1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài Liệu Giáo Dục Địa Phương Lâm Đồng-Lớp 6.Pdf

75 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Giáo Dục Địa Phương Tỉnh Lâm Đồng Lớp 6
Tác giả Phạm Thị Hồng Hải, Trần Đức Lợi, Nguyễn Quốc Túy, Lâm Mã Quốc Dũng, Trần Thị Kim Ngân, Phạm Thị Thu Hiền, Tống Xuân Tám, Trần Thị Thái Hà, Phạm Đình Văn, Mai Phú Thanh, Hà Thị Thanh Nga, Đào Thị Hà
Người hướng dẫn Tổng Chủ Biên Phạm Thị Hồng Hải, Chủ Biên Trần Đức Lợi
Trường học Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Lâm Đồng
Chuyên ngành Giáo Dục Địa Phương
Thể loại Tài liệu
Thành phố Lâm Đồng
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 40,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 1 TỈNH TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG LỚP 6 UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÂM ĐỒNG 3 2 BAN BIÊN SOẠN Phạm Thị Hồng Hải Tổng Chủ biên Trần Đức Lợi Chủ biên Cùng các thành viên 1[.]

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LÂM ĐỒNG

Trang 2

1 Nguyễn Quốc Túy 6 Trần Thị Thái Hà

2 Lâm Mã Quốc Dũng 7 Phạm Đình Văn

3 Trần Thị Kim Ngân 8 Mai Phú Thanh

4 Phạm Thị Thu Hiền 9 Hà Thị Thanh Nga

5 Tống Xuân Tám 10 Đào Thị Hà

Trang 3

Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lâm Đồng − Lớp 6 được biên soạn theo các chủ đề, tương ứng với mạch kiến thức trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 Mỗi chủ đề được thiết kế theo hướng

mở, linh hoạt để có thể điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế − xã hội của địa phương và thực tiễn dạy học trong nhà trường, song vẫn bảo đảm mức độ yêu cầu chung của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018

Tài liệu không chỉ dùng để dạy và học mà còn là tư liệu để trải nghiệm, khám phá những nét đẹp của vùng đất Lâm Đồng Trong quá trình biên soạn, mặc dù nhóm tác giả đã rất cố gắng nhưng khó tránh khỏi thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô giáo, quý phụ huynh, các em học sinh,… để lần tái bản được hoàn chỉnh hơn.

Trang 4

4

KÍ HIỆU VÀ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG TÀI LIỆU

Yêu cầu về năng lực và phẩm chất mà học sinh cần đạt được sau khi học.

Xác định nhiệm vụ, vấn đề học tập cần giải quyết; kết nối với những điều học sinh

đã biết, nêu vấn đề nhằm kích thích tư duy, tạo hứng thú vào bài học mới.

Học sinh khai thác, tiếp nhận kiến thức mới thông qua nội dung (kênh hình và kênh chữ) các hoạt động học tập.

Luyện tập: Là các câu hỏi, bài tập, thực hành, để củng cố kiến thức, rèn

luyện các kĩ năng gắn với kiến thức vừa học.

Vận dụng: Sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống,

vấn đề trong thực tiễn.

Là các câu hỏi học sinh sẽ phải giải quyết, trả lời, trong quá trình khám phá, tìm hiểu nội dung bài học.

Em có biết

Nội dung mở rộng của bài học, cung cấp thêm những kiến thức cho các em

có điều kiện tiếp thu bài học tốt hơn.

Trang 5

5

Mục lục

Trang

Chủ đề 1:

Chủ đề 2:

Chủ đề 3:

Chủ đề 4:

Chủ đề 5:

Chủ đề 6:

Lời nói đầu 3

Kí hiệu và hướng dẫn sử dụng tài liệu 4

Mục lục Trang Vùng đất Lâm Đồng từ thời nguyên thuỷ đến thế kỉ X 7

Truyện cổ dân gian Lâm Đồng 15

Atiso − Loài cây đặc sản của Đà Lạt 27

Nhạc cụ truyền thống Lâm Đồng 35

Tác phẩm mĩ thuật Lâm Đồng 40

Địa lí tự nhiên tỉnh Lâm Đồng 50

Chủ đề 1 Chủ đề 2 Chủ đề 3 Chủ đề 4 Chủ đề 5 Chủ đề 6 Phụ lục: Bảng tra cứu thuật ngữ 74

Tài liệu tham khảo 75

Danh mục tác giả hình ảnh 76

Chủ đề 7 Khu dự trữ sinh quyển thế giới Lang Biang 63

Trang 6

6

Lược đồ vị trí địa lí tỉnh Lâm Đồng trên bản đồ hành chính Việt Nam

Tỉ lệ 1:10 000 000

Trang 7

Biết trân trọng, giữ gìn những di tích lịch sử của quê hương.

Hình 1.1 Lược đồ một số di chỉ khảo cổ học tiêu biểu

của tỉnh Lâm Đồng

Trang 8

8

Lâm Đồng là một vùng đất cổ, có nền văn hoá, lịch sử lâu đời Dấu vết của con người từ những giai đoạn sớm trong lịch sử đã được tìm thấy

ở đây Sự phong phú về chủng loại và số lượng các công cụ lao động,

đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức, được lưu giữ lại trong lòng đất là những chứng tích sinh động về cuộc sống của cư dân cổ Lâm Đồng từ cách đây hàng vạn năm

Hình 1.2 Sưu tập đồ đá ở Tà Liêng và Lạc Xuân II

Xem đoạn phim tư liệu về quần thể di tích Cát Tiên hoặc phim tư liệu của Bảo tàng Lâm Đồng về một cuộc khai quật khảo cổ học trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

Theo em, những cư dân đầu tiên xuất hiện ở Lâm Đồng vào khoảng thời gian nào?

I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÂM ĐỒNG TỪ THỜI NGUYÊN THUỶ ĐẾN THẾ KỈ X

1 Những dấu tích của thời nguyên thuỷ trên đất Lâm Đồng

Trang 9

9

Cách đây khoảng 3000 − 4000 năm, ở hầu khắp các huyện của Lâm Đồng đã có con người cư trú mà dấu tích của họ để lại rõ nét nhất ở di chỉ Thôn Bốn (xã Gia Lâm), Phúc Hưng (xã Tân Hà), Hoàn Kiếm (xã Nam Hà) của huyện Lâm Hà

Những dấu tích được cho là cổ xưa nhất của con người trên mảnh đất Lâm Đồng đã tìm thấy ở Núi Voi (huyện Đức Trọng), Đồi Giàng (thành phố Bảo Lộc), Tà Liêng (huyện Lâm Hà) và Lạc Xuân II (huyện Đơn Dương)

Đó chủ yếu là những công cụ làm từ đá, được ghè đẽo với kĩ thuật thô sơ

Hình 1.3 Một số hiện vật bằng đá được tìm thấy tại di chỉ Thôn Bốn

Trang 10

10

Phù Mỹ là tên của di chỉ khảo cổ nằm trên địa bàn thị trấn Cát Tiên, huyện Cát Tiên, có niên đại cách ngày nay vào khoảng 2 500 năm Thời kì này, cư dân cổ Lâm Đồng bên cạnh các công cụ và đồ dùng sinh hoạt bằng đá, gốm, đất nung đã biết chế tác ra công cụ bằng đồng

Di chỉ Phù Mỹ được khai quật lần đầu vào năm 1998 Nhiều hiện vật

đã được phát hiện tại đây như như cốc, bát, bàn xoa, dọi xe sợi, chân đèn, bằng gốm và đất nung; rìu đá, rìu đồng

Ngoài ra, một số hiện vật khác như trống đồng và các bộ đàn đá được sưu tập trên đất Lâm Đồng cũng được xếp chung vào thời đại kim khí của địa phương

Em có biết

Trang 11

Di tích Cát Tiên có quy mô rộng lớn, gồm nhiều thành phần kiến trúc khác nhau Hiện vật được tìm thấy ở đây rất phong phú, gồm: vật liệu kiến trúc như gạch, ngói; tượng thờ (tượng nữ thần Uma, tượng Ganesa, ), linga − yoni, các đồ dùng trong nghi lễ bằng đồng thau, vàng, bạc; đồ gốm, các mảnh vàng lá có hoa văn mang những biểu tượng của đạo Hinđu, hoa sen, các con vật; đồ trang sức, đồ dùng sinh hoạt, có giá trị cao về lịch sử − văn hoá.

Các nhà khoa học bước đầu xác định đây là khu vực mang chức năng tôn giáo của một cộng đồng cư dân chịu ảnh hưởng của đạo Hinđu, tồn tại trong khoảng thời gian từ thế kỉ IV đến thế kỉ X

2 Vùng đất Lâm Đồng từ đầu Công nguyên đến thế kỉ X

Hình 1.7 Dấu tích kiến trúc tại gò C2

di tích Cát Tiên Hình 1.8 Mộ vò bằng gốm tại di tích Cát Tiên

Hình 1.6 Đàn đá Di Linh (phát hiện tại xã Đình Lạc, huyện Di Linh) Hình 1.5 Trống đồng Đông Sơn (loại H1)

(phát hiện tại xã Hà Lâm, huyện Đạ Huoai)

Trang 12

12

Hình 1.9 Tượng nữ thần Uma được tìm thấy tại di tích Cát Tiên

1 Em có nhận xét gì về những hiện vật được tìm thấy tại di tích Cát Tiên?

2 Theo em, di tích Cát Tiên có ý nghĩa như thế nào về lịch sử − văn hoá?

Di tích Cát Tiên thuộc địa phận xã Quảng Ngãi và xã Đức Phổ, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng Các hoạt động thăm dò, khai quật khảo cổ ở Cát Tiên đã diễn ra từ năm 1984 đến năm 2013 Tại đây, các nhà khoa học đã tìm thấy dấu tích của nhiều công trình kiến trúc cổ; hiện vật phong phú, đa dạng

Từ những kết quả thu được, các nhà khoa học nhận định: Cát Tiên

là một thánh địa của cộng đồng cư dân cổ Khu di tích này đã trải qua

ít nhất hai giai đoạn phát triển: giai đoạn sớm với dấu tích di chỉ cư trú

Em có biết

Hình 1.10 Những miếng vàng lá hình hoa sen

tại di tích Cát Tiên

Trang 13

13

Cách ngày nay hàng vạn năm, cư dân cổ Lâm Đồng đã lựa chọn những sườn đồi bazan, khu vực ven sông, suối để sinh sống Đá là nguyên liệu chính để họ chế tác nên những công cụ lao động Phương thức sinh sống chủ yếu của cư dân thời kì này vẫn là săn bắt và hái lượm, cuộc sống của họ phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên

Từ khoảng 2 500 năm cách ngày nay, cư dân cổ Lâm Đồng đã sinh sống, định cư lâu dài ở hầu khắp các huyện trên địa bàn tỉnh Đời sống vật chất của họ đã phát triển hơn nhờ các hoạt động kinh tế đa dạng như săn bắt, hái lượm, đánh cá, trồng trọt, chế tác đá, làm gốm, đúc đồng, trao đổi sản phẩm

Những thành tựu trong quá trình lao động, sản xuất đã góp phần tạo nên sự phong phú, giàu bản sắc trong đời sống văn hoá, tinh thần của cư dân cổ Lâm Đồng Họ thể hiện trình độ thẩm mĩ qua việc chế tác và sử dụng các hạt chuỗi để làm đồ trang sức; làm gốm và trang trí trên gốm, Trống đồng và đàn đá có thể đã được cư dân cổ Lâm Đồng sử dụng với nhiều mục đích khác nhau: là nhạc cụ trong các nghi lễ tôn giáo, là biểu tượng quyền uy của người thủ lĩnh, hay đơn giản là âm thanh của nó có

ý nghĩa như một hiệu lệnh,

Bên cạnh đó, hệ thống kiến trúc đền thần, tượng thờ, bộ linga − yoni,

ở di tích Cát Tiên cho thấy dấu ấn đạo Hinđu trong đời sống của những

cư dân đã có mặt tại đây từ những thế kỉ đầu Công nguyên; ước vọng của họ về sự sinh sôi nảy nở của vạn vật, về mùa màng tốt tươi và cuộc sống ấm no, hạnh phúc

II KHÁI QUÁT VỀ ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT, TINH THẦN CỦA CƯ DÂN LÂM ĐỒNG TỪ THỜI NGUYÊN THUỶ ĐẾN THẾ KỈ X

và đền thần thế kỉ IV đến thế kỉ VI, hoặc sớm hơn vào khoảng từ thế kỉ III; giai đoạn muộn từ thế kỉ VII đến thế kỉ X

Di tích Cát Tiên mang đậm dấu ấn văn hoá bản địa nhưng vẫn thể hiện sự tiếp thu tinh hoa của những nền văn hoá khác trong suốt chiều dài lịch sử, tồn tại từ thế kỉ IV đến thế kỉ X Nơi đây gắn liền với một cộng đồng cư dân cổ có tổ chức, quy mô, với hệ thống kinh tế − xã hội thống nhất, chặt chẽ, có trình độ phát triển cao

Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, năm 2014 di tích Cát Tiên (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt

Trang 14

3 Sưu tầm tranh ảnh, bài viết về di tích Phù Mỹ và di tích Cát Tiên.

4 Địa phương nơi em sống có dấu tích của cư dân cổ Lâm Đồng không? Nếu có hãy chia sẻ hiểu biết của em về địa điểm này với các bạn trong lớp/ nhóm

Hình 1.11 Bộ linga yoni lớn nhất Đông Nam Á được tìm thấy ở khu di tích Cát Tiên

Trang 15

Nhận biết được một số đặc điểm của truyện dân gian Lâm Đồng.

Nhận biết và trình bày được cách giải thích của nhân dân về một

số sự kiện lịch sử, địa danh, nhân vật, của Lâm Đồng thể hiện trong truyện dân gian

Xác định và trình bày được chủ đề, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc.

Kể lại được một truyện dân gian Lâm Đồng (bằng hình thức viết hoặc nói).

Bồi dưỡng tình yêu quê hương Lâm Đồng.

MỤC TIÊU

Hình 2.1 Mây núi Lang Biang

Trang 16

Kho tàng truyện cổ dân gian Lâm Đồng là sáng tạo của cộng đồng các tộc người sinh sống trên vùng đất Lâm Đồng từ thuở xưa, được lưu truyền bằng con đường truyền miệng cho các đời sau Về thể loại, truyện

cổ dân gian Lâm Đồng khá phong phú, bao gồm truyện thần thoại, truyện truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười Tuy nhiên, ranh giới giữa các thể loại này nhiều khi không được phân định rõ ràng mà có

sự kết nối lẫn nhau Về nội dung, truyện cổ dân gian Lâm Đồng thể hiện

sự nhận thức và khát vọng chinh phục tự nhiên; tình yêu với cộng đồng

và lòng tự hào về quá trình xây dựng, chiến đấu, bảo vệ cộng đồng; lên

án, chống lại cái ác, cái xấu, ca ngợi và đề cao cái thiện, cái tốt, lòng chung thuỷ,

Truyện cổ dân gian Lâm Đồng vừa mang những đặc điểm chung của văn học dân gian Việt Nam, vừa mang những dấu ấn riêng của đất và người Lâm Đồng Đây chính là những nguồn tư liệu quý giá để người đọc

và con cháu các thế hệ sau hiểu hơn về đời sống văn hoá, tinh thần, của cha ông xưa trên mảnh đất quê hương

Trang 17

Thật là quá khổ, quá nghèo!

Một hôm mấy chị em nói với nhau:

− Ở đây, không có gì ăn, đói, chết mất Người chị lớn Ka Rum nói:

− Ờ, mỗi người đi một nơi, kiếm cái no, cái sống,… Người chị nhỏ Ka Rút tiếp lời

− Đi đâu, ở đâu, phải tin cho nhau biết Người em trai dặn thêm

− Làm sao mà tin cho nhau biết được? Ka Rum hỏi

− Khó quá! Ka Rút băn khoăn

Núi rừng im lặng Một lúc sau, người em trai nói:

− Đúng rồi! Ta vạch dấu(4) lên lá, lên da con trâu,… nhờ gió, nhờ nước,… chuyển đến cho nhau…

− Ừ phải! Mọi người cười, nói vui vẻ và ra đi

Người em trai và chị Ka Rút theo đường suối lên rừng Ngày đi đêm ngủ Đào củ mài(5), bẻ đọt mây, đốt rễ cỏ tranh làm muối ăn cho qua bữa

(1) Cái xốp: túi đan bằng lá cỏ dùng để đựng cơm (hoặc gói cơm) của người Mạ.

(2) Cái ché: đồ đựng bằng sành, sứ, thân tròn phình to ở giữa, miệng loe và có nắp đậy,

thường dùng để đựng rượu.

(3) Cây yar: cây có thân trắng, tỉa cành, tán rộng, lá như lá gai Lột vỏ ngoài, lấy vỏ lụa,

luộc kĩ cho mềm sợi Dùng sợi dệt vải và bện, buộc rất bền.

(4) Vạch dấu: làm một dấu hiệu để dễ nhận ra khi cần.

(5) Củ mài: củ của loài cây leo mọc ở rừng, củ hình trụ chứa nhiều bột, dùng làm thuốc

hay làm thức ăn.

Trang 18

18

Rừng rậm, núi cao, suối sâu,… chị em dìu nhau vượt qua Đến một chiều

nọ, hai đầu nguồn nước Đạ Đờng (Đồng Nai) chảy xiết, không lội qua được, hai chị em Ka Rút đành dừng chân lại và xây dựng làng buôn, sinh con đẻ cái, phát rẫy tra hạt, nuôi trâu, dê, heo, gà,…

Làng buôn Mạ sinh ra từ đó

Ít lâu sau, nhớ Ka Rum, Ka Rút bảo em trai lấy miếng da trâu vẽ vạch tin về buôn làng mới, về đất rừng, về ăn ở, về sức khoẻ của Ka Rút và em trai đã ở yên nơi đầu nguồn nước, nơi có ông Yút, ông Lang Bian,…

Các con suối Đạ Lạch, Đạ Me, Đạ Tẻh, Đạ Nga,… đưa miếng da trâu

có vạch dấu gửi của chị em Ka Rút đến với chị Ka Rum dưới xuôi Nhưng miếng da trâu đi chưa được bao lâu, con cá, con quạ thèm ăn đã rỉa rứt(1) và tha đi miếng da trâu ấy Nên ngày nay, người Mạ chưa có chữ riêng của dân tộc mình là vậy

Còn chị lớn Ka Rum, một mình chỉ lủi thủi, đường bằng đi mãi, đi mãi Nhưng rồi cũng hết đường, vì gặp biển Ka Rum phải dừng lại và dựng xây làng xóm Việt

Nhớ lời hẹn xưa, chị Ka Rum lấy lá chuối khô viết vạch tin mừng và nhờ gió chuyển đưa lên rừng thăm chị em Ka Rút, từ đó, người Việt có chữ viết của mình

Tuy là anh chị em chung một ruột, nhưng chị Việt có chữ viết, em Mạ chưa có chữ viết là do nguyên nhân xảy ra tự xa xưa

Và cũng từ xa xưa, người Mạ thường truyền miệng cho con cháu mình biết và nhớ một câu nói: “Choong, Bang Kon yuôn; Tôông, Tang kon chau bal kon me rưng”(2) Nghĩa là: Choong và Bang là người Kinh; Tôông, Tang là người dân tộc, nhưng đều là con chung một mẹ

Ông K’Mọch, 68 tuổi, người Mạ, buôn B’Trú, xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lộc (nay thuộc huyện Bảo Lâm) kể. (Theo Lâm Tuyền Tĩnh, Sự tích Lang Bian (Truyện cổ các dân tộc thiểu

số Lâm Đồng), Tập I, Sở Văn hoá − Thông tin Lâm Đồng xuất bản, 1987)

(1) Rỉa rứt: dùng miệng hoặc mỏ để mổ và rứt dần ra từng miếng nhỏ.

(2) Phiên âm từ tiếng Mạ.

Trang 19

19

1 Truyện kể về những nhân vật nào? Họ có vai trò gì trong việc hình thành các dân tộc trong quan niệm của người Lâm Đồng xưa?

