1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á

96 573 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Lượng Tăng Trưởng Của Việt Nam Và Một Số Nước Đông Á
Trường học Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại bài nghiên cứu
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 864 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á

Trang 1

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM

VÀ MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á

Hà nội, tháng 10/2006

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

 Danh mục bảng và biểu đồ 3

 Danh mục các từ viết tắt 5

 Lời nói đầu 7

Chương I CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM I Chất lượng tăng trưởng xét trên khía cạnh kinh tế 9

II Chất lượng tăng trưởng xét trên khía cạnh môi trường 28

III Hiệu lực quản lý của Nhà nước 41

IV Tăng trưởng gắn với phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo 59 Chương II KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á - BÀI HỌC CHO VIỆT NAM I Chất lượng tăng trưởng của Trung Quốc 80

II Chất lượng tăng trưởng của Thái Lan 109

III Chất lượng tăng trưởng của Hàn Quốc 117

IV Chất lượng tăng trưởng của Malaixia 126

V Bài học cho Việt Nam 138

Kết luận 152

Tài liệu tham khảo 154

Trang 3

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Trang

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2005

12

Bảng 2: Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999 13

Bảng 3: Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2005 19

Bảng 4: Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào đối với tăng trưởng GDP 20

Bảng 5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam 27

Bảng 6: Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam 28

Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam 29

Bảng 8: Tỷ lệ hộ nông thôn không có đất 31

Bảng 9: Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 -2004) 33

Bảng 10: Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ 37

Bảng 11: Tỷ lệ M2/GDP (%) của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2005

Bảng 12: Điểm số CPI của Việt Nam qua các năm 52

Bảng 13: Bảng giá trị HDI của Việt Nam và các chỉ số cấu thành 61

Bảng 14: Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam và các nước .64

Bảng 15: Loại công việc theo giới (%) 73

Bảng 16: Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm tính theo thu nhập bình quân đầu người 76

Bảng 17: Vai trò của TFP trong tăng trưởng của Thái Lan (%) 112

Trang 4

Bảng 18: Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kỳ (%) 118

Bảng 19: Vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế của Malaixia (%) 130

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 – 2005 10

Biểu đồ 2: Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam 12

Biểu đồ 3: Tỷ trọng tiêu dùng, tích luỹ tài sản trong nước, tiết kiệm nội địa trong GDP trong giai đoạn 1986 – 2004 16

Biểu đồ 4: Bội chi NSNN 1994 – 2004 46

Biểu đồ 5: Biến động lạm phát của Trung Quốc (1990 – 2003) 85

Biểu đồ 6: Biến động lượng tiền mở rộng M2 (1990 – 2003) 92

Biểu đồ 7: Tốc độ tăng trưởng GDP của Malaixia giai đoạn 1997-2006 (%) 127

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CHXHCNVN Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

COD Mức độ ô nhiễm cho phép về oxy hóa học

CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index)

CPI Chỉ số nhận biết tham nhũng (Corruption Perception Index)

FDI Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GINI Chỉ số về bất bình đẳng thu nhập

HDI Chỉ số phát triển con người

ICOR Tỷ số gia tăng vốn trên sản lượng cận biên

Trang 6

KHHĐ Kế hoạch hành động

NHI Hệ thống bảo hiểm quốc gia Hàn Quốc

ODA Nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức

R&D Nghiên cứu và triển khai

SEPA Công ty bảo vệ môi trường Xcôt-len

TI Chỉ số công nghệ (Technology Index)

TI Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparerency International)UNDP Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

WEF Diễn đàn kinh tế thế giới

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

Trong giai đoạn phát triển vừa qua, Việt Nam đã đạt được kết quả tương đối cao về tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình từ năm 1990 đến nay là 7%, đặc biệt liên tục tăng cao trong mấy năm gần đây, đạt 7,6% năm 2004; 8,4% năm 2005, đưa Việt Nam đứng vị trí thứ 39 trên thế giới về chỉ số xếp hạng GDP, đứng thứ 2 trong khu vực Đông Á về tốc độ tăng trưởng Nhờ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam được cải thiện đáng kể, tăng từ 140 USD năm 1990 lên 640 USD năm 2005, mức sống của người dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58,1% năm 1993 xuống còn 24,2% năm 2004

Theo đánh giá của một số học giả, chất lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, Khóa IX đã nhận định “tăng trưởng kinh tế khá … nhưng chưa tương xứng với mức đầu tư, với tiềm năng của nền kinh tế” 1 Vì vậy, nâng cao chất lượng tăng trưởng trở thành mục tiêu quan trọng của chính sách phát triển kinh tế trong giai đoạn mới

Trên cơ sở những nhận định trên, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – xã hội

Quốc gia đã tiến hành nghiên cứu, tổng hợp và biên soạn đặc san chuyên đề “Chất lượng

tăng trưởng của Việt Nam và một số nước Đông Á” Nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu,

phân tích chất lượng tăng trưởng của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời nghiên cứu chất lượng tăng trưởng của một số nước Đông Á, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng đảm bảo chất lượng trong giai đoạn tới Kết cấu của chuyên đề gồm hai chương:

Chương I: Chất lượng tăng trưởng của Việt Nam

Chương II: Kinh nghiệm chất lượng tăng trưởng của một số nước Đông Á – Bài

học cho Việt Nam

Hy vọng nghiên cứu này sẽ cung cấp cho người đọc những thông tin bổ ích khi tìm hiểu về vấn đề chất lượng tăng trưởng.

Trang 8

Xin trân trọng giới thiệu.

TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ - XÃ HỘI QUỐC GIA

Trang 9

Chương I CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM

I CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH KINH TẾ

1 Kết quả sản xuất và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

Trong hai thập niên qua (1986 - 2006), kể từ khi áp dụng những chính sách cải cách kinh tế toàn diệnvới nội dung cốt lõi là sự kết hợp của tự do hóa, ổn định hóa, thay đổi thế chế, cải cách cơ cấu và mở cửa ranền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận

1.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Năm 1986 đánh dấu quá trình đổi mới kinh tế, từ chỗ hầu như không có tăng trưởng trong giai đoạn

1976 – 1985, bước sang giai đoạn 1986 – 1990, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc

độ chưa cao Từ năm 1990 đến nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam tăng cao, trung bình hàng nămđạt 7% Tính chung từ 1986 - 2005, tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm là 6,98%, tăng gấp 3,6 lần so vớiđầu giai đoạn Chỉ số xếp hạng GDP của Việt Nam cũng được cải thiện rõ rệt, từ vị trí thứ 124 thế giới năm

2002 tăng lên thứ 39 vào năm 2005

Năm 1999, do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, tốc độ tăng trưởngGDP của Việt Nam đã giảm xuống còn 4, 8% Tăng trưởng giảm sút thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tếchủ chốt như công nghiệp, dịch vụ và xuất nhập khẩu Tuy nhiên, đến năm 2000, nền kinh tế đã có sự hồiphục nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đạt ở mức 6,8% và liên tiếp tăng trong các năm tiếp theođạt 7,0% (năm 2002); 7,3% (năm 2003); 7,6% (năm 2004); 8,4% (năm 2005)

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 - 2005

Trang 10

Trong những năm gần đây, so với các nước trong khu vực ASEAN, tăng trưởng GDP của Việt Nam vàoloại cao nhất trong khu vực, còn so với các nước Đông Á, tăng trưởng GDP của Việt Nam đứng thứ 2 sauTrung Quốc Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế của ta còn nhỏ bé, nên dù tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưngthực lực nền kinh tế của ta còn yếu và hạn chế.

1.2 GDP bình quân đầu người

Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo thu nhập bình quân đầu người cũng được cải thiện đáng kể, tăng từ 140USD năm 1990 lên 483 USD năm 2003, đạt 545 USD năm 2004 và 640 USD năm 2005 (tăng gấp 2,65 lần sovới năm 1986) Tính bình quân trong giai đoạn 1986 – 2005, tốc độ GDP đầu người tăng trung bình là 5,28%.Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp, vẫn còn chênh lệch khá lớn so các nướctrong khu vực Năm 2005, GDP bình quân đầu người của Việt Nam là 638 USD trong khi Thái Lan đã đạt 2

740 USD; Trung Quốc đạt 1.740 USD và Malaixia là 9.700 USD Theo dữ liệu triển vọng kinh tế thế giới

2006 của IMF, nếu tính theo sức mua tương đương PPP năm 2005 thì thu nhập bình quân đầu người của ViệtNam tăng lên là 3.025 USD, trong khi Trung Quốc là 7.204 USD, cao gấp 2,38 lần; Thái Lan là 8.319 USD,cao gấp 2,75 lần; Hàn Quốc là 20.590 USD, gấp 6,8 lần và Nhật Bản là 30.615 USD, cao gấp 10,1 lần ViệtNam Như vậy, kể cả Thái Lan là nước có cùng trình độ phát triển với Việt Nam vào thập kỷ 70 của thế kỷ

XX thì chỉ sau 2 thập kỷ thu nhập bình quân đầu người của nước này đã cao gấp 2 lần Việt Nam

1.3 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành

1.3.1 Cơ cấu ngành kinh tế nhìn ở phía tổng cung

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh đạt được trong thời gian qua là kết quả của những thay đổi quan trọngtrong cơ cấu nền kinh tế Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp

và dịch vụ, giảm dần của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp Từ một nước có nền công nghiệp kém pháttriển, đến nay Việt Nam đang từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại Tỷ trọngcông nghiệp liên tục tăng, từ 22,67% (năm 1990) lên 41,04% (năm 2005); tỷ trọng đóng góp của ngànhnông – lâm - ngư nghiệp giảm, từ 38,74% (năm 1990) xuống 20,89% (năm 2005); tỷ trọng ngành dịch vụtăng lên cao trong giai đoạn 1993 –1995, từ 38,59% (năm 1990) lên 44,06% (năm 1995), nhưng sau đó lạigiảm dần và chỉ chiếm 38,07% (năm 2005)

Tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế cũng liên tục tăng trong các năm Cụ thể, tăng nhẹ trongngành nông – lâm - thủy sản, mặc dù trong năm 2001 có sự sụt giảm đáng kể so với năm 2000 nhưng trongnhững năm tiếp theo đã có sự tăng trở lại; tăng cao nhất trong ngành công nghiệp và xây dựng, luôn giữ tốc

độ tăng trưởng trên 10%/năm cao hơn tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế, riêng trong ngành dịch vụ có sựgia tăng đều đặn hàng năm tuy tốc độ không cao, duy trì ở mức 6-7%/năm, đặc biệt trong năm 2005, đạt8,48%

Biểu đồ 2: Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam

Trang 11

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế

giai đoạn 2000 – 2005

Đơn vị: %

Công nghiệp – xây dựng 10,07 10,39 9,48 10,35 10,25 10,65

Nếu xét theo giá trị tăng thêm, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực nông nghiệp nước ta theo giá thực tế đãgiảm từ 38% năm 1986 xuống còn khoảng 20% năm 2005 Tỷ lệ giá trị gia tăng khu vực công nghiệp đãtăng lên từ 28,8% năm 1986 lên trên 40% năm 2005 Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ cũng tăng lên từ 33%năm 1986 lên 38,5% năm 2005 Tỷ lệ cơ cấu ngành của Việt Nam năm 2005 gần giống tỷ lệ cơ cấu ngànhcủa Malaixia những năm 80 và của Thái Lan những năm 70

Tuy nhiên, khi so sánh với một số nước ở Đông Á thấy rằng, tỷ trọng các ngành trong cơ cấu kinh tế củaViệt Nam vẫn chưa thể đạt đến mức là một nước có nền kinh tế phát triển Ví dụ như Nhật Bản tỷ trọng nôngnghiệp chỉ chiếm 2% GDP, ngành dịch vụ chiếm tới 61%; Hàn Quốc tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 6%GDP, dịch vụ chiếm tới 51% Ngành công nghiệp chế tác, một phân ngành quan trọng trong thời kỳ côngnghiệp hóa đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các nước Đông Á Tỷ trọng của ngành này luônchiếm đến 2/3 phần trăm trong tỷ lệ đóng góp của ngành công nghiệp trong GDP Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ

lệ này vẫn còn thấp, chiếm chưa đến 50%

Bảng 2: Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999

Trang 12

Đơn vị: %

Việt Nam 25,5 34,5 (CN chế tác chiếm 17,7%) 40

Nhìn chung về cơ cấu ngành, trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được mức tăng

trưởng cao nhưng bản thân quá trình tăng trưởng vẫn thể hiện chất lượng tăng trưởng còn thấp Tốc độ tăng

trưởng của giá trị tăng thêm thấp hơn tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất, do chi phí trung gian (chi phínguyên vật liệu tăng, chi phí quản lý, chi phí sản xuất) tăng với tốc độ cao cả ba khu vực Cụ thể, trong nôngnghiệp, tính chung trong thời kỳ 1991 - 2003, tăng trưởng giá trị sản xuất là 6,2%/năm, nhưng tăng trưởng giátrị tăng thêm chỉ đạt 4,1%, chỉ bằng 2/3 tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất Trong khu vực công nghiệp -xây dựng tốc độ của giá trị tăng thêm liên tục thấp hơn giá trị sản xuất trong một thời gian khá dài, tính chungtrong thời kỳ 1991 - 2003, khi tốc độ tăng của giá trị sản xuất lên đến 13,9%/năm, thì giá trị tăng thêm chỉ đạt11,7%/năm

Chất lượng tăng trưởng thấp còn thể hiện ngay trong cơ cấu của từng ngành Tốc độ chuyển dịch cơ cấunông – lâm – ngư nghiệp còn rất chậm chạp, tuy tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp có giảm nhưng vẫnchiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi, ngành thủy sản vẫn còn thấp Tỷ trọng chăn nuôi trongthời gian tới có nguy cơ giảm xuống do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm sẽ khiến cho đầu tư vào ngànhchăn nuôi gia cầm bị hạn chế Những cạnh tranh, tranh chấp đối với thủy sản Việt Nam gần đây, những đedọa của thiên tai bất thường, những khó khăn về giới hạn năng lực sản xuất và diện tích canh tác đối vớingành thủy sản cũng khiến cho ngành này đang phải đứng trước nguy cơ tỷ trọng sẽ giảm trong thời giantới Ngành lâm nghiệp sử dụng nhiều đất nhất trong tất cả các ngành kinh tế nhưng chỉ đóng góp 1,2% vàoGDP (số liệu năm 1999)

Tăng nhanh tỷ trọng giá trị dịch vụ là xu thế chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nướcphát triển, phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ công nghệ và phát triển nền kinh tế tri thức.Trong khi đó ở Việt Nam, tỷ trọng giá trị dịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế tăng với tốc độ chậm, thậm chícòn có xu hướng giảm trong một số năm gần đây Điểm yếu của khu vực dịch vụ nước ta chính là cơ cấu

Trang 13

ngành dịch vụ và tỷ trọng các phân ngành còn có sự chênh lệch lớn Các ngành dịch vụ cơ bản (khách sạn,nhà hàng, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc…) có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các phân ngành dịch

vụ khác lại gần như không có sự tăng trưởng Trong 10 năm (1995 - 2005), tỷ trọng của các ngành dịch vụ

cơ bản chỉ chiếm dao động khoảng 46%, phân ngành khách sạn, nhà hàng trong nhiều năm vẫn giữ ở mức7,9%, trong khi đó phân ngành thương nghiệp và sửa chữa vật phẩm tiêu dùng tăng nhanh và chiếm tỷtrọng cao, 40,1% Ngành vận tải và thông tin liên lạc là hai ngành tác động trực tiếp và không thể thiếu đốivới các ngành sản xuất cũng chỉ chiếm một tỷ lệ khiêm tốn là 9,2% năm 1995 và tăng lên 9,6% trong năm

2004 Các dịch vụ cao cấp như ngân hàng, tài chính, chuyển giao công nghệ đang trong giai đoạn hìnhthành nên năng lực cạnh tranh vẫn còn thấp kém Tỷ trọng ngành dịch vụ khoa học công nghệ mới chỉchiếm 1,4 - 1,5%, ngành bảo hiểm cũng chỉ chiếm 2% GDP (năm 2005), dự báo năm 2006 cũng chỉ tănglên 2,5%

1.3.2 Cơ cấu kinh tế nhìn từ góc độ tổng cầu

Nếu nhìn nhận từ phía tổng cầu, ta thấy mức tăng trưởng cao mà nền kinh tế đạt được trong thời gianqua là do tỷ lệ tiêu dùng đã giảm, tiết kiệm nội địa tăng dẫn đến đầu tư trong nước tăng lên

Việt Nam tuân theo quy luật phát triển chung của các nền kinh tế Theo đó, tỷ lệ tiêu dùng trong GDPgiảm dần và thường giảm nhanh trong giai đoạn đầu của sự phát triển, tiết kiệm dành cho tích lũy đầu tư sẽtăng lên Tỷ lệ tiêu dùng của nước ta từ trên 98% năm 1986 giảm xuống còn 70,1% GDP vào năm 2005; tỷ

lệ tiết kiệm nội địa đã tăng lên từ 1,17% (1986) lên 29,9% (2005); tỷ lệ đầu tư tích lũy tài sản trong GDPtăng từ 11,96% (1986) lên trên 38% (2005) Tuy nhiên, tốc độ giảm tỷ lệ tiêu dùng của Việt Nam cònchậm, trung bình dịch chuyển là 1,5% hàng năm, trong khi của Thái Lan là 4,2%; Malaixia là 6,5% Tỷ lệtiêu dùng của Việt Nam vẫn còn cao, chiếm 70,1% (năm 2005), tương đương với tỷ lệ của Thái Lan năm

1987 so với Malaixia thì năm đạt tỷ lệ đó còn lùi lại khá xa

Biểu đồ 3: Tỷ trọng tiêu dùng, tích luỹ tài sản trong nước, tiết kiệm nội địa trong GDP trong giai

Trang 14

Quản lý Kinh tế số 7 ( tháng 4-2006)

Một đặc trưng trong cơ cấu tổng cầu của Việt Nam đó là tỷ lệ nguồn vốn nước ngoài hay nguồn tiếtkiệm nước ngoài - xác định bằng luồng tiền vào qua cân đối ngoại thương - chiếm một tỷ lệ cao, đặc biệt

trong các năm đầu của thời kỳ Đổi mới Năm 1986, tỷ lệ vốn nước ngoài bằng 9,85% GDP và chiếm trên

84% tổng vốn đầu tư; năm 1988, tỷ lệ này là 11,06% GDP và chiếm 77% tổng vốn đầu tư, chủ yếu từnguồn viện trợ, vay vốn từ nước ngoài; năm 2005 tỷ lệ tiết kiệm nước ngoài chỉ đạt tỷ lệ khoảng 8,72%GDP, chiếm xấp xỉ 23% Thực chất, tổng vốn nước ngoài không ngừng tăng lên trong các năm, song nhờkinh tế dần phục hồi và tăng trưởng cao trong mấy năm gần đây đã giúp cho nội lực kinh tế của Việt Nam

mạnh dần lên, tỷ lệ tiết kiệm trong nước vượt tổng số nguồn vốn nước ngoài Điều này cho thấy, chất

lượng tăng trưởng của Việt Nam ngày càng được đảm bảo ổn định, bền vững hơn, ít chịu tác động từ các yếu tố biến động bên ngoài hơn

Trong cấu thành của cầu, mức đóng góp của xuất khẩu cho tốc độ tăng trưởng GDP đang ngày cao vàcàng gia tăng, trung bình là 19%/năm Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 26,503 tỷ USD,trở thành nước đứng thứ 50 trong danh sách 50 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thếgiới

Tuy tốc độ tăng của xuất khẩu có xu hướng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của nhập khẩu (năm 2005,tăng xuất khẩu là 21,6%, nhập khẩu là 15,7%), song kim ngạch nhập khẩu luôn lớn hơn xuất khẩu, cán cânthương mại của Việt Nam vẫn đang ở tình trạng thâm hụt Cụ thể, năm 2005, trong khi xuất khẩu của ViệtNam đạt kim ngạch 32,44 tỷ USD thì nhập khẩu cũng tăng lên tới 36,97% Xu hướng này không hoàn toàn

có ý nghĩa tiêu cực, đây cũng là xu thế tất yếu của các nước đang trong giai đoạn đầu tiến hành công nghiệphóa, hiện đại hóa cần nhập nhiều thiết bị, công nghệ máy móc nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật cho sảnxuất trong nước Song bên cạnh đó cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại gây hạn chếkhả năng đóng góp của xuất, nhập khẩu vào tăng trưởng

- Thứ nhất, mặc dù xuất khẩu đã tăng trưởng rất nhanh trong thời kỳ sau đổi mới, nhưng cơ cấu xuất

khẩu lại hầu như không có nhiều thay đổi, chỉ thiên về xuất khẩu nông sản chưa chế biến (lúa gạo, cà phê,thủy sản,…) và khoáng sản (chủ yếu là dầu thô), những mặt hàng có hàm lượng công nghệ, chất lượng caoxuất khẩu còn ít Tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao xuất khẩu trên tổng giá trị chế biến hàng xuất khẩu củaViệt Nam chỉ khoảng 8,2%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, so với Malaixia là 67%; TrungQuốc 39%; Thái Lan 49%; Philippin; 33% và Inđônêxia 18% (năm 1999)

- Thứ hai, nước ta hiện nay vẫn chưa xây dựng được mạng lưới các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ

trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu Ngành sản xuất xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nhậpkhẩu nguyên liệu để gia công như ngành da giày, may mặc,…

- Thứ ba, tỷ trọng hàng nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng và nguyên, vật liệu trong cơ cấu hàng nhập

Trang 15

khẩu tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ trọng nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ cònkhiêm tốn

Như vậy, tuy đã có những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, nhưng nhìn một cách tổng thế, cơcấu kinh tế Việt Nam vẫn còn lạc hậu Hiện tại cơ cấu kinh tế của Việt Nam giống như cơ cấu kinh tế củamột số quốc gia ASEAN đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX

1.4 Lạm phát

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều mật thiết với nhau Một nền kinh tế tăng trưởngcao thông thường sẽ kéo theo lạm phát cũng tăng Một nền kinh tế nếu lạm phát thấp, không có lạm phát hoặcthiểu phát (lạm phát âm) thì nền kinh tế đó cũng rất trì trệ và tăng trưởng thấp Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,đồng nghĩa đất nước đó phải đối mặt với vấn đề lạm phát gia tăng, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ.Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hầu hết các loại lạm phát như lạm phát phi mã trong thời kỳ 1986 -

1988 với tỷ lệ lạm phát trung bình năm đạt 463,9%/năm; lạm phát cao trong thời kỳ 1989 - 1992, với tỷ lệlạm phát bình quân năm tương ứng là 46,7%/năm; lạm phát thấp trong thời kỳ 1996 - 1999 và 2001 - 2003với tỷ lệ lạm phát tương ứng là 4,4%/năm và 4,3%/năm; thậm chí là giảm phát trong năm 2000 (-0,6%).Tuy nhiên, trong hai năm 2004 - 2005 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao 7,79% (năm 2004) và8,5% (năm 2005) thì lạm phát của Việt Nam cũng tăng lên ở mức 9,5% (năm 2004) và 8,4% (năm 2005),cao hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế

Bảng 3: Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam

tỷ trọng lớn trong cơ cấu nhập khẩu của nước ta (chiếm 68% năm 2004), do đó sự biến động giá cả các mặthàng này trên thế giới đã tác động trực tiếp đến giá cả các mặt hàng này ở trong nước, gây tăng lạm phát Các chính sách kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng trong việc điều tiết để ổn định và kiểm soát được lạmphát Việc dùng chính sách bơm tiền để kích cầu nền kinh tế trong năm 2000, khi nền kinh tế đang giảmphát, lạm phát âm đã giúp tình trạng trì trệ được cải thiện, tỷ lệ lạm phát nhích lên gần 1% năm 2001 là một

Trang 16

minh chứng cụ thể Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần phải phát huy và nâng cao hiệu quả của cácchính sách vĩ mô, phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách tỷ giá nhằm điều tiết nềnkinh tế ổn định, đảm bảo tăng trưởng có chất lượng và bền vững

2 Đánh giá kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu

Hơn mười năm qua, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam liên tục tăng, nămsau cao hơn năm trước, với mức tăng bình quân hàng năm 7,5% Từ một nước có nền công nghiệp kémphát triển, Việt Nam ngày nay từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại Tuy vậy, vấn

đề nổi lên hiện nay đó là vấn đề chất lượng tăng trưởng liên quan đến tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân

tố tổng hợp (TFP) còn thấp Sự tăng trưởng đạt được chủ yếu do tăng vốn đầu tư và số lượng lao động chứkhông phải là do nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư, trình độ công nghệ và chất lượng lao động Điềunày đe doạ tính bền vững trong hiện thời và tương lai, tạo ra mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng (số lượng)

và chất lượng, hiệu quả tăng trưởng

Bảng 4: Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào

đối với tăng trưởng GDP (%)

Tổng hợp nguồn: Kinh tế Việt Nam 2003 - 2004 và Thời báo Kinh tế Việt Nam.

Hiện nay, ở nước ta, tăng trưởng kinh tế do yếu tố vốn và lao động còn chiếm chủ yếu, vai trò của TFP

có tăng, nhưng còn rất thấp nếu so với ngay các nước đang phát triển ở châu Á

Từ 1993 đến nay, đóng góp của TFP vào GDP có tăng lên nhưng tăng còn dè dặt và chiếm tỷ trọngkhông lớn (14,8% lên 28,2%); tỷ trọng đóng góp của lao động tăng lên trong giai đoạn 1998 – 2002nhưng lại có xu hướng giảm dần giai đoạn sau đó; đóng góp từ vốn có giảm xuống (từ 69,3% xuống còn52,7%), tuy nhiên yếu tố vốn vẫn chiếm chủ yếu trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế So sánh với cácnước trong khu vực, tỷ trọng TFP trong tăng trưởng của nước ta thấp hơn rất nhiều (thời kỳ 1980 – 2000

ở Hàn Quốc là 39,96%, Ấn Độ là 40,78%) Các chỉ số này phản ánh tính chất của tăng trưởng nước ta

còn nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu Xu hướng phát triển chủ yếu dựa vào yếu tố vốn đầu tư,

trong khi đó, vốn tự có thấp, chủ yếu phải đi vay từ nước ngoài, vay trong dân cư,… sẽ khiến cho tăngtrưởng thiếu tính bền vững, ổn định, dễ bị tác động từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt từ sự biến động củathị trường vốn Yếu tố lao động được coi là nguồn lực nội sinh, hiện đang có lợi thế so sánh (như giá rẻ,dồi dào…) thì chỉ đóng vai trò thấp hơn nhiều so với yếu tố vốn trong tăng trưởng

Trang 17

Nguyên nhân của tình trạng này ở nước ta có thể được xem xét dựa trên các yếu tố cơ bản trong năngsuất nhân tố tổng hợp đó là hiệu quả đầu tư, chất lượng lao động được thể hiện qua năng suất lao động vàtiến bộ khoa học công nghệ.

* Hiệu quả đầu tư: Lượng vốn đầu tư liên tục tăng trong những năm qua, năm 2000 vốn đầu tư thực

hiện theo giá thực tế là 151,2 nghìn tỷ đồng (bằng 34,2% GDP); năm 2005 tăng lên 324 nghìn tỷ đồng(bằng 38,7% GDP) Tốc độ tăng về vốn đầu tư thực hiện cao hơn tốc độ tăng GDP, tăng 22,3% (giaiđoạn1991 – 1995); 12,2% (1996 – 2000) và 13% (2001 – 2005) Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư lại thấp vàngày càng giảm, thể hiện qua chỉ số ICOR còn khá cao và liên tục tăng, cụ thể từ 2,7 (năm 1991) tăng dầnlên 3,6 (năm 1997); tăng cao đột ngột năm 1998 và 1999 tương ứng là 5,3 và 6,1; sau giai đoạn này, chỉ sốICOR có giảm nhưng vẫn ở mức cao so với trước giai đoạn khủng hoảng, 4,9 (năm 2003) và lên cao nhấtvào năm 2005 (6,93) Có thể nói trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhờ đổi mới cơ chế, nềnkinh tế đã huy động được tài sản cố định và khai thác hiệu quả các công suất đã đầu tư trước đây, do vậykết quả đầu tư tương đối có hiệu quả, hệ số ICOR thấp Sau cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, cùng vớichính sách kích cầu, đầu tư vào kết cấu hạ tầng ở nông thôn tăng nhanh, hệ số ICOR đã tăng nhanh Cónhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng đầu tư kém hiệu quả, hệ số ICOR cao, đó là:

- Thứ nhất, hệ số ICOR tăng một phần là vì nước ta đang trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa, cần phải đầu tư nhiều vào các công trình xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, lànhững dự án đòi hỏi số vốn đầu tư cao nhưng lại chậm thu hồi vốn, nhất là các công trình lớn và nhiều nămnữa mới đi vào hoạt động

- Thứ hai, sự bất hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư, cụ thể chúng ta quá chú trọng vào những ngành công

nghiệp được xếp vào nhóm có sức cạnh tranh thấp, thu hồi vốn chậm (mía, đường, sắt, thép, phân bón,giấy…); đầu tư vào các dự án cần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động; đầu tư dàn trải

- Thứ ba, hiệu quả vốn đầu tư của khu vực Nhà nước còn rất thấp Mặc dù vốn đầu tư của khu vực Nhà

nước chiếm hơn 56%, nhưng hiệu quả đầu tư ở khu vực này rất thấp Theo đánh giá của Ngân hàng Thếgiới, hệ số ICOR trong khu vực Nhà nước là 7,2 trong khi đó ở khu vực tư nhân là 3,8

- Thứ tư, công tác giám sát đầu tư còn hạn chế Hầu hết các khâu từ quy hoạch, thiết kế, dự toán, đấu

thầu, thi công đến giám sát thi công đều chưa tốt dẫn đến không bảo đảm chất lượng công trình Đồng thời,làm gia tăng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước vànguồn vốn ODA Vấn đề tham nhũng cũng là một trong những vấn đề gay gắt hiện nay làm giảm hiệu quảđầu tư của nền kinh tế

Hệ số ICOR tăng nhanh là một vấn đề đáng báo động đối với tình hình chất lượng đầu tư ở nước ta Cácnhà kinh tế cho rằng, hệ số ICOR của nước ta hiện nay đã vượt qua ngưỡng an toàn Trong khi chỉ số ICORcủa các nước trong khu vực Đông Nam Á như Xingapo, Malaixia, Thái Lan… chỉ dao động trong khoảng

Trang 18

2,5 đến 3,5 Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, nếu so sánh với các nước ở giai đoạn tương đồng thìchỉ số ICOR của Việt Nam so với Trung Quốc cao hơn khoảng 1,5 lần, với Thái Lan là 1,35 lần

* Năng suất lao động xã hội: Một trong những nguyên nhân giải thích tại sao tỷ trọng cũng như tốc độ

tăng TFP của nước ta lại thấp như vậy xuất phát từ vấn đề năng suất lao động xã hội Năng suất lao động củanước ta hiện đang kém từ 2 đến 15 lần so với các nước trong khu vực ASEAN Năm 2004, năng suất lao độngcủa Việt Nam mới đạt 1.260 USD; trong cả thời kỳ 2002 - 2005 đạt 1.243,4 USD, thấp xa so với nhiều nướctrong khu vực (Trung Quốc: 2.152,3 USD, Thái Lan 4.514,1 USD, Malaixia 11.276,2 USD, Hàn Quốc29.057,6 USD, Brunây 34.697,5 USD, Xingapo 48.563,9 USD, Nhật Bản 73.014,4 USD…) Hơn nữa, năngsuất lao động của nước ta tăng rất chậm, chỉ khoảng 4 - 5%/năm Như vậy, rõ ràng đóng góp năng suất của laođộng trong thời gian vừa qua, chẳng những không tăng lên nhiều, so với các nước khu vực chúng ta lại càng

bị cách xa thêm nữa Vậy năng suất lao động xã hội của nước ta ở mức thấp như vậy bắt nguồn do các nguyênnhân nào?

- Thứ nhất, nguyên nhân xuất phát từ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn tập

trung chủ yếu vào nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản (56,8%), còn nhóm ngành dịch vụ chiếm tỷ trọngthấp (25,3%) và nhóm ngành công nghiệp - xây dựng còn chiếm tỷ trọng thấp hơn nữa (17,9%), các tỷ lệ nàygần như ngược với các tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực Trong khi đó, năng suất lao động củanhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản chỉ đạt rất thấp (450 USD, riêng ngành nông, lâm nghiệp đạt chưađược 400 USD), thấp xa so với năng suất lao động của nhóm ngành dịch vụ (1.860 USD) và còn thấp hơn nữa

so với năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng (2.853 USD) Tính theo tỷ lệ năm suất laođộng trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm bằng 12,3% năng suất lao động của ngành công nghiệp

và bằng 18% năng suất lao động ở khu vực dịch vụ

- Thứ hai, chất lượng lao động của nước ta còn rất yếu kém, xếp vào loại thấp (3,79 điểm/thang 10

điểm) Tỷ lệ lao động trẻ cao so với nhiều nước trong khu vực là một lợi thế của lao động Việt Nam Bêncạnh những ưu thế về thể chất, lao động trẻ thường là đội ngũ có học thức, năng động, sáng tạo, ham hiểubiết, tiếp thu nhanh kỹ thuật và công nghệ mới Mặt khác, trình độ học vấn của lao động Việt Nam tươngđối cao Tỷ lệ người biết chữ trong trong số lực lượng lao động xã hội là 94,3% (năm 2002), tỷ lệ ngườikhông biết chữ chỉ có 3,75% Hạn chế cơ bản của nguồn nhân lực Việt Nam là số người được đào tạo nghề

và kỹ năng chuyên môn quá ít, năm 2002 mới chiếm có 19,62% Sự khác nhau về trình độ văn hóa, về đầotạo nghề và kỹ năng chuyên môn cũng biểu hiện khá rõ giữa lao động ở khu vực nông thôn và khu vựcthành thị, cũng như giữa lao động nữ và lao động nam Một hạn chế nữa của lao động Việt Nam là ý thức tổchức kỷ luật, tác phong công nghiệp rất yếu thể hiện ở lối sống vô tổ chức, vô kỷ luật, làm việc tùy tiện,thiếu sự hợp tác giữa các thành viên với nhau v.v của nền kinh tế tiểu nông, tồn tại hàng ngàn đời nay đãảnh hưởng không nhỏ đến đội ngũ lao động Việt Nam hiện tại

- Thứ ba, năng suất lao động xã hội thấp còn là do trình độ công nghệ của nước ta còn thấp, hiệu quả quản lý

Trang 19

kém, dẫn đến lãng phí các nguồn lực lao động, không phát huy được tiềm năng.

Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranh của lao động theo thangđiểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái

độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động Các nhà kinh tế thế giớicũng cảnh báo rằng các nền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sứccạnh tranh trên thị trường toàn cầu Như đã phân tích ở trên, các nguyên nhân liên quan đến cơ cấu laođộng và chất lượng lao động đã dẫn đến năng suất lao động xã hội thấp, sử dụng vốn con người không hiệuquả, dẫn đến tỷ trọng thấp của TFP trong tăng trưởng kinh tế

* Tiến bộ khoa học công nghệ: Yếu tố cơ bản trong TFP là tiến bộ khoa học công nghệ Tiến bộ khoa

học công nghệ có tác động tăng năng suất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy đóng gópcủa yếu tố TFP trong tăng trưởng

Đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất ở nước ta trong nhữngnăm qua mặc dù đã có những tiến triển khả quan, tác động đến tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực, góp phầntạo ra nhiều sản phẩm mới, có giá trị kinh tế cao, song vẫn chưa tạo nên bước đột phá trong tỷ lệ đóng gópcủa tiến bộ khoa học công nghệ vào tăng trưởng Theo tiêu chí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai (R&D)bình quân trên cán bộ nghiên cứu, Việt Nam thấp hơn Thái Lan 4 lần, Trung Quốc 7 lần, 8 lần so vớiMalaixia và 26 lần so với Xingapo Đáng lưu ý là đầu tư R&D của khu vực ngoài Nhà nước đang còn quáthấp, mới đạt khoảng 19% trong khi mức độ này ở Trung Quốc là 45%, Malaixia 60% và Nhật Bản đạt trên72% Cuộc điều tra trên 7.850 doanh nghiệp công nghiệp của Tổng cục Thống kê trong năm 2005 cũng chothấy, chỉ có 3,86% trong số 293 doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, tỷ lệnày sút giảm gần 2 lần so với kỳ điều tra của năm 2002 (chiếm 6,14%) Mặc dù chế biến là ngành đượckhuyến khích mạnh mẽ, nhưng chỉ có 38 doanh nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống (chiếm 3,4% sốdoanh nghiệp) đầu tư vào khoa học công nghệ

Số lượng các bằng phát minh sáng chế trên một người dân chỉ bằng 1/11 so với Trung Quốc và TháiLan, bằng 1/88 so với Xingapo Năng lực nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ mặc dù được đánhgiá là có tiến bộ khả quan song mới chỉ thể hiện dưới dạng tiềm năng Số lượng các cơ quan khoa họccông nghệ so với các nước là không nhiều, trình độ của cán bộ làm nghiên cứu khoa học công nghệ cònthấp so với nhiều nước trong khu vực và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội còn hạn chế

Trình độ công nghệ trong nền kinh tế nước ta còn thấp, lạc hậu 3 - 4 thế hệ so với những nước côngnghiệp phát triển, đứng thứ 92 trong số 117 nước được điều tra (WEF 2005 - 2006) Công nghệ trong cácdoanh nghiệp lạc hậu nhiều thế hệ so với khu vực Chuyển giao công nghệ chưa có những tiến bộ cần thiết,đặc biệt trình độ công nghệ thông tin còn rất thấp Tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao mới đạt 20,6%,thấp xa so với các nước ASEAN; rất ít doanh nghiệp quan tâm đến thông tin về khoa học và công nghệ, chỉ

có khoảng 8% doanh nghiệp đạt được trình độ tiên tiến (phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

Trang 20

3 Năng lực cạnh tranh quốc gia

Tăng trưởng về chất phải là quá trình tăng trưởng theo chiều sâu, đảm bảo nâng cao hiệu quả và nănglực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của ngành, của doanh nghiệp nói riêng Đối với Việt Nam, mặc

dù đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng nhìn chung, chất lượng, hiệuquả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta vẫn còn kém Xếp hạng năng lực cạnh tranh của nước ta rấtthấp và liên tục tụt bậc trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF trong những năm gầnđây

Bảng 5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng

của Việt Nam

Xếp hạng 48/33 49/59 64/75 60/80 60/102 77/104 81/117

Nguồn: WEF – Global Competitiveness Report.

Xếp hạng của nước ta tụt giảm là do các chỉ số năng lực cạnh tranh thành phần thấp (gồm có: chỉ sốcông nghệ - TI: Technology Index; chỉ số thế chế công – PII: Public Institution Index; chỉ số môi trường vĩ

mô – MEI: Macroeconomic Environment Index) và có sự tụt giảm trong bảng xếp hạng:

Bảng 6: Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh

của Việt Nam

Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm

Nguồn: WEF - Global Competitiveness Report.

Nguyên nhân dẫn đến xếp hạng chỉ số công nghệ của nước ta thấp do trình độ công nghệ của nước ta cònyếu kém Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật (với sự ra đời của LuậtDoanh nghiệp, Luật Đầu tư và Luật Đấu thầu năm 2006) và các chính sách cởi mở về xuất khẩu, song hệthống pháp luật của nước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập; còn thiếu tính nhất quán và ổn định Việc thực thipháp luật không nghiêm cũng được coi là một nguyên nhân Nạn quan liêu, tham nhũng tuy đã có những biệnpháp đấu tranh nhưng trong những năm gần đây vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng, dẫn đến chỉ số về

cuối năm 2005

Trang 21

năng lực thể chế của nước ta còn rất thấp Chỉ số về môi trường vĩ mô của Việt Nam cũng ở vị trí khiêm tốn.Nguyên do môi trường kinh doanh còn chưa thực sự bình đẳng, còn quá nhiều doanh nghiệp nhà nước độcquyền trên các lĩnh vực; tính minh bạch, công khai của nền kinh tế, bao gồm cả doanh nghiệp và cơ quan nhànước còn thấp

II CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH MÔI TRƯỜNG

1 Đánh giá chất lượng môi trường Việt Nam

1.1 Tài nguyên đất

Việt Nam có diện tích tự nhiên 32.931.456 ha với 3/4 lãnh thổ là vùng đồi núi và trung du, trong đódiện tích sông suối và núi đá không có rừng cây khoảng 1.370.100 ha (chiếm khoảng 4,06% diện tích đất tựnhiên), phần đất liền khoảng 31,2 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), xếp thứ 58 trên thếgiới Nhưng vì dân số đông (trên 80 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp,xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình quân của thế giới Trong 10 năm qua, nhờ thực hiện chính sách thích hợp,chúng ta đã khai khẩn được thêm 4.897.629 ha đất đưa vào sử dụng (đất nông nghiệp tăng thêm 2.352.105ha; đất lâm nghiệp có rừng tăng thêm 2.180.235 ha và đất chuyên dùng tăng thêm 560.653 ha) Tuy nhiên,tổng diện tích đất đưa vào sử dụng và diện tích đất bình quân đầu người thực tế lại đang có những biểu hiện

đi ngược lại nỗ lực của tăng diện tích đất canh tác, đất sử dụng của Việt Nam.

1.1.1 Diện tích đất sử dụng cho canh tác ngày càng bị thu hẹp

Diện tích đất canh tác của Việt Nam vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do tệ phá rừng làm nươngrẫy, sự xói mòn và thoái hóa đất, tình trạng sa mạc hóa, sức ép dân số tăng, mất đất do đô thị hoá, công nghiệphóa và chuyển đổi mục đích sử dụng

Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người

ở Việt Nam

Bình quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10

Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam.

So sánh với các nước trong khu vực, số lao động trên 1 đơn vị diện tích của ta thuộc hàng cao nhất.Theo số liệu năm 2000 của FAO cho thấy nếu ở Việt Nam có 3,2 lao động/ha thì ở Trung Quốc con số này

là 0,9 LĐ/ha, Myanmar là 1,6 LĐ/ha, Inđônêxia là 3,1 LĐ/ha, điều này có nghĩa diện tích đất nông nghiệptrên một lao động ở nước ta vào loại thấp nhất trong khu vực Thực trạng này bắt nguồn từ một số nguyênnhân sau:

- Mất đất do đô thị hoá Đô thị ngày càng mở rộng đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp ngày

Trang 22

càng bị thu hẹp lại, đặc biệt phần diện tích đất tốt, đất thuộc vùng đồng bằng châu thổ trù phú Điều nàygây ảnh hưởng trực tiếp, đe dọa đến nguy cơ thiếu đất canh tác trong tương lai gần, chưa kể đến các tácđộng tiêu cực về mặt xã hội (lao động nông thôn không có việc làm, tệ nạn xã hội tăng lên,…) của quá trìnhnày Trong vòng 10 năm từ năm 1990 đến năm 2000, vùng đồng bằng sông Hồng - nơi tốc độ đô thị hóadiễn ra sôi động nhất cả nước, phần đất dành cho cơ sở hạ tầng và nhà ở tăng thêm 63.780 ha chiếm 4,31%diện tích đất tự nhiên, nghĩa là mỗi năm mất khoảng 0,43% đất tự nhiên

- Quá trình hoang mạc hóa làm diện tích đất canh tác bị thu hẹp Nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha

đang chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa, bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa(khoảng 7 ngàn ha); đất bị xói mòn tại Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nơi khác là 120 ngàn ha; đất bịnhiễm mặn, nhiễm phèn ở đồng bằng sông Cửu Long là 30 ngàn ha; và đất khô hạn theo mùa hoặc vĩnhviễn tập trung ở Nam Trung bộ là 300 ngàn ha

- Quy mô dân số lớn và ngày càng lớn hơn Quy mô dân số Việt Nam lớn, đứng thứ ba ở Đông Nam Á,

thứ 14 trên thế giới và là một trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới Trong hơn một thập kỷtrước đây, nước ta khống chế được tốc độ gia tăng dân số quá nhanh Tuy nhiên, từ sau năm 2000 đến nay,tốc độ này lại có chiều hướng gia tăng Nguy cơ tái bùng nổ dân số đang đe dọa sự phát triển bền vững củađất nước Đây là áp lực rất lớn đối với những nỗ lực giải quyết việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội cơbản và phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường Quy mô phát triển dân số và mô hình tiêu dùng khônghợp lý đã tạo ra những sức ép rất lớn đối với đất đai, nguồn cung cấp năng lượng và tài nguyên thiên nhiên.Cùng với sự gia tăng dân số, thì diện tích đất sử dụng cho canh tác ngày càng bị thu hẹp

Bảng 8: Tỷ lệ hộ nông thôn không có đất

Nguồn: Việt Nam tấn công đói nghèo, Ngân Hàng Thế giới, Hà Nội.

1.1.2 Suy thoái và ô nhiễm đất

Trang 23

Ngoài các nguyên nhân khách quan như vị trí địa lý, khí hậu…, hoạt động của con người như sự tăng dân số,đói nghèo, kỹ thuật canh tác không hợp lý, mất rừng, cháy rừng, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đô thị, khu côngnghiệp, khai thác khoáng sản… cũng tác động trực tiếp làm biến đổi tính chất đất và mất đất, làm cho đất không còntính năng sản xuất, từ đó dẫn đến quá trình suy thoái và ô nhiễm môi trường đất trở nên trầm trọng hơn Các nguyênnhân làm ô nhiễm môi trường đất bao gồm:

- Ô nhiễm do sử dụng phân bón hóa học: Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trong canh tác nôngnghiệp, bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm và chất lượng phân bón không bảo đảm làmcho hiệu quả phân bón thấp Đồng thời lượng phân đạm dư thừa lại gây ô nhiễm môi trường đất (ở nước ta,

có trên 50% lượng đạm, 50% lượng Kali và khoảng 80% lượng lân dư thừa)

- Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gây chết tất cả những sinh vật có hại và cólợi, và tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước Từ năm 2000, trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 30 ngàntấn thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm Tổng lượng thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 - 1,5 lần so với năm

1990 Mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam còn ít so với các nước khác(trung bình từ 0,5 – 1 kg/ha/năm), nhưng ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất

- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt động công nghiệp: Trong những năm gần đây, hàmlượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lên đáng kể (như tại cụm công nghiệpPhước Long, hàm lượng Cr cao gấp 15 lần, Cd từ 1,5 đến 5 lần, As gấp 1,3 lần so với tiêu chuẩn)

1.2 Về nguồn nước

Việt Nam có nguồn tài nguyên nước ngọt rất dồi dào, hoàn toàn có thể đảm bảo được nguồn nước sinhhoạt cho người dân (lượng nước tính trung bình trên đầu người của Việt Nam là 11.189 m3/người, cao gầngấp đôi so với mức trung bình của thế giới), cũng như cho các mục đích để đáp ứng yêu cầu của phát triểnbền vững Đây là một cơ sở rất quan trọng và thuận lợi cho Việt Nam để có thể đảm bảo được sự phát triểnbền vững của môi trường cũng như đạt được mục tiêu tăng trưởng có chất lượng

Bảng 9: Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 - 2004)

Trang 24

Trung bình các nước nghèo 50 - 500

Nguồn: Viện Tài nguyên Thế giới – WRI.

