A MỞ ĐẦU I Lý do chọn đề tài Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước t[.]
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức
và thực tiễn, phương pháp biện chứng luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính
ưu việt hơn cả Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước
ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới về mọi mặt Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn
ềề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì
vậy, em quyết định chọn đề tài “MỐI QUAN HỆ BIÊN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀ SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM ĐÓ VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” Làm tiểu luận cuối
môn Triết học
Trang 2Bài làm dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- lênin về cặp phạm trù lý luận và thực tiễn, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ trong công cuộc đổi mới đất nước
III.Phương pháp nghiên cứu
Thảo luận đánh giá và nhìn nhận thực tiễn nền kinh tế nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác - Ph.Ăngghe Kết hợp hương pháp nghiên cứu lý luận: tìm kiếm, phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại cặp phạm trù lý luận và thực tiễn Nghiên cứu chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước
IV.Kết cấu của bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung
đề tài gồm 2 chương :
Chương I: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Chương II: Vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa lý uận và thực tiễn vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Trang 3CHƯƠNG I: MỐI QUAN HỆ BIÊN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN.
1.1 LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm lý luận:
Theo chủ nghĩa DVBC, lý luận là hệ thống những tri thức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối quan hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các SVHT trong thế giới và được biểu đạt bằng
hệ thống, nguyên lý, quy luật, phạm trù Lý luận là kết quả của quá trình phát triển cao của nhận thức, là trình độ cao của nhận thức
1.1.2.Đặc trưng:
Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lô gic chặt chẽ Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Lý luận là những tri thức được khái quát từ những tri thức kinh nghiệm Không
có trí thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận
Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất SVHT
Lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nhờ đó nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của SVHT
1.1.1 các hình thái của lý luận
Lý luận có nghững cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, có thể phân chia lý luận thành lí luận ngành và lí luận triết học
Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật…
Trang 4Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới
và con người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người
1.2 THỰC TIỄN
1.2.1 Đặc trưng
Tính vật chất trong hoạt động thực tiễn
Tính chất lịch sử xã hội
1.2.2 Hình thức
Thực tiễn của con người được tiến hành dưới nhiều hình thức
Hoạt động sản xuất vật chất
Hoạt động cải tạo chính trị - xã hội
Hoạt động thực nghiệm khoa học
1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA BIÊN CHỨNG LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
* Giữa lý luận và thực tiễn có sự thống nhất biện chứng với nhau, bổ
sung, thâm nhập, chuyển hóa cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau Sự thống nhất đó bắt nguồn từ chỗ: chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người.
Trong MQH với LL, TT quyết định LL TT như thế nào thì LL phản ánh như thế đó TT luôn vận động, biến đổi không ngừng vì vậy LL cũng phải biến đổi theo Trình độ lý luận càng cao, nhận thức thực tiễn càng sâu sắc Thực tiễn càng đa dạng phong phú càng làm cho lý luận phát triển
HCM: "Thống nhất giữa LL và TT là 1 nguyên tắc căn bản của CN Mác-Lê Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là LL suông TT không có
LL hướng dẫn thì thành TT mù quáng"
Trang 5LL không phản ánh hiện thực một cách thụ động mà có vai trò như kim chỉ nam vạch phương pháp hành động có hiệu quả nhất để đạt mục đích của TT
* MQH BC giữa LL và TT thể hiện qua vai trò của thực tiễn đối với
lý luận:
- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận
Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật của chúng Trên cơ sở đó, con người có hiểu biết về chúng Nghĩa là thực tiễn cung cấp "vật liệu" cho nhận thức Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức -> việc đo đạt ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lệ
ở Hi Lạp - La Mã cổ đại là cơ sở cho định lý Talét, Pitago ra đời Lý luận Mác - Lênin là sự khái quát thực tiễn CM lịch sử XH, là sự đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực cụ thể để xây dựng nên
hệ thống lý luận KH hoàn chỉnh.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình thành Như vậy, qua hoạt động thực tiễn mà con người tự hoàn thiện và phát triển thế giới quan( tạo điều kiện cho nhận thức cao hơn).Ví dụ: dịch cúm H5N1 -> nghiên cứu chế tạo vắc xin
Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan cho con người Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các giác quan ngày càng hoàn thiện hơn.Chẳng hạn, thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, sáng tạo nghệ thuật những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác được rèn luyện -> tạo cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả, đúng đắn hơn
Trang 6Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức.
Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra các phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên như kính thiên văn, máy vi tính đều được sản xuất, chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ những công cụ máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác, đúng đắn hơn Trên cơ sở đó, thúc đẩy nhận thức phát triển
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận
Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh để tồn tại Nghĩa là, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn
Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức
mà là nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần xã hội.
Nhận thức chỉ trở về hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được sức mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa thành tích thì nhận thức sớm muộn sẽ mất phương hướng
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận
Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai Khi nhận thức đúng thì nó phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại
Thông qua thực tiễn, con người mới "vật chất hóa" được tri thức, "hiện thực hóa" được tư tưởng Thông qua quá trình đó, con người có thể khẳng
Trang 7định chân lý, bác bỏ sai lầm Phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng, nghĩa là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển Cho nên, khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp Nghĩa là những tri thức đã đạt được trước đây, hiện nay vẫn phải được kiểm nghiệm thông qua thực tiễn
Ví dụ: đường bay vàng
Ý nghĩa:
Thực tiễn lớn nhất ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế độ xã hội mới: công bằng, bình đẳng, tién bộ
Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế cụ thể muốn biết đúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sản xuất, kinh doanh cũng như quản lý các quá trình đó Đường lối chính sách cũng như các giải pháp kinh tế chỉ đúng khi chúng mang lại hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau những bước tiến và những thành tựu to lớn mang lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn
đề cần giải quyết Những hoạt động nghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề của giai đoạn cách mạng hiện nay Công cuộc đổi mới ở nước ta vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nhận thức nói chung và công tác lý luận nói riêng, nhất định sẽ đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới, phong phú hơn và cụ thể hơn về mô hình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trang 8Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan
và biến đổi chính thực tiễn
Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng
Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn
Dẫn chứng: HCM tiếp thu những nguyên lý phổ biến của CN Mác Lê
để chỉ đạo cho thực tiễn phong trào CMVN
a Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ thực tiễn Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến
b Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn
Ví dụ: lý luận Mác - Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô sản. Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách
Trang 9quan, từ đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn
Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ đó
có thể là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập
c Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau Sự thống nhất đó là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác- Lênin
d Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn
Xảy ra khi giai cấp thống trị trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu Khi mâu thuẫn nảy sinh, chúng sẽ làm giảm ảnh hưởng của nhau Điều đó dẫn đến mọi đường lối, chính sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động
e Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc
đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo Lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động Những người cộng sản các nước phải
cụ thể hoá chủ nghĩa Mác _ Lênin cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi (“Hồ Chí Minh: toàn tập”-1996)
*Ý nghĩa:
Trang 10Cần phải tăng cường, phát huy vai trò của lý luận đối với xã hội, đặc biệt là lý luận xã hội mà quan trọng là lý luận Mác - Lênin và các lý luận
về kinh tế
Trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, sau khi phê phán E Ma Khơ và một số ngươi khác đã ”cố gạt thực tiễn ra khỏi lý luận nhận thức, coi thực tiễn như một cái gì không đáng nghiên cứu về mặt nhận thức luận, đã ”đem cái tiêu chuẩn thực tiễn là cái giúp cho mỗi người phân biệt được ảo tưởng với hiện thực đặt ra ngoài giới hạn của khoa học, của
lý luận nhận thức để dọn chỗ cho chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri”
V.I.Lênin đã khẳng định: quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức (“V.I.Lênin toàn tập” – 1980)
Chính vì sự quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn nên đối với nước ta trong giai đoạn này cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và hoạt động Hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện các mặt của đời sống xã hội, mà trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm Đổi mới từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một vấn đề hết sức mới mẻ chưa có lời giải đáp sẵn
Và chúng ta cũng không bao giờ có thể có một lời giải sẵn sau đó mới đi vào tiến hành đổi mới Quá trình đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế nói riêng và việc nhận thức quá trình đổi mới đó không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển
Vậy trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế khách quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ sở cho hoạt động của mình Gắn lý luận vào thực tiễn để hoạt động trở nên khoa học, có cơ sở vững chắc Tinh thần ấy chính là vấn đề cần nghiên cứu trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI