạc cụ không thể thiếu được trong đời sống văn hoá tinh thần của người Mông
1 Động tác nào là động tác chủ đạo trong múa khèn của người Mông?
2 Mô tả hai cách thổi thông thường của kèn lá.
1 Nêu tên các thể loại nghệ thuật trình diễn dân gian tiêu biểu của một số dân tộc ở Phú
Thọ Nêu một vài nét đặc trưng của từng loại hình đó
2 Em sẽ làm gì để gìn giữ, phát triển các thể loại nghệ thuật trình diễn dân gian của
Phú Thọ?
Lựa chọn một trong hai nội dung dưới đây:
– Tự luyện tập và trình bày một bài dân ca/một điệu múa dân gian được giới thiệu ở trên hoặc em biết (có thể trình bày với hình thức cá nhân hoặc theo nhóm)
– Chọn một chiếc lá phù hợp, tập thổi và trình diễn kèn lá với một bài dân ca em biết
Hình 7 Người Mông thổi kèn lá để bày tỏ
cảm xúc với thiên nhiên, con người