Mặc dù tài nguyên nước ngọt tương đối phong phú, đa dạng, có khả năng tái tạo cao nhưng lại rất phứctạp về tính chất và đang có những diễn biến mà nếu không được quản lý tích cực và kịp thời sẽ là nhữngkhó khăn to lớn mà ta phải đối mặt trong tương lai gần Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, kéo theonhững tác động đến môi trường nói chung, môi trường nước nói riêng đang tiềm ẩn những nguy cơ, tháchthức trong tương lai gần

Ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây các bệnh suydinh dưỡng, làm thiếu máu, gây kém phát triển, tử vong, nhất là ở trẻ em Có đến 88% trường hợp bệnhtiêu chảy là do thiếu nước sạch, vệ sinh môi trường kém Có nhiều nguyên nhân làm ô nhiễm môi trườngnước, trong đó chủ yếu là những nguyên nhân sau:

1.2.1 Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước

Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ tạo nên nhu cầu sử dụng nước lớntrong khi nguồn tài nguyên nước không thay đổi, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng cả về chất và về lượngđối với tài nguyên nước

Hiện nay có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nước tập trung Tuy nhiên, dịch vụ cấp nước đô thị cònnhiều hạn chế Hệ thống cấp nước đô thị xây dựng chắp vá, không hoàn chỉnh và đồng bộ So sánh với năm

2000 tổng lượng nước sử dụng trong năm 2010 được dự báo sẽ tăng 14%; năm 2020, 25% và năm 2030,38% Với đà gia tăng được dự báo trên đây đến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lên tới gần 90 tỷ

m3/năm, tức bằng khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nước hình thành trên lãnh thổquốc gia

1.2.2 Ô nhiễm nguồn nước

Việt Nam là một trong những nước đang ở trong tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng và diễn ra vớitốc độ tăng nhanh nhất trên thế giới Đặc biệt mức độ ô nhiễm nước ở một số khu công nghiệp, khu chếxuất, cụm công nghiệp tập trung đã lên đến mức báo động

Ô nhiễm nước mặt: Chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết các con sông chính của Việt Nam cònkhá tốt, trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu của các con sông này ngày càng tăng do ảnh hưởng của các đôthị và các cơ sở công nghiệp Đặc biệt, mức độ ô nhiễm tại các sông tăng cao vào mùa khô Ở các hệ thốngsông chính trên cả nước đã thấy có hiện tượng hàm lượng BOD5 và NH4 vượt mức tiêu chuẩn cho phép từ1,5 đến 3 lần, hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép loại A từ 1,5 đến 2,5 lần Một

số điểm cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm kim loại nặng Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như

Trang 25

Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh hệ thống các ao, hồ, kênh rạch và sông nhỏ đều ở tình trạng ônhiễm nghiêm trọng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép 5 - 10 lần Việc khai thác nước quá mức và không

có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp Hiện tượng này thấy nhiều ở các khu vực đồngbằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Nước dưới đất đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm phốt phát vàasen Khai thác nước dưới đất quá mức cũng đã dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển ởnhiều nơi

1.2.3 Vấn đề xử lý nước thải

a Nước thải đô thị và công nghiệp

Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường (chỉ khoảng 4,26% lượngnước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn) Ngoài ra, hiện nay cả nước chỉ có một số bãi chônlấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt động thường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Do đó, nướcthải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải và cả nước thải bệnh viện(nguồn nước chứa nhiều thành phần nguy hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường) ngấm xuống đất

và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất

b Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu vực nông thôn

Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật và phân khoáng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, hoạt độngcủa các làng nghề trong nước tạo ra một lượng chất thải xả vào môi trường một cách bừa bãi và khôngđược xử lý gây ra nhiễm độc nước, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước trầm trọng

Chất lượng nước không đảm bảo, nhất là nước sinh hoạt kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề sức khoẻcộng đồng bị ảnh hưởng, chất lượng đời sống sẽ xấu đi Điều này khẳng định tăng trưởng của Việt Namchưa thực sự bền vững về mặt môi trường và xã hội, tăng trưởng tuy có đạt được tốc độ cao nhưng chấtlượng cuộc sống của người dân lại đi xuống, nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến người dân trong tương lai

1.3 Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị, công nghiệp vàcác làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ conngười (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệuứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triểnthì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khítheo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí càng quan trọng nhằm đảm bảo chonền kinh tế tăng trưởng có chất lượng

2 Đánh giá về bảo tồn đa dạng sinh học

Nước ta được quốc tế xếp thứ 10 về đa dạng sinh học, nhưng tốc độ suy giảm được xếp vào loại nhanh

Trang 26

Hiện nay, trên cả nước nhiều hệ sinh thái tự nhiên, khu bảo tồn đang bị xâm phạm và phá hoại nghiêmtrọng

2.1 Bảo vệ và phát triển rừng

Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là một trong

số 10 nước có diện tích trồng rừng lớn nhất trên thế giới Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn cho biết Việt Nam hiện có khoảng 12,3 triệu ha rừng, trong đó có 10 triệu ha rừng tự nhiên.Với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005, Việt Nam đã nâng độ che phủ rừng lên 37,1%,tăng 3,5 % so với năm 1999 Trong nhóm 10 quốc gia nói trên, ngoài Việt Nam còn có 5 nước châu Á khác

là Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêxia và Trung Quốc Tuy nhiên, tốc độ phá rừng tự nhiên cũng đangdiễn ra mạnh, con số lên tới 0,8 triệu hécta/năm đã khiến số lượng nhiều loài động, thực vật giảm mạnh,làm gia tăng số lượng các loài động thực vật có hại cho rừng và nông nghiệp, đồng thời gây bệnh cho conngười Thiệt hại này ước tính lên tới hàng trăm tỷ USD đối với toàn khu vực trong 5 năm qua

Quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động Chấtlượng của rừng tự nhiên còn lại đã bị hạ thấp quá mức Trước đây phần lớn đất nước Việt Nam có rừng chephủ, nhưng chỉ khoảng một thế kỷ qua, rừng bị suy thoái nặng nề Hiện nay, độ che phủ của rừng còn lạikhoảng 43% diện tích đất tự nhiên

Bảng 10: Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến tháng 12/2003.

Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại khoảng 9,5 triệu ha, chiếm 29% diện tích cả nước Trong mấynăm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,2% năm 1995 và cuối năm 2002 theo số liệu thống kêmới nhất thì độ che phủ rừng toàn quốc lên đến là 35,8%

Diện tích rừng tự nhiên nước ta giảm dần từ 14,3 triệu ha năm 1945 đến 8,25 triệu ha năm 1995, nhưng

đã tăng trở lại với 9,47 triệu ha năm 1999 và đến năm 2002 là 9,86 triệu ha, như vậy là trong 7 năm mỗinăm trung bình tăng hơn 230.000 ha Diện tích rừng tự nhiên tăng chủ yếu do sự phát triển của rừng tái sinh

Trang 27

và rừng tre nứa Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng chất lượng rừng bị suy giảm.

Cũng cần chú ý là công tác thống kê rừng của chúng ta tới nay còn nhiều hạn chế, các số liệu về diệntích rừng được công bố rất khác nhau, tuỳ nguồn tài liệu, và tuỳ thời gian do thiếu thống nhất về phươngpháp và các tiêu chí định lượng về rừng

2.2 Hệ sinh thái của Việt Nam

Các hệ sinh thái của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% sốloài chim và thú trên toàn cầu Việt Nam có nhiều loài động thực vật rất độc đáo mà nhiều quốc gia trên thếgiới không có được, đã làm cho Việt Nam trở thành nơi tốt nhất (trong một số trường hợp là nơi duy nhất)

để bảo tồn đa dạng sinh học

Việt Nam có khoảng 126 khu bảo tồn thiên nhiên, với tổng diện tích trên 2,5 triệu ha, bao gồm các khurừng bảo vệ cảnh quan, vườn quốc gia, khu bảo tồn loài và nơi cư trú, khu dự trữ thiên nhiên tăng 28%diện tích so với trước khi nước ta tham gia Công ước quốc tế về đa dạng sinh học năm 1994 Diện tích rừngđược bảo tồn ở nước ta chỉ ở mức trung bình nếu so với các nước trong khu vực Xu hướng quần thể của rấtnhiều loại động thực vật tại Việt Nam đang suy giảm, ngày càng có nhiều loài phải đối mặt với nguy cotuyệt chủng Theo kết quả điều tra của các nhà sinh học, từ năm 1996 đến nay, ở nước ta có 152 loài độngvật và thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng Trong đó, đáng chú ý các loài tê giác 2 sừng, heovòi, cầy rái cá, hươu sao, cá chép gốc, cá sấu hoa cà hầu như không tồn tại trong tự nhiên mà chỉ còn một

số cá thể

Để bảo vệ và duy trì hệ sinh thái này, trong những năm qua, Việt Nam đã tăng cường đầu tư cho cácchương trình, dự án bảo tồn sinh học Theo báo cáo môi trường Việt Nam 2005, tổng kinh phí đầu tư chobảo tồn đa dạng sinh học năm 2005 đạt xấp xỉ 51,8 triệu USD, gấp 10 lần so với một thập kỷ trước Tuynhiên, theo các chuyên gia môi trường: mặc dù tỷ lệ đầu tư cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở ViệtNam mỗi năm chiếm từ 20 - 30% nguồn kinh phí trong lĩnh vực môi trường, nhưng chất lượng bảo tồnchưa cao

Hiện nay, khoảng 25 triệu người Việt Nam sống dựa vào các hệ sinh thái rừng và khoảng 8 triệu ngườikhác có một phần thu nhập từ ngư nghiệp Các hệ sinh thái và đa dạng sinh học đã góp phần quan trọng cảithiện điều kiện sống, cung cấp dinh dưỡng, lương thực, chất đốt, thuốc men, bảo vệ sức khoẻ và cung cấpnước sinh hoạt cho con người Như vậy, các hệ sinh thái của nước ta còn có một ý nghĩa vô cùng quantrọng không chỉ về mặt môi trường môi sinh mà còn có ý nghĩa cả về mặt kinh tế đối với một bộ phậnkhông nhỏ người dân, đồng thời góp phần vào tăng trưởng kinh tế của đất nước

3 Tổ chức quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường

Ngày 17/8/2004, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 củaViệt Nam) đã chính thức được ban hành theo quyết định số 153/2004/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ

Trang 28

phê duyệt Đây là một chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ,ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảo đảm pháttriển bền vững đất nước trong thế kỷ XXI Việt Nam trở thành một trong 113 nước trên thế giới đã xâydựng và triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia theo nghị quyếtđược 179 nước thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm

về mặt quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong việc triển khai thực hiện cụ thể Chươngtrình Nghị sự 21 của Việt Nam

III HIỆU LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

1 Các chính sách vĩ mô

Thực tiễn phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới đều thừa nhận tầm quan trọng của vai trò quản lý nhà nước trong việc xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và hợp lý để khuyến khích tích luỹ và đầu tư Những kinh nghiệm thành công nhất về phát triển ở Đông Á có được gần đây là nhờ các yếu tố như mức độ thâm hụt ngân sách thấp; tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng hợp lý; tỷ lệ lạm phát tương đối thấp; các khoản

nợ của khu vực công cộng tăng ở mức độ hạn chế; lãi xuất thực được duy trì ở mức độ dương để khuyến khích tích luỹ trong nước; tỷ giá hối đoái được quản lý để tránh tình trạng giá trị đồng tiền quá cao, khuyến khích xuất khẩu và góp phần duy trì cán cân thanh toán và sự ổn định về tài chính… Nhờ có tính ổn định và khả năng dự đoán tương đối của môi trường kinh tế vĩ mô, người dân yên tâm đầu tư tiết kiệm dài hạn vào thị trường tài chính và các nhà doanh nghiệp yên tâm khi đầu tư cho các dự án, kể cả các dự án có thời gian thu hồi vốn dài Chính vì vậy, tỷ lệ tích luỹ (tiết kiệm nội địa) và đầu tư tăng mạnh, đẩy nhanh tốc độ tích luỹ các nguồn vốn, cả

Trang 29

vật chất và con người, tạo tiềm lực cho tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao sự phồn thịnh bền vững về kinh tế và nhanh chóng thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo Chính vì vậy, trong nội dung nghiên cứu về hiệu quả các chính sách vĩ mô của Nhà nước, chuyên đề sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá - những công cụ chính để nhà nước điều tiết vĩ mô toàn nền kinh tế

1.1 Chính sách tài khóa 3

Nhiều năm qua, chính sách tài khóa của nước ta được điều hành một cách thận trọng với mục tiêu nhằmbảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tiền đề cho phát triển kinh tế bền vững Cụ thể, thực hiện chính sách cânđối ngân sách một cách tích cực và ngày càng có những tiến bộ quan trọng, có dự trữ, giữ bội chi ở mứchợp lý, tổng nợ khu vực công (cả nợ nước ngoài và nợ trong nước) thấp, luôn ở tình trạng có thể kiểm soátđược Tuy nhiên đi sâu vào tìm hiểu quy mô và cơ cấu thu, chi NSNN còn có nhiều điều bất ổn, có nguy cơ

đe dọa đến tính bền vững và có chất lượng của Ngân sách Nhà nước (NSNN)

Về quy mô thu, quy mô thu Ngân sách năm 2005 tăng 28 lần so với năm 1990, bình quân tăng

24,4%/năm Tỷ suất thu NSNN từ 13,8% so GDP năm 1991 tăng lên 22,5% vào năm 2005 Quy môthu Ngân sách tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng so với GDP dù trong bối cảnh chúng ta thực hiện rấtnhiều chính sách ưu đãi, miễn, giảm thuế như: miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, bỏ thu sử dụngvốn, để lại tiền trích khấu hao tài sản cho doanh nghiệp tái đầu tư, thực hiện cắt giảm thuế quan theotiến trình hội nhập quốc tế Thu từ thuế và phí không những đáp ứng đủ chi thường xuyên mà ngàycàng dành nhiều hơn cho đầu tư phát triển và trả nợ Tuy nhiên, tỷ suất thu NSNN vẫn còn nằm trongkhoảng thấp (quy mô thu từ 17% - 25% được coi là “ngưỡng” trung bình của các nước đang pháttriển) Song so với Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Philípin có quy mô thu NSNN từ 17 – 19%, thì quy

mô thu NSNN của Việt Nam cao hơn các nước này Có thể đánh giá, quy mô thu NSNN của nước tahiện này nằm trong vùng hợp lý và đảm bảo được sự bền vững nguồn thu của NSNN

Về cơ cấu thu, đã dựa vào nguồn nội lực trong nước là chính, thu từ viện trợ nước ngoài chiếm phần

không đáng kể Chính sách thuế (chủ yếu là thuế thu GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập

cá nhân, thuế thu nhập đặc biệt) được đổi mới theo hướng đa dạng hóa cơ sở thuế để tăng thu, mỗi năm

sách tài khóa ở Việt Nam”, TS Nguyễn Đại La, http://www.sbv.gov.vn

Bài viết “Đánh giá mức độ bền vững của ngân sách nhà nước Việt Nam trong điều kiện hiện nay”, TS.Bùi Đường Nghiêu, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 1/2006

Trang 30

thu thuế chiếm khoảng 13% GDP Tuy nhiên, các khoản thu có tính bền vững từ các sắc thuế chỉ chiếmdưới 50% tổng thu NSNN (40,6% năm 2004; 44,27% năm 2005); các khoản thu từ dầu thô; từ nhà đất;thu sổ xố kiến thiết; thu từ xuất nhập khẩu…- ít có tính ổn định bền vững chiếm tỷ trọng lớn (chiếm59,4% tổng thu NSNN năm 2004; 55,73% năm 2005) Cơ cấu thu theo thành phần kinh tế đã có nhữngbước chuyển biến theo hướng tăng thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, đặc biệt thu từ khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài tuy mới xuất hiện từ năm 1994 nhưng đến nay đã chiếm 9,8% tổng thu NSNN

1.1.2 Chi NSNN

Về quy mô chi, nhìn chung quy mô chi của năm sau thường cao hơn năm trước, năm 2000, đạt

23,4% GDP; năm 2001 đạt 24,8%; năm 2002 đạt 25%; năm 2003 đạt 26,2% và năm 2004 đạt 25,6%(đã loại trừ chi trả nợ gốc khỏi các tính toán chi NSNN) Song đây không phải là điều đáng lo ngại vìquy mô chi tuy tăng nhưng không quá cao so với khả năng thu, không gây sức ép xấu đến cân đốiNSNN Nhìn ở góc độ khác, việc tăng chi tiêu có những tác động nhanh, mạnh, mang tính chất dâychuyền đến tổng chi tiêu của toàn xã hội, góp phần thúc đẩy sức cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Chính sự đầu tư chi tiêu lớn của Nhà nước vào khu vực xây dựng và công nghiệp trong giai đoạn vừaqua đã tạo ra đòn bẩy kéo theo đầu tư tư nhân góp sức vào việc tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tìnhhình thực hiện chi NSNN luôn luôn vượt dự toán là điều đáng xem xét Năm 2005, một số khoản chi

đã vượt dự toán khá lớn như chi sự nghiệp kinh tế vượt 30,2% so với dự toán; chi bổ sung quỹ dự trữquốc gia vượt 58%; chi quản lý bộ máy vượt 11,9%; Tình trạng chi tiêu vượt quá dự toán đã phêchuẩn thể hiện kỷ luật tài chính chưa nghiêm và chứa đựng những nguy cơ tác động xấu đến tính bềnvững, ổn định của NSNN

Về cơ cấu chi, cơ cấu chi NSNN đã có những thay đổi tích cực, từng bước xác định phạm vi Ngân sách

cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách cho đầu tư phát triển Cụ thể, tách hoạt động bảo hiểm xã hội

ra khỏi ngân sách; phân định rõ hoạt động sự nghiệp và quản lý hành chính công để có chính sách tài chínhthích hợp; tăng tỷ lệ chi Ngân sách cho đầu tư phát triển; thực hiện cải cách tiền lương đi liền với tinh giảnbiên chế bộ máy và cải cách thủ tục hành chính; giảm mạnh và tiến tới xóa bỏ những khoản chi mang tínhchất bao cấp trong ngân sách, đặc biệt là chi hỗ trợ doanh nghiệp Nhà nước nước, cấp vốn lưu động; tăng chingân sách cho phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo; tăng chi cho hoạt động khoa học và công nghệ; tăng chingân sách cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo; tăng ngân sách cho các hoạt động y tế, cho hoạt động văn hóa,thông tin và quản lý nhà nước qua các năm Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển đối với các vùngkinh tế trọng điểm, đồng thời quan tâm đầu tư nhiều hơn cho các vùng khó khăn Theo đó, tỷ trọng trong cơcấu chi tiêu NSNN đã có những thay đổi, chi tiêu thường xuyên tuy vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chiNgân sách song đã có xu hướng giảm (chiếm khoảng 65% trong tổng chi Ngân sách thời kỳ 2000-2002;chiếm 60% thời kỳ 2003-2005) Chi đầu tư chiếm tỷ trọng thấp nhưng đang gia tăng theo các năm, đặc biệt

Trang 31

chú trọng tới chi cho đầu tư phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng Tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chiNSNN từ 22,3% năm 1991 tăng lên 30,1% vào năm 2004; tốc độ tăng chi đầu tư phát triển tăng bình quân14,6%/năm giai đoạn năm 2003 - 2005; chi cho phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo hàng năm từ 1991 -

2005 tăng bình quân 24,5%/năm; chi cho hoạt động khoa học và công nghệ năm 2000 đạt 2% tổng chi NSNN,tăng 22 lần so với năm 1991; chi cho các hoạt động y tế tăng bình quân 17,2%/năm

Tuy nhiên, hiện nay, thu ngân sách chưa đủ đáp ứng cho chi, đặc biệt chi cho đầu tư phát triển, xâydựng cơ sở hạ tầng Nguồn vốn chi này được huy động bằng cách vay từ công chúng, vay nước ngoài, vaytín dụng từ hệ thống ngân hàng Tình trạng này nếu không quản lý tốt, không cân đối và kiểm soát đượckhả năng thanh toán thì sẽ gây biến động trên thị trường tài chính, đe dọa trực tiếp đến ổn định tăng trưởngkinh tế Bên cạnh đó, tình trạng lãng phí và thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản diễn ra khá phổbiến và nghiêm trọng, việc bố trí vốn đầu tư XDCB còn thiếu tập trung và dàn trải Việc xử lý nợ tồn đọngvốn đầu tư XDCB theo Nghị quyết của Quốc hội chưa thật tích cực, tình trạng nợ cũ vẫn chưa giải quyếtdứt điểm, nợ mới tiếp tục phát sinh Chính những vấn đề còn bất cập trong quản lý, sử dụng vốn ĐTPT cònlãng phí, thất thoát, dàn trải, nợ đọng… gây những tác động xấu, đe dọa sự bền vững của NSNN

1.1.3 Cân đối Ngân sách

Biểu đồ 4: Bội chi NSNN 1994 – 2004

2003 là 6,6%) Cuối năm 2003, tổng nghĩa vụ phải trả nợ của Chính phủ (kể cả ODA cho vay lại) chiếm

Trang 32

33% GDP Các con số về bội chi và dư nợ ở khu vực công (gồm cả nợ nước ngoài và nợ trong nước) ởnước ta thấp nhiều so với giới hạn nợ theo tiêu chuẩn khu vực đồng Euro (bội chi không quá 3%; dư nợcông không quá 60%) Quan điểm điều hành tài khóa nước ta theo hướng thận trọng, đã và đang có tácdụng cụ thể bảo đảm được sự an toàn của khu vực tài chính nhà nước Do đó, có thể đánh giá NSNN đangđược xem là bền vững, trong giới hạn an toàn

Tuy nhiên, khi tính đến các khoản mục hiện chưa được thể hiện trong cân đối ngân sách như nợ từ khuvực DNNN; trái phiếu chính phủ phát hành để cấp vốn cho một số dự án cơ sở hạ tầng, công trái giáo dục,kiên cố hóa trường học; tái cấp vốn cho các NHTM quốc doanh… thì tỷ lệ nợ công sẽ tăng thêm khoảng3% nữa Mặc dù chưa dẫn đến tình trạng báo động, song cũng cần quan tâm đến những tác động cũng nhưđánh giá rủi ro của các hạng mục chi này

1.2 Chính sách tiền tệ 4

Trong giai đoạn từ 1998 – 2004, NHNN Việt Nam đã sử dụng chính sách tiền tệ khá linh hoạt, hiệu quảthông qua các công cụ kiểm soát cung tiền, góp phần không nhỏ giúp nền tài chính nước ta vượt qua cuộckhủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 -1998, phục hồi và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn sau đó

1.2.1 Cung ứng tiền tệ

Nhằm hạn chế tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á với sự suy giảm của tổng cầu,năm 1999, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng với mức tăng trưởng M2 đạt 39,28%; tăng trưởng M1 đạt34,61% và tăng trưởng CU đạt 54,08% thay vì ở mức tương ứng 34,54%, 24,61% và 7,43% trong năm

1998 Năm 2000, NHNN tiếp tục tiến hành đẩy mạnh việc nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích cầu, thểhiện sự gia tăng về tốc độ tăng trưởng của M2 đạt mức 56,25%, M1 đạt 44,62% Thực thi chính sách tiền tệbảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, kích thích đầu tư pháttriển, những năm tiếp theo đó, NHNN áp dụng biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ với các mức tăngtrưởng cung tiền M2 giảm xuống trong giai đoạn 2000 – 2004 giảm xuống trung bình chỉ còn 22,7%/năm,tăng trưởng CU là 27,3%/năm và tăng trưởng M1 là 27,3%/năm Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh về tốc độtăng trưởng tín dụng trong nước tăng lên đã gây ra những áp lực tiềm tàng nhất định tới sự biến động củachỉ số giá tiêu dùng trong thời kỳ này, do đó, lạm phát thời kỳ này tăng khá cao, lên tới 9,5% (năm 2004)