2 Vì sao ba chị em quyết định đi đến những nơi khác nhau?

3 Chỉ ra ý nghĩa của các chi tiết sau:

a Đi đâu, ở đâu, phải tin cho nhau biết

b Ta vạch dấu lên lá, lên da con trâu,… nhờ gió, nhờ nước,… chuyển đến cho nhau…

c Đến một chiều nọ, hai đầu nguồn nước Đạ Đờng (Đồng Nai) chảy xiết, không lội qua được, hai chị em Ka Rút đành dừng chân lại và xây dựng làng buôn,…

d Còn chị lớn Ka Rum, một mình chỉ lủi thủi, đường bằng đi mãi, đi mãi Nhưng rồi cũng hết đường, vì gặp biển Ka Rum phải dừng lại và dựng xây làng xóm Việt

4 Tóm tắt các sự kiện chính của truyện Con chung một mẹ theo

sơ đồ sau:

5 Chủ đề của truyện Con chung một mẹ là gì?

Hướng dẫn đọc hiểu

Văn bản 2

SỰ TÍCH NÚI LANG BIAN(1), NÚI VOI(2) VÀ SUỐI ĐẠ NHIM(3)

Núi Lang Bian ngày xưa không có tên, có tuổi như bây giờ Người già

ở đây thường kể:

(1) Núi Lang Bian: là núi Lang Biang, nay thuộc huyện Lạc Dương Ở đây ghi theo văn bản gốc.

(2) Núi Voi: thuộc huyện Đức Trọng.

(3) Suối Đạ Nhim: là sông Đạ Nhim bắt nguồn từ huyện Lạc Dương, chảy qua huyện Đơn Dương, huyện Đức Trọng

Trang 20

20

Thuở ấy, làng buôn Kon Đó, có một chàng trai con nhà nghèo mồ côi cha tên là Ha Bian Và, một cô con gái xinh đẹp tên là Ka Lang, con gia đình nọ, bố mẹ song toàn Hai người lớn lên và yêu nhau

Một hôm, Ha Bian thưa với mẹ:

− Mẹ ơi, con muốn bắt vợ(1) để mẹ yên lòng…

Lâu nay, bà mẹ cũng nghĩ như vậy nên ưng ý ngay và lo đầy đủ mọi thứ cho lễ cưới con mình Thế là Ha Bian và Ka Lang về ở chung với nhau, yêu thương, hoà thuận

Bảy năm qua, lúa, bắp, heo, gà, dê, trâu,… chật sân chật nhà Cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nhưng đã sang năm thứ tám, Ka Lang không chịu đẻ con và ông trời cũng không cho mưa xuống Rồi tiếp đến bốn năm liền hạn hán triền miên, nước không có để uống, gạo không có để

ăn, thiếu cả lá rau, trái ớt,… Ha Bian đã buồn vì không có con, nay lại thêm cái buồn hạn hán đốt cháy buôn làng, bà con ai cũng lo đói kém

Ha Bian tức lắm và thưa với các già làng:

− Trời không mưa, không có nước, ta sống không được, ta phải đi kiện trời

− Cháu kiện trời được à? Sống gần trăm năm ở đây, ta chưa thấy ai dám kiện trời, liệu cháu làm nổi việc ấy không? − Một già làng hỏi

− Làm được! Cháu sẽ đi đến nơi, gặp trời và hỏi

Các già làng vốn kiêng nể và sợ trời, nhưng thấy Ha Bian nói phải đều gật gật cái đầu Một già làng khác hỏi:

− Cháu kiện được trời là đúng ý muốn của muôn người ở đây Ôi, mấy năm nay, không đủ trái ớt cay, không đủ lá rau nhíp ngọt Cái bụng đã xót lắm rồi! Không có nước, sao sống được! Mất nước là mất tất cả? Phải xin trời cho mưa rơi thôi!

Mọi người đều cầu chúc cho Ha Bian mạnh cái tay, khoẻ cái chân, giỏi cái đầu và nói những câu buộc trời phải chịu

Sau khi bàn bạc kĩ với làng buôn, Ha Bian về nói với vợ:

− Ka Lang à, Ha Bian phải đi kiện trời vì trời quên chúng ta, không cho mưa thuận gió hoà, không cho nhà nhà no ấm khiến muôn loài đều căm giận!

− Ha Bian đi với ai? − Người vợ hỏi

(1) Bắt vợ: phong tục hôn nhân của đồng bào một số dân tộc trước đây.

Trang 21

Biết không còn cách nào giữ đôi chân Ha Bian được, Ka Lang đành

im và ôm chầm lấy Ha Bian không muốn rời xa nữa Ha Bian xoa đầu vợ

âu yếm:

− Thôi, ngày mai Ha Bian đi, đừng buồn nữa Ka Lang!

Hai người thức trắng đêm Ka Lang nấu một nồi cơm thơm, chuẩn bị tất cả để Ha Bian đi vào lúc trời vừa sáng Ha Bian nắm tay vợ nói:

− Ka Lang ở nhà, chăm sóc mẹ già khi đau ốm và nếu bảy ngày không thấy Ha Bian về, Ka Lang hãy tìm đường theo tiếp gạo Trên đường

đi, cứ ba thước, Ha Bian sẽ bẻ hạ một cây con làm dấu vết!

Ka Lang càng nức nở:

− Chúc Ha Bian đi sớm trở về!

Mặt trời đã đỏ rực đằng đông, đường lên trời giục Ha Bian tiến bước,

Ha Bian đã đi, được bảy ngày đường rừng mệt mỏi Càng lên cao càng khát nước Sức đã kiệt, gạo lại không còn, đã thế, sông núi càng hiểm trở, không mở lối cho Ha Bian đi; Ha Bian gục xuống và chết trên lưng chừng núi Gan Reo…

Sang ngày thứ tám, nóng ruột quá, Ka Lang lần theo vết gãy cây non tìm đến chỗ Ha Bian nằm chết khóc thương thảm thiết Tiếng khóc Ka Lang vang xa khắp tám núi, tám sông, tám rừng, tám suối,… Tiếng khóc

Ka Lang bay tới tận trời Nghe thấy tiếng khóc, trời liền hỏi:

− Tiếng khóc của ai, ta nghe hoài không chịu nổi?

− Tiếng khóc của Ka Lang thương chồng chết! − Một thần quan nói

− Chồng chết vì sao? − Trời hỏi

− Vì đi kiện trời xin mưa! − Một thần quan trả lời

− Kiện ta à? Xin mưa à? Ôi, ta vô tâm quá! Lâu nay ta vô tâm quá! Thần mưa đâu, hãy cho mưa xuống! Bắp, lúa đang cần nước sống, người người đang cần nước uống, mưa mau!

Lệnh trời phán truyền, thần mưa tung mưa xuống Trong mưa, Ka Lang càng khóc dữ dội hơn, khóc mừng cho làng buôn có nước, khóc thương

Ha Bian chết tội nghiệp giữa rừng! Tiếng khóc Ka Lang làm xúc động con

Trang 22

22

voi đầu đàn, nó đến đứng che mưa cho Ka Lang Và sau bảy ngày, Ka Lang chết Thương Ka Lang và Ha Bian, con voi không nỡ bỏ đi, suốt ba tháng ròng đứng khóc và che mưa cho hai người rồi cuối cùng cũng chết theo luôn

Sau ba tháng mưa tầm tã, nước mưa hoà cùng với nước mắt Ka Lang, nước mắt voi tưới khắp núi đồi, nương rẫy, làng buôn và chảy thành suối nước Suối nước ấy được bà con dân buôn gọi là suối Đạ Nhim (nước mắt)

Nhờ vợ chồng Ka Lang nên buôn làng đã có nước Có nước là có tất

cả lúa, bắp, ớt, rau,… Các già làng thương nhớ Ka Lang, Ha Bian và lấy tên Lang Bian đặt tên cho núi cao Kon Đó, lấy tên ông Voi đặt cho núi Gan Reo Sự tích núi Lang Bian, núi Voi, suối Đạ Nhim là thế

Ông Liêng Hót Ha Huý, 92 tuổi, dân tộc Chil, buôn Kon Đó, xã N’Thol Hạ, huyện Đức Trọng kể (Theo Truyện cổ tích Mạ − K’Ho,

Sở Văn hoá − Thông tin Lâm Đồng xuất bản, 2004)

Hướng dẫn đọc hiểu

1 Qua những chi tiết kể về Ha Bian và Ka Lang, em thấy hai nhân vật này có những phẩm chất gì?

2 Sắp sếp các sự kiện sau theo đúng trình tự xuất hiện trong truyện:

a Trời biết chuyện, tự trách mình vô tâm và cho thần làm mưa xuống

b Hạn hán kéo dài, Ha Bian quyết định lên đường kiện trời Sau bảy ngày, Ha Bian kiệt sức và chết trên lưng chừng núi Gan Reo

c Buôn làng lấy tên Lang Bian đặt cho núi Kon Đó, lấy tên ông Voi đặt cho núi Gan Reo, con suối hoà nước mưa, nước mắt

Ka Lang, nước mắt voi được gọi là suối Đạ Nhim

d Ka Lang đi tìm chồng, đến chỗ Ha Bian chết và khóc thảm thiết

đ Ha Bian và Ka Lang yêu thương nhau, nên duyên vợ chồng

và sống hạnh phúc

e Bảy ngày sau, Ka Lang cũng chết Con voi đầu đàn đứng

khóc và che mưa cho hai người suốt ba tháng ròng rồi cũng chết theo

Trang 23

5 Truyện Sự tích núi Lang Bian, Núi Voi và suối Đạ Nhim có chi tiết

“kiện trời” giống với một câu chuyện cổ dân gian nào của Việt Nam?

Từ đó, em có suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa truyện cổ dân gian Lâm Đồng với truyện cổ dân gian Việt Nam?

Trong một khu rừng nọ, có một con cọp dữ và một con heo rừng rất hung hãn Cọp và heo, con thì cậy có móng vuốt sắc, con thì cậy có bộ nanh dài, bắt nạt tất cả mọi loài Các con vật đều không thể nào sống yên lành với hai con thú hung ác này được

Mọi loài kéo nhau đến nhà thỏ để bàn cách giết cọp và heo rừng Chúng nghĩ mãi vẫn chẳng tìm ra cách gì Bỗng thỏ reo to:

− Tôi nghĩ ra rồi! Tôi nghĩ ra rồi!

Các con vật xúm lại Thỏ ghé tai nói thầm với chúng Cả bọn đều phục mưu trí của thỏ

Sáng hôm sau, thỏ tìm gặp cọp trong một bụi rậm Thỏ khẽ nói vào tai cọp:

− Bác cọp ơi! Thằng heo rừng cứ luôn nói xấu, doạ giẫm bác mà bác không biết sao?

Cọp vừa nghe thấy vậy đã giận dữ gầm lên:

− Cái gì? Thằng heo rừng mà dám nói xấu và doạ giẫm ta? Nó nói gì vậy?

− Chu choa! Thỏ làm lộ bí mật − thằng heo rừng nói bác cọp miệng to, răng to, mặt to mà nhút nhát, chỉ dám bắt nạt bầy dê và loài heo nhà thôi Trong một khu rừng nọ, có một con cọp dữ và một con heo rừng rất hung hãn Cọp và heo, con thì cậy có móng vuốt sắc, con thì cậy có bộ nanh dài, bắt nạt tất cả mọi loài Các con vật đều không thể nào sống yên lành với hai con thú hung ác này được

VÌ SAO THỎ TAI DÀI, ĐUÔI NGẮN?

III ĐỌC MỞ RỘNG

Trang 24

24

Mọi loài kéo nhau đến nhà thỏ để bàn cách giết cọp và heo rừng Chúng nghĩ mãi vẫn chẳng tìm ra cách gì Bỗng thỏ reo to:

− Tôi nghĩ ra rồi! Tôi nghĩ ra rồi!

Các con vật xúm lại Thỏ ghé tai nói thầm với chúng Cả bọn đều phục mưu trí của thỏ

Sáng hôm sau, thỏ tìm gặp cọp trong một bụi rậm Thỏ khẽ nói vào tai cọp:

− Bác cọp ơi! Thằng heo rừng cứ luôn nói xấu, doạ giẫm bác mà bác không biết sao?

Cọp vừa nghe thấy vậy đã giận dữ gầm lên:

− Cái gì? Thằng heo rừng mà dám nói xấu và doạ giẫm ta? Nó nói gì vậy?

− Chu choa! Thỏ làm lộ bí mật − thằng heo rừng nói bác cọp miệng to, răng to, mặt to mà nhút nhát, chỉ dám bắt nạt bầy dê và loài heo nhà thôi Heo rừng còn bảo: Nếu gặp bác, nó sẽ đâm thủng bụng bác

Sau đó, thỏ lại chạy theo đường tắt đến tìm gặp heo rừng Heo rừng đang ngủ say trong một cái hang sâu Thỏ lay heo rừng dậy, giả bộ sợ hãi nói:

− Bác heo ơi! Trốn mau đi! Thằng cọp đang tìm bác để ăn thịt đấy! Nó bảo: Phải cắn cổ heo rừng, vì heo rừng chỉ chuyên phá mì, phá bắp

Heo rừng bộc lên giận dữ Thỏ nói thêm:

− Thằng cọp nói rằng phải cắn cổ bác, xem tim bác có to không.Heo rừng vốn lì lợm và ngang ngạnh, nó chẳng nói chẳng rằng, chạy ngay đi tìm cọp

Hai con vật hung dữ gặp nhau Chúng mắng nhiếc, xỉ vả nhau thậm

tệ Cọp nói rằng heo rừng là loài chết đói Heo rừng rủa cọp là bị quỷ Briơng

ăn thịt Mỗi lúc, chúng một hung hăng, nhưng chúng vẫn sợ nhau Chúng hẹn bảy ngày nữa sẽ gặp nhau để thử sức

Trong bảy ngày ấy, cọp lăn mình mãi ở trên đồi cỏ tranh cho khoẻ người Cả đồi cỏ tranh bị cọp lăn trở thành xơ xác Cọp định bụng phen này sẽ ăn thịt heo rừng cho hả giận Còn heo rừng cũng lăn mình trong bùn suốt bảy ngày, để bùn trát vào da hết lớp này đến lớp khác Heo rừng định bụng làm gãy răng cọp, đâm cọp lòi ruột ra, để cọp hết thói ba hoa.Đến ngày thứ bảy, cọp và heo rừng gặp nhau ở một trảng lớn ven suối Chúng chẳng nói với nhau một lời, cứ lẳng lặng xông vào cắn xé nhau Thỏ ngồi trên một cây thông đổ, hò hét ầm ĩ, kích cho hai con vật đánh nhau chí tử

Trang 25

25

Cọp và heo rừng đánh nhau cho đến khi trời tối mịt, lại suốt cả ngày hôm sau Cọp nhiều lần ngoạm mạnh vào mình heo, bị gãy cả răng Khắp mình heo rừng cũng đầy vết thương Cả hai con vật máu chảy đầm đìa, cùng gầm lên giận dữ và đau đớn Mọi thú rừng đều im tiếng theo dõi hai tên chúa rừng đánh nhau Riêng thỏ vẫn ngồi trên thân cây thông hò hét

cổ vũ làm cho hai con vật càng điên tiết lao vào nhau mạnh hơn

Đến ngày thứ ba, heo rừng bị què một chân, còn cọp bị mù một mắt Chúng lảo đảo lao vào nhau lần cuối cùng Cả hai con vật ngã nhào xuống suối Chúng chìm nghỉm, không đủ sức bơi vào bờ nữa

Giữa lúc mọi loài vật kéo nhau ra suối xem xác hai con vật hung ác, thỏ bỗng thấy đuôi nó bị nhựa thông dính chặt vào thân cây thông Thỏ cố sức đứng dậy, vùng ra mà không được Nó đành ngồi nghĩ, nghĩ mãi, và rồi

nó nghĩ ra một kế Thỏ chờ đúng lúc bác voi ở trong rừng đi ra, liền hét lên thật to

− Dừng lại! Đây là suối nước của ta Ai ra suối cũng phải xin phép!Bác voi sững lại ngạc nhiên: Một chú thỏ nhãi ranh mà dám bắt nạt một bác voi to lớn! Voi tiếp tục đi Thỏ lại quát:

− Dừng lại! Đây là là suối nước của ta: Ai ra suối cũng phải xin phép Không xin phép, ta sẽ ăn thịt

Bác voi bực mình, bèn dừng lại túm lấy tai thỏ nhấc nó lên và quẳng sang một bên Thỏ đau điếng nhưng mừng vì thoát nạn, cắm cổ chạy vào rừng

Thỏ bị bác voi túm tai nên tai dài ra Còn đuôi thỏ trở nên ngắn cũn vì một mẩu bị đứt, dính ở thân cây thông ngày ấy

(Theo Truyện cổ Mạ, NXB Văn hoá, 1986)

Hướng dẫn đọc hiểu

1 Tóm tắt các sự kiện chính trong truyện

2 Theo em, câu chuyện có ý nghĩa gì?

3 Em hãy tìm hiểu và sưu tầm một số truyện cổ của các dân tộc

ở Lâm Đồng cũng như truyện cổ dân gian Việt Nam

Trang 26

Lời nói, ý nghĩ các nhân vật khác Tương tác với Cảm nhận của em về nhân vật: ………

2 Viết một bài văn kể lại một truyện dân gian Lâm Đồng

3 Hãy kể lại (bằng hình thức nói) một truyện dân gian Lâm Đồng

4 Em hãy viết lại một cái kết khác cho câu chuyện về chàng Ha Bian

và nàng Ka Lang

LUYỆN TẬP VÀ VẬN DỤNG

Trang 27

Giới thiệu được với bạn bè, người thân về đặc sản atiso của Đà Lạt.

Nêu được ý tưởng nhằm phát triển, quảng bá, giới thiệu, các sản phẩm từ atiso.

Thực hiện được các biện pháp giữ vệ sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm khi chế biến, sử dụng atiso hoặc các đặc sản, món ăn của Lâm Đồng.

Hình 3.1 Vườn atiso ở thành phố Đà Lạt

Trang 28

28

KHỞI ĐỘNG

HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI

1 Xem một đoạn phim ngắn về các đặc sản nổi tiếng của Lâm Đồng

và cho biết các thông tin em nhận được từ đoạn phim đó

2 Thi kể tên các đặc sản của Lâm Đồng

Đến với Đà Lạt, ngoài thưởng lãm non nước hữu tình, nếm những món

ăn ngon, uống li trà thanh mát thì người ta cũng khó mà quên được những sản phẩm từ atiso Bởi đây được coi là một loài cây đặc sản, chủ lực ở Lâm Đồng Năm 2013, atiso Đà Lạt trở thành một trong ba sản phẩm của Lâm Đồng được bình chọn trong Top 50 đặc sản quà tặng nổi tiếng Châu

Á và lọt vào Top 50 món ăn, trái cây đặc sản Việt Nam được sách Kỉ lục Guinnes Việt Nam ghi nhận.

I ATISO Ở ĐÀ LẠT

Atiso (tên tiếng Pháp là

artichaut) có nguồn gốc từ Địa

Trung Hải, được người Hy Lạp, La

Mã cổ đại sử dụng như một loại rau Đến đầu thế kỉ XX, theo con đường của những người phương Tây, atiso vào Việt Nam, phát triển

ở những vùng có khí hậu ôn đới như Sa Pa, Tam Đảo và nhiều nhất

là Đà Lạt Gắn bó với mảnh đất cao nguyên Lâm Đồng cả thế kỉ, atiso đã trở thành một cây trồng chủ lực, góp thêm một màu sắc, hương vị để Đà Lạt thêm lưu luyến bước chân du khách

1 Atiso đến Đà Lạt từ lúc nào?

Hình 3.2 Bông atiso Đà Lạt

Trang 29

29

Nếu như người Hy Lạp, La Mã cổ đại dùng atiso như một loại rau thì người Đà Lạt ngày nay đã sử dụng phổ biến atiso vào các món ăn hằng ngày Nhiều bộ phận của cây atiso được dùng làm rau như: đọt và lá non, thân non, đặc biệt là cụm bông gồm đế mang hoa, các lông tơ, các lá bắc có phần gốc mềm màu trắng bao xung quanh Từ tính thanh mát của atiso, những người đầu bếp thường chọn chế biến thành các món canh hoặc món hấp để giữ được hương vị và dược tính, bồi bổ sức khoẻ Các món ăn từ atiso có thể kể đến như: canh atiso hầm giò heo, canh atiso nấu sườn, canh atiso hầm táo đỏ, atiso trộn lạnh, súp atiso, Hay đơn giản hơn là các món như atiso hấp cách thuỷ, atiso luộc cũng

đủ sức hấp dẫn người dùng, níu chân thực khách bởi hương vị độc đáo của món ăn này

Atiso đã được ghi nhận là một loại thảo dược của Việt Nam Sách

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi) định danh cây atiso

như sau: “Tên khoa học Cynara scolymus, thuộc họ Cúc”; “cây atiso cao gần 1m hay hơn, có khi tới hơn 2m, trên thân và lá có lông trắng như bông

Lá to mọc cách, phiến lá bị khía sâu, có gai, mặt dưới có lông trắng Cụm hoa hình đầu, màu tím nhạt Lá bắc ngoài của cụm hoa dầy và nhọn Phần gốc nạc của lá bắc và đế hoa ăn được” Về dược tính của atiso, sách này viết: “Atiso dùng làm thuốc thông tiểu, thông mật, các bệnh yếu gan, thận, viêm thận cấp tính và kinh niên, sưng khớp xương”

Từ các dược tính của atiso, atiso được sử dụng như một sản phẩm giúp thanh nhiệt, giải độc, tăng cường trao đổi chất, cải thiện giấc ngủ, giảm căng thẳng, giảm mỡ máu, ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ, giúp hạ đường huyết và chống cao huyết áp,…

2 Công dụng của atiso

Hình 3.3 Canh atiso nấu sườn Hình 3.4 Trà atiso

Trang 30

30

II SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN ATISO

Atiso có nhiều công dụng nên các sản phẩm từ atiso cũng ngày càng phong phú Các sản phẩm chế biến từ atiso nổi bật nhất là cao atiso và trà atiso Trước đây, trà atiso được pha trực tiếp từ lá, hoa atiso cắt nhỏ, phơi khô Ngày nay, trà atiso được chế biến thành dạng trà túi lọc rất phổ biến và tiện lợi trong đời sống hiện đại Trà atiso túi lọc được lựa chọn nguyên liệu kĩ càng và chế biến tỉ mỉ Phần thân, lá, rễ và bông atiso tươi sau khi thu hoạch sẽ được rửa sạch, loại tạp chất, sau đó được sấy khô, phối trộn với 8% cỏ ngọt Tiếp theo là công đoạn xay, nghiền, sàng và rang Cuối cùng là đóng gói thành những túi lọc nhỏ Đặc biệt, sản phẩm luôn được chú ý bảo quản để không bị ẩm và giữ được hương vị

Cao atiso là sản phẩm của quá trình chưng cất công phu tạo thành chất màu đen sền sệt và có mùi thuốc bắc đặc trưng Cao từ lá atiso có

vị hơi đắng còn cao từ bông atiso lại có vị ngọt dịu Trước đây, thị trường phổ biến loại cao atiso cô đặc Hiện nay có thêm loại cao atiso dạng ống, có thể uống trực tiếp hoặc pha nước, rượu với một tỉ lệ nhất định, có lợi cho sức khoẻ

Ngoài trà atiso và cao atiso, các sản phẩm chế biến từ atiso còn có rượu ngâm atiso lâu năm, bông khô, cọng khô, cọng atiso, bông atiso tươi

sơ chế sạch sẽ, xếp vỉ Bên cạnh đó, một số cơ sở sản xuất atiso còn có sản phẩm nguyên liệu sấy khô từ lá, thân, rễ atiso để làm nguyên liệu sản xuất ra các mặt hàng khác như dược liệu, thực phẩm,…

1 Các sản phẩm chế biến từ atiso

Hình 3.5 Thu hái atiso

Trang 31

31

Hướng dẫn tìm hiểu

1 Bài viết trên đã nói đến những nội dung gì về atiso?

2 Hãy vẽ sơ đồ tư duy thể hiện các nội dung cụ thể của bài viết

về atiso theo mô hình gợi ý sau:

3 Theo em, nhờ đâu Đà Lạt nói riêng, Lâm Đồng nói chung có thể trồng, chế biến nên những sản phẩm mang nét đặc trưng riêng như vậy?

Là một loại cây đặc sản và cho giá trị kinh tế cao của Đà Lạt, atiso đang ngày càng được mở rộng quy mô trồng

Ở thành phố Đà Lạt có trên 100 ha diện tích trồng atiso, nhiều nhất

ở Phường 11, 12 Các vườn atiso ngoài vai trò là vùng nguyên liệu còn là địa chỉ du lịch được yêu thích của du khách Tỉnh Lâm Đồng tiến hành nghiên cứu và phát triển vùng trồng atiso ra ngoài thành phố Đà Lạt, cụ thể ở huyện Lạc Dương, nơi có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng gần giống

Đà Lạt Bên cạnh đó, tỉnh cũng đã áp dụng trồng một số giống atiso mới cho hiệu quả và giá trị cao hơn Với hướng phát triển này, cây atiso cùng những sản phẩm từ atiso sẽ ngày càng phát triển, mở rộng và chiếm lĩnh thị trường cả trong nước và thế giới

Hơn một thế kỉ đến với Đà Lạt, atiso đã trở thành một loài cây đặc trưng cả về giá trị kinh tế lẫn giá trị tinh thần Du khách lên Đà Lạt, hành lí mang về chắc chắn sẽ có những món quà đặc sản là sản phẩm từ atiso

2 Quy mô trồng atiso ở Đà Lạt

Trang 32

là quê hương thứ hai của mình Chính những người dân ấy đã mang theo

BÁNH TRÁNG LẠC LÂM, HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

1 Em hãy tìm hiểu công dụng, cách dùng cụ thể của các sản phẩm chế biến từ atiso

2 Hãy giới thiệu về một sản phẩm từ atiso theo các gợi ý:

Nguyên liệuQuy trình sản xuấtCách sử dụng, chế biếnCông dụng

Các thương hiệu nổi tiếng

3 Hãy thực hành chế biến một sản phẩm, món ăn có sử dụng nguyên liệu từ atiso

4 Khi chế biến, sử dụng đặc sản, món ăn truyền thống của quê hương, em cần chú ý những điều gì để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm?

5 Nếu gia đình em có vườn trồng atiso hoặc một sản phẩm đặc sản của Lâm Đồng, em nghĩ, gia đình mình cần có những cách nào để nâng cao chất lượng và quảng bá sản phẩm tốt hơn?

LUYỆN TẬP VÀ VẬN DỤNG

Trang 33

33

hương sắc món ăn ngon từ quê nhà để lâu dần tạo nên đặc sản trên đất Lâm Đồng Bánh tráng Lạc Lâm, huyện Đơn Dương là một trong những đặc sản ấy

Bánh tráng Lạc Lâm có nguồn gốc từ vùng Kinh Bắc, theo chân những người dân vào Lâm Đồng lập nghiệp đã hơn 60 năm Từ cách làm truyền thống của quê hương, họ đã sử dụng những nguyên liệu phổ biến được làm ra trên đất Lâm Đồng như: gạo, bột mì, mè, ớt, muối, đường, gừng,… làm ra từng chiếc bánh rồi phơi cùng nắng, gió Lâm Đồng và lập nên làng nghề, tạo nên thương hiệu đặc sản bánh tráng Lạc Lâm, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng

Quy trình làm bánh tráng Lạc Lâm trải qua nhiều công đoạn, đòi hỏi sự

kì công cũng như sự cẩn thận, khéo léo của người lao động

Bước 1: Ngâm gạo: gạo được chọn lựa đảm bảo chất lượng và ngâm

trong nước từ 2 giờ trở lên để gạo ngậm nước và mềm

Bước 2: Xay gạo: gạo đã ngâm nước sẽ được xay thành bột gạo Sau

công đoạn này, ta có thể thêm lượng bột mì theo tỉ lệ nhất định để tăng độ kết dính và độ dẻo của bánh

Bước 3: Rây bột: phần bột đã xay được để qua đêm, sáng hôm sau sẽ

chắt phần nước, lấy phần lắng sệt phía dưới và tiến hành công đoạn rây

để có hỗn hợp bột mịn nhất

Bước 4: Pha bột: bột sau khi rây được pha với các loại gia vị để chuẩn

bị làm thành sản phẩm bánh tráng Đây là công đoạn quan trọng nhất của quy trình làm bánh nên phải do những người thợ lành nghề, giàu kinh nghiệm, khéo léo đảm nhiệm Mỗi gia đình lại có một bí quyết riêng về công thức pha bột nhằm tạo nên hương vị bánh đặc trưng của mình

Bước 5: Tráng bánh: cho bột đã rây vào nồi hấp để hấp chín Công

đoạn này cần sự khéo léo để đảm bảo độ dày, mỏng đều nhau và thời gian hấp để bánh đủ độ chín, độ dẻo Sau khi chín, bánh sẽ được xếp ra phên (hoặc giàng) để phơi

Bước 6: Phơi bánh: các phên bánh sẽ được phơi nắng trong khoảng

2 giờ cho bánh khô Công đoạn này đòi hỏi người phơi phải biết canh

độ nắng, độ gió và thời gian cụ thể để đảm bảo bánh khô mà không bị nứt, vỡ

Sau khi phơi khô, bánh sẽ được gỡ và xếp thành từng chồng, nếu bánh cong thì các chồng bánh được ép bằng bật nặng vừa phải Bánh tráng thành phẩm, đặc sản Lạc Lâm lúc này sẽ được đóng gói và vận chuyển đến khách hàng

Trang 34

34

Trước đây, tất cả các công đoạn đều được làm thủ công Ngày nay, trước yêu cầu nâng cao năng suất và giải phóng sức lao động, một số hộ gia đình đã sử dụng máy móc trong một số công đoạn như: xay bột bằng máy xay thay cho các cối đá quay bằng tay; hấp bánh bằng máy hấp thay cho các nồi hấp trên bếp lửa Bên cạnh đó, những người làm bánh tráng ở Lạc Lâm cũng chế biến ra nhiều loại bánh phù hợp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng như: bánh tráng mặn, bánh tráng ngọt, bánh cho người ăn kiêng, bánh nướng trong lò vi sóng,… Bởi vậy, bánh tráng Lạc Lâm ngày càng được thị trường ưa chuộng và lựa chọn

Từ nguyên liệu là bánh tráng Lạc Lâm, người Lâm Đồng đã sáng tạo

ra món bánh tráng nướng và trở thành món ăn đường phố nổi tiếng như: bánh tráng mắm ruốc, bánh tráng mỡ hành, bánh tráng trứng hành, bánh tráng phô mai, bánh tráng xúc xích,… Trong đó, bánh tráng nướng Đà Lạt

đã là thức quà mà gần như bất cứ ai lên Đà Lạt cũng đều muốn nếm thử Khi nướng trên lò than, bánh tráng sẽ lên màu vàng ươm, giòn rụm, hoà quyện với phần nhân và dậy lên hương vị thơm ngon, hấp dẫn, ấm lòng người trong đêm cao nguyên se lạnh

Trải qua thời gian, từ một số hộ làm bánh nhỏ lẻ, Lạc Lâm đã hình thành làng nghề Sản phẩm bánh tráng Lạc Lâm đã được cấp bằng bảo hộ Nhãn hiệu tập thể năm 2014 Năm 2020, bánh tráng Lạc Lâm là một trong bốn đại diện của huyện Đơn Dương tham gia chương trình “Mỗi xã một sản phẩm OCOP” Như vậy, từ kinh nghiệm truyền thống, từ sự cần cù, khéo léo, sáng tạo của người dân Lạc Lâm, bánh tráng Lạc Lâm đã trở thành một sản phẩm nổi tiếng, một đặc sản, một thương hiệu và chinh phục được người tiêu dùng trong nước cũng như quốc tế

Hình 3.6 Phơi bánh tráng ở Lạc Lâm

Trang 35

Hình 4.1 Trình diễn chiêng - múa xoang từ các nghệ nhân đến từ các câu lạc bộ ở xã Đồng Nai Thượng, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng

Trang 36

− Bộ gõ (đàn đá, đàn T’rưng, cồng chiêng, trống,…);

− Bộ hơi (khèn bầu, sáo, tiêu,…);

− Bộ dây (đing kliak, đàn bầu, đàn tính,…)

Hình 4.2 Nghệ nhân trình diễn nhạc cụ truyền thống dân tộc

Trang 37

37

Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, một số dân tộc thiểu số sử dụng các nhạc

cụ thuộc bộ gõ trong sinh hoạt cộng đồng như đàn đá (lúr goòng), cồng (kuong), chiêng (chiang, chinh, cing) và trống Trong đó, cồng chiêng và trống là hai loại nhạc cụ phổ biến

1 Cồng, chiêngĐối với một số dân tộc, cồng và chiêng được coi là tài sản quý giá,

từ lâu đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh vật chất và tinh thần của đồng bào mình

Người ta thường phân biệt 2 loại chiêng: chiêng có núm gọi là cồng (kuong), chiêng không có núm gọi là chiêng (ching) Bộ chiêng phổ biến của các dân tộc thiểu số Lâm Đồng gồm 6 chiếc có tên gọi là: me, the, thơ, thoòng, n’dơt, n’đờn Âm thanh của mỗi bộ cồng chiêng sẽ phụ thuộc vào kích thước của nó Thông thường, kích thước cồng, chiêng càng lớn thì âm thanh càng trầm và ngược lại, kích thước cồng, chiêng càng nhỏ thì âm thanh phát ra càng cao

Nghệ thuật trình diễn cồng, chiêng của Lâm Đồng mang nhiều nét chung của nghệ thuật cồng, chiêng Tây Nguyên Cồng, chiêng được

gõ bằng dùi hoặc đánh bằng tay Hiện theo ghi chép lại có đến 36 nhịp đánh cồng, chiêng khác nhau Chiêng thường được sử dụng trong các

lễ hội cộng đồng hay dịp vui của buôn làng Tuy nhiên, có một số nhóm dân tộc (thuộc nhóm ngữ hệ Môn − Khmer) không sử dụng cồng, chiêng trong đám tang

Hình 4.3 Cồng Hình 4.4 Chiêng

Ngày đăng: 19/03/2023, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w