Tỷ lệ M2/GDP của Việt Nam tăng lên theo các năm từ 28,4%% năm 1998 lên 58,4% năm 2005 Song thựctiễn của các nước cho thấy, tỷ lệ này có xu hướng tăng lên theo sự tăng trưởng kinh tế So với các nướctrong khu vực thì tỷ lệ M2/GDP của ta còn thấp, trạng thái thị trường tiền tệ nước ta năm 2005 mới tươngứng với Thái Lan khoảng năm 1986

Bảng 11: Tỷ lệ M2/GDP (%) của Việt Nam

Cao Đức, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 4 /2006

Trang 33

giai đoạn 1998 – 2005

1.2.2 Lãi suất

Trong những năm qua, với những sự thay đổi trong cơ chế lãi suất hợp lý, ổn định của NHNN đã tạo

ra động lực mạnh thúc đẩy hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng, huy động vốn cho đầu tư pháttriển thông qua tín dụng trong nước, tăng cường sự lành mạnh hóa và hiệu quả hoạt động của thị trườngtài chính.Từ cuối năm 1995, NHNN đã tiến hành việc thực hiện quá trình tự do hóa lãi suất tiền gửi, lãisuất cho vay được quản lý và kiểm soát dưới cơ chế trần lãi suất thay vì chính sách khung lãi suất chovay tối đa và lãi suất tiền gửi tối thiểu trước đó Tiếp theo đó, đồng nội tệ được áp dụng cơ chế điều hànhlãi suất cơ bản (kể từ tháng 8/2000); còn lãi suất ngoại tệ trên thị trường đã được tự do hoàn toàn bằngviệc bãi bỏ quy định về biên độ lãi suất cho vay đối với USD (kể từ tháng 6/2001) Đến tháng 6/2002,thay vì sử dụng cơ chế lãi suất cũ, NHNN đã quyết định chuyển sang cơ chế lãi suất “thỏa thuận” đối vớiđồng nội tệ của các tổ chức tín dụng và khách hàng theo cơ chế thị trường NHNN công bố lãi suất cơbản chỉ mang tính chất tham khảo và ít có tác động tới lãi suất của các tổ chức tín dụng

Ngoài ra, để thực hiện mục tiêu nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm kích cầu, công cụ dự trữ bắt buộc cũngđược điều chỉnh lại Thay vì với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% áp dụng thống nhất cho tất cả các loại tiền gửi,

từ năm 1999, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng đã giảm chỉ còn ở mức 5% cho tiền gửi có

kỳ hạn dưới 12 tháng cho các NHTM quốc doanh, ngân hàng liên doanh, NHTM cổ phần và công ty tàichính và 3% cho ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đến tháng 5/2001, tỷ lệ dự trữ bắt buộcđối với tiền gửi đồng nội tệ đã giảm xuống mức 3%

Bên cạnh đó, công cụ tái cấp vốn cũng được thay đổi, lãi suất cho vay tái cấp vốn đã được giảm 4 lầnvới mức 1,1%/tháng đầu năm xuống chỉ còn 0,5% /tháng cuối năm 1999 Đến năm 2001, lãi suất cho vaytái cấp vốn lại được giảm xuống chỉ còn khoảng 0,4%/tháng Trong thời kỳ này, nghiệp vụ thị trường mởcũng đã được chính thức đi vào hoạt động vào tháng 7/2000 nhằm điều tiết lượng cung tiền trong nền kinh

tế Việc triển khai nghiệp vụ thị trường mở đã đánh dấu một bước khá quan trọng về chuyển biến trongđiều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam, từ việc chủ yếu sử dụng công cụ trực tiếp trong việc kiểm soátcung tiền sang sử dụng công cụ gián tiếp của NHNN dựa trên tín hiệu của thị trường tiền tệ

1.3 Chính sách tỷ giá

Từ năm 1992, tỷ giá của Việt Nam được điều hành theo quy luật cung cầu ngoại tệ trên thị trường có

sự quản lý của Nhà nước thay cho chế độ tỷ giá cố định trước đó Đầu năm 1999, quản lý tỷ giá lại cóthêm bước tiến nữa với việc công bố tỷ giá giao dịch bình quân ngày hôm trước làm căn cứ cho NHTM

tự ấn định tỷ giá giao dịch cho mình Tỷ giá chính thức cũng đã được nới lỏng dần dần và đến nay giữ ổn

Trang 34

định xê dịch trên dưới 16.000 VND/USD Bên cạnh đó, tỷ lệ kết hối cũng liên tục được nới lỏng từ mức80% nay chỉ còn 20%, cũng đang tạo động lực khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu cũngnhư nhập khẩu nguyên liệu đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu Gần đây tuy tỷ giá có tăng lên vượtmức 16.000 VND/USD, nhưng theo NHNN đây là sự vận động bình thường của thị trường, chưa gâybiến động cho nền kinh tế và hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát Tỷ giá VND/USD ổn định tạo thuậnlợi cho cả xuất khẩu và cả nhập khẩu, nhất là vay nợ nước ngoài của Việt Nam Đồng thời, với chínhsách điều hành tỷ giá biến động 2 chiều nên hầu như loại bỏ được yếu tố đầu cơ, lại càng làm cho thịtrường ngoại tệ ổn định, cầu ngoại tệ tăng chậm Có thể nói, cơ chế quản lý tỷ giá đã góp một phần quantrọng trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đà cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao trong nhữngnăm qua của Việt Nam

Dự trữ ngoại tệ

Nhằm ổn định cán cân thanh toán quốc tế, trong những năm qua Việt Nam theo đuổi mục tiêu tăngcường củng cố dự trữ ngoại tệ đạt mức dự trữ an toàn NHTW chịu trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ độngthái và trạng thái dự trữ ngoại hối quốc gia; thống nhất một đầu mối dự trữ ngoại hối tại NHTW và tại cácNHTM Dự trữ ngoại hối quốc gia ngày càng ổn định, đủ khả năng điều tiết thị trường trong trường hợptình hình thị trường có biến động lớn Năm 2005, dự trữ ngoại tệ của ta đạt mức lớn nhất từ trước tới nay,đạt trên 14 tuần nhập khẩu Tuy nhiên con số này là rất nhỏ bé khi so sánh với các nước, ước chỉ bằng 1%lượng dự trữ của các quốc gia như Nhập Bản, Trung Quốc (từ 700 – 1.000 tỷ USD)

Tuy đạt được những bước tiến quan trọng trong tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, song về chính sách quản

lý ngoại tệ vẫn còn nhiều điều cần xem xét Hiện nay cách tính quỹ dự trữ ngoại hối chủ yếu được xác địnhtheo tuần nhập khẩu Theo cách tính này, nguồn ngoại hối dự trữ chỉ mới dừng lại ở việc sẵn sàng cung ứngngoại tệ để cân bằng cán cân thương mại, trong khi đó cán cân vãng lai, cán cân vốn đang ngày càng tăng,tạo lên một áp lực lớn về ngoại hối do mất cân bằng trong thời gian gần đây Do phải trả nợ nước ngoài, lợinhuận của các doanh nghiệp FDI, nhu cầu chuyển vốn ra nước ngoài kinh doanh của các doanh nghiệp ViệtNam đang có xu hướng tăng Đây là những nhu cầu ngoại tệ hợp lý mà Chính phủ phải thỏa mãn

2 Hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước

Hiệu lực quản lý của Nhà nước thể hiện trong cơ cấu, tổ chức động của bộ máy hành chính Nhà nước

và năng lực, phẩm chất của cán bộ công chức trong bộ máy đó Nhà nước có thể chế minh bạch, cụ thể, có tính thực thi cao, có con người trong bộ máy ít quan liêu, tham nhũng, đảm bảo các quyền của công dân thì tăng trưởng sẽ được duy trì ổn định lâu dài Tuy nhiên, khi nghiên cứu rất khó lượng hóa để có thể đánh giá cụ thể, chi tiết thành quả trong nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Tác động của thành quả này là tác động gián tiếp, nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, ổn định, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Kết quả của công tác phòng

Trang 35

chống tham nhũng, lãng phí được xuất phát chính từ các biện pháp nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước, cải cách hành chính nhà nước, Do vậy, trong nội dung chuyên đề, khi đề cập đến hiệu lực quản lý nhà nước sẽ hướng tập trung nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng của nước ta trong giai đoạn vừa qua

2.1 Chỉ số nhận biết tham nhũng CPI

Qua bảng xếp hạng Chỉ số nhận biết tham nhũng (Corruption Perception Index - CPI) của Tổ chứcMinh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) công bố hàng năm, có thể nói, vị trí của Việt Namtheo bảng xếp hạng CPI là tương đối kém so với thế giới và khu vực Năm 2005, với điểm số là 2,6 trongkhi điểm trung bình của thế giới là 4,11, Việt Nam chỉ đứng thứ 107/159 trên thế giới và 16/24 trong khuvực châu Á - Thái Bình Dương, Tình trạng tham nhũng tại Việt Nam trầm trọng hơn nhiều so với các nướcnhư Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaixia, thậm chí là cả Fiji, Lào, Ấn Độ và Xri Lanca, nhữngquốc gia vốn được coi là “điểm nóng” của nạn tham nhũng

Bảng 12: Điểm số CPI của Việt Nam qua các năm

Nguồn: Tổ chức Minh bạch Quốc tế ( www.transparency.org).

Bên cạnh đó, điều đáng buồn là khi tình trạng tham nhũng tại nhiều quốc gia trong khu vực được cảithiện, đáng chú ý là Hàn Quốc (tăng 0,5 điểm), Nhật Bản (tăng 0,4 điểm), Thái Lan (tăng 0,2 điểm), thìđiểm số của Việt Nam lại không có biến chuyển tích cực và luôn ở mức thấp so với mặt bằng chung củakhu vực và cả thế giới Từ khi xuất hiện trong bảng xếp hạng này (năm 1997), tính đến nay điểm số củaViệt Nam luôn dao động trong khoảng từ 2,4 đến 2,7 (các quốc gia có điểm số dưới 3 được đánh giá là mức

độ tham nhũng nghiêm trọng) Tuy căn cứ vào số điểm và thứ hạng trong bảng xếp hạng chưa thể phản ánhthực chất được mức độ tham nhũng của Việt Nam Song điều này cho thấy những nỗ lực chống tham nhũng

và tăng cường tính minh bạch của Việt Nam, mặc dù đã được đẩy mạnh và chú trọng trong những năm gầnđây, vẫn chưa đủ mạnh và chưa mang lại những bước đột phá cần thiết

2.2 Những nội dung xung quanh vấn đề tham nhũng tại Việt Nam

2.2.1 Công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam

a Về mặt thể chế

Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp trong công tác phòng, chống tham nhũng, đã thể chế hóa bằngđạo luật Luật Phòng và chống tham nhũng chính thức có hiệu lực vào ngày 1/6/2006 vừa qua, với những

Trang 36

nội dung đề cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội và cả xã hội.Mới đây, tại ĐH Đảng toàn quốc lần thứ X và kỳ họp Quốc hội lần thứ 9 khóa XI, Nội các Chính phủvừa được bổ sung thêm một phó thủ tướng đặc trách chống tham nhũng, một cơ quan chuyên trách vềchống tham nhũng sắp ra đời Những hành động quyết liệt của các lãnh đạo cấp cao nhất vừa qua đã thểhiện rõ quyết tâm của Đảng, của Chính phủ trong việc chống tham nhũng Trong chương trình nghị sựhàng tháng của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, vấn đề chống tham nhũng lại được đề cập và xem xét, thảoluận một cách quyết liệt hơn

Tuy nhiên, việc ra đời các đạo luật mới chỉ là điều kiện cần, các hành động của Đảng và Chính phủ mớimang tính chất hô hào, xem xét ở mặt bề nổi của quốc nạn tham nhũng Để chống tham nhũng có hiệu quả

và kết quả thực sự, phải tìm được căn nguyên của tình trạng tham nhũng để ngăn ngừa tận gốc, sửa sainhững lỗi có tính hệ thống; cần thực thi một cách công minh các đạo luật và quan trọng là cần huy động lựclượng toàn xã hội vào đối phó với “giặc nội xâm5” này

Trước hết, thủ tục hành chính trên hầu hết các lĩnh vực đều đã được rà soát, sửa đổi, ban hành mới theo

hướng đơn giản hoá, thuận tiện cho người dân Đặc biệt, thủ tục hành chính trên những lĩnh vực bức xúc,liên quan trực tiếp đến người dân và DN như đất đai, xây dựng, hộ khẩu, hộ tịch, đầu tư, đăng ký kinhdoanh, hải quan, thuế, kho bạc, xuất nhập khẩu đã được rà soát nhiều lần, hướng tới thực hiện cơ chế

“một cửa” Kết quả rõ nhất của hoạt động này là đã công khai hoá, minh bạch hóa các quy định về thủ tụchành chính, giảm phiền hà, giảm đáng kể thời gian chờ đợi cho người dân và trách nhiệm của cán bộ, côngchức được nâng cao Điều này góp phần đổi mới cơ bản mối quan hệ giữa cơ quan hành chính và người dântheo hướng phục vụ, bước đầu tạo lập niềm tin của người dân và DN vào hoạt động phục vụ của các cơquan công quyền

Nhờ đó, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể Theo đánh giá trong báocáo “Doing Business in 2006” của WB (tháng 6/2005) về môi trường kinh doanh, Việt Nam được xếpthứ 3 trong 12 nước cải cách nhanh nhất trong năm 2005 Trong số việc đăng ký quyền sở hữu tài sản vàgiải quyết giấy phép tại Việt Nam được đánh giá là tương đối thuận lợi, xếp hạng 39/155 và 18/155 ViệtNam đứng thứ hạng 99/155 về mức độ dễ dàng trong hoạt động kinh doanh, cao hơn Philípin (113),Indonexia (115) Các biện pháp nhằm bảo vệ đầu tư nước ngoài Việt Nam được đánh giá ngang bằng

Trang 37

như Hồng Công, Inđônêxia, Hàn Quốc, Malaixia, Thái Lan và Philippin Việt Nam đã áp dụng việc xácminh điện tử, cắt ngắn thời gian đăng ký kinh doanh được 1 tuần lễ; đã thông qua Luật về Phá sản; rútngắn quá trình thực thi hợp đồng qua việc giới hạn thời lượng mà tòa án phân xử Tuy nhiên, khả năngthành lập doanh nghiệp, thuê và sa thải công nhân, tiếp cận nguồn tín dụng, bảo vệ các nhà đầu tư, nộpthuế, hiệu lực thực thi hợp đồng và giải thể doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn rất khó khăn.

Thứ hai, về phân cấp quản lý Phân cấp là một hoạt động trọng tâm của cải cách tổ chức bộ máy hành

chính nhà nước Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương trên khá nhiều lĩnh vực đã được thựchiện; các tỉnh, thành phố cũng thực hiện tiếp việc phân cấp cho cấp huyện, xã Bước đầu phân biệt hoạtđộng của cơ quan hành chính nhà nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công Đồng thờicũng đã tiến hành sắp xếp tổ chức bộ máy hành chính gọn hơn, hoạt động hiệu quả hơn, chẳng hạn, trongthời gian qua, tổng số các Bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ từ 48 đã rút xuống còn39…

Thứ ba, cải cách hành chính công Hoạt động cải cách tài chính công cũng đã có bước đổi mới quan

trọng trong phân cấp ngân sách; quản lý và điều hành ngân sách; trong thực hiện Quy chế công khai tàichính Đặc biệt, cơ chế tài chính cho các loại hình tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước đã bước đầuđược đổi mới với những kết quả tích cực Ví dụ như trong triển khai cơ chế khoán biên chế, kinh phí quản

lý hành chính và cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu

2.2.2 Những mặt còn tồn tại

Nhưng bên cạnh không ít thành tựu, CCHC vẫn đang là một cuộc cách mạng đầy gian nan Cụ thể, tốc

độ CCHC hiện còn chậm so với cải cách kinh tế, chưa nhất quán, hiệu quả còn thấp so với mục tiêu đặt ra

là đến năm 2010 xây dựng được một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiệnđại So với tốc độ CCHC của các nền hành chính hiện đại, nền hành chính của nước ta còn tụt hậu và cónguy cơ tụt hậu xa hơn nữa

Tính chất dân chủ của nền hành chính nước ta thông qua một loạt chủ trương, biện pháp đã bước đầuđược khẳng định, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp Tệ cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn là vấnnạn Tính công khai, minh bạch của nền tài chính còn nhiều thách thức Một bộ phận cán bộ, công chứcsuy giảm lý tưởng, lối sống, vi phạm đạo đức công vụ gây bất bình trong nhân dân Bên cạnh đó, mức độchuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng hành chính của cán bộ, công chức còn thấp Trình độ hiểu biết

và kỹ năng của một số cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu của một nền hành chính hiện đại…

Hệ thống giấy phép đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động doanh nghiệp của ta còn quá “phongphú” Theo Ban nghiên cứu của Thủ tướng, hiện có tới 300 loại giấy phép và điều kiện kinh doanh, quản

lý hoạt động của doanh nghiệp Trong số 300 giấy phép các loại, ngành văn hóa thông tin đứng đầu bảng

với 41 giấy phép; ngành nông nghiệp - phát triển nông thôn: 37 giấy; ngân hàng: 34 giấy; tài chính: 24

Trang 38

giấy; giao thông vận tải: 23 giấy; Bộ Công nghiệp: 5 giấy và Bộ Giáo dục Đào tạo chỉ 1 giấy phép Đặcbiệt, từ năm 2003 đến nay, số lượng giấy phép tăng nhanh với quy mô đáng kể Bình quân, mỗi tuần cómột giấy phép ra đời Các loại giấy phép này tồn tại dưới các dạng chứng chỉ hành nghề, giấy chứngnhận đạt tiêu chuẩn, giấy chứng nhận đăng ký, giấy phép, văn bản chấp thuận, thẻ, chưa kể đến hình thứcdưới dạng điều kiện kinh doanh Có thể nói, đây chính là một trong những điều bất cập lớn còn tồn tại,đang đi ngược lại tiến trình CCHC, là kẽ hở cho những người có chức có quyền lợi dụng để tham nhũng,

“hành” dân để họ được hưởng những quyền lợi đã được thừa nhận của mình, để được phép kinh doanh,đầu tư làm giàu cho đất nước

2.2.3 Tìm hiểu nguyên nhân của tình trạng tham nhũng

Bắt nguồn từ nhận xét trên đã đề cập “có lẽ gần hết hệ thống công chức Việt Nam đều mắc tội thamnhũng” để ta xem xét nguyên nhân tại sao ở Việt Nam tình trạng tham nhũng lại phổ biến, người mắc tộitham nhũng lại nhiều đến vậy?

Ở các nước, khi mức lương cơ bản của công chức nói chung đã đáp ứng đủ những nhu cầu bình thườngthì tham nhũng chủ yếu là để nói về những quan chức muốn làm giàu bất chính Còn ở Việt Nam, một khiđồng lương trên giấy tờ không đủ để chi trả những nhu cầu thiết yếu và nguồn thu nhập ngoài lương caohơn nhiều lần so với “cái gọi là lương” thì cần phân biệt công chức tham nhũng thành hai loại

- Loại thứ nhất là tham nhũng tệ hại cần lên án (làm không tốt, chỉ tìm cách bòn rút của công, gây khó

dễ cho doanh nghiệp và người dân để họ phải cung phụng mình)

- Loại thứ hai là tham nhũng để tồn tại hoặc làm tốt nhưng cơ chế đãi ngộ bất hợp lý nên tìm cách chếbiến để có thu nhập

Cần phân biệt rõ 2 loại này để có biện pháp chống tham nhũng hiệu quả, nếu quy tất cả vào một cái rồigọi là tham nhũng và thực hiện cùng các biện pháp phòng, chống tham nhũng thì vô hình trung sẽ phảichống gần như cả hệ thống công chức Rõ ràng như vậy là không thực tế, không xác đáng, dẫn đến hậu quảhoặc làm quá cực đoan, mà không thu được kết quả hoặc công cuộc chống tham nhũng chì còn là hô hào,trên giấy tờ, trong các hội nghị

Hiện nay có rất nhiều ý kiến đề xuất để công chức không còn buộc phải tham nhũng để tồn tại, như

đề xuất giảm hơn nửa công chức, làm lành mạnh bộ máy, xã hội hóa các lĩnh vực mà Nhà nước khôngnhất thiết phải làm để có tiền trả lương cho những người thực sự cần cho bộ máy hành chính6, tuy nhiênvẫn còn nhiều điều nan giải trong mỗi đề xuất, như sẽ nảy sinh "tác dụng phụ" đó là tình trạng "ngườitài, người tốt ra đi"…

Thứ nữa, nguyên nhân tham nhũng của Việt Nam xuất phát từ việc những văn bản luật của ta chưa chặt

chẽ, chưa sát với thực tế, chưa có tính thực thi cao, vẫn tồn tại những kẽ hở khiến người dân bắt buộc phải

Trang 39

"lách", còn cơ quan quản lý thì có cớ để "hành" Những biện pháp trừng phạt hành động tham nhũng chưanghiêm khắc, thực hiện chưa nghiêm minh, chưa có tính răn đe, giáo dục cao

Phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến còn nhiều gian nan, đòi hỏi một chiến lược tổng hợp, một sựphối hợp đồng bộ, sự kiên quyết và quyết tâm của Đảng, Chính phủ và của toàn dân trên khắp mọi mặttrận, kinh tế, văn hóa, chính trị, tư tưởng, giáo dục Quá trình này còn là quá trình lâu dài và đòi hỏi sự bền

bỉ Những động thái tích cực trong phòng, chống tham nhũng của Việt Nam mới đây từ các cán bộ lãnh đạocấp cao đã kêu gọi được sự quan tâm và tâm huyết của nhân dân trong công cuộc này Việt Nam có thể hyvọng tương lai không xa sẽ thu được những kết quả khích lệ trong công tác phòng và chống tham nhũngcủa mình

IV TĂNG TRƯỞNG GẮN VỚI PHÚC LỢI XÃ HỘI, CÔNG BẰNG XÃ HỘI, XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1 Phúc lợi xã hội

Chỉ số HDI (Human Development Index - HDI) do Chương trình phát triển của Liên hợp quốc đềxướng năm 1990, là một thước đo tổng hợp thành tựu trung bình của mỗi cộng đồng về ba phương diện:sức khoẻ, tri thức và thu nhập Mức độ sống lâu và khoẻ mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúcsinh Trình độ tri thức, được đo bằng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học của các cấp giáo dục tiểuhọc, trung học và đại học Mức độ đầy đủ vật chất được đo bằng GDP thực tế bình quân đầu người theosức mua tương đương tính bằng Đôla Mỹ (PPP-USD)

Các tiêu chí đánh giá chỉ số HDI có giá trị từ 0 đến 1, cụ thể là:

- Chỉ số giáo dục:

+ Bằng 0: Khi có 0% số người lớn (trên 15 tuổi) biết đọc biết viết

+ Bằng 1: Khi có 100% số người lớn (trên 15 tuổi) biết đọc, biết viết

- Chỉ số tuổi thọ:

+ Bằng 0: Khi tuổi thọ bình quân chỉ đạt 25 tuổi

+ Bằng 1: Khi tuổi thọ bình quân là 85 tuổi

- Chỉ số kinh tế:

+ Bằng 0: Khi GDP bình quân đầu người tính theo PPP chỉ đạt 100 USD

+ Bằng 1: Khi GDP bình quân đầu người tính theo PPP đạt 40.000 USD

Ở Việt Nam, từ Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đảng ta đã đưa chỉ số HDI thành chỉ tiêu quốc gia và

Trang 40

ghi rõ một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 là:

“Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta” Chiến lược phát triển dân số 2001-2010của Chính phủ cũng đề ra mục tiêu đến năm 2010 phấn đấu đưa chỉ số phát triển con người nước ta lên mức

từ 0,700 đến 0,750

Chỉ số HDI được coi là một trong những chỉ tiêu thống kê đặc biệt quan trọng được dùng để đánh giámột cách toàn diện và có thể so sánh một cách chi tiết trình độ phát triển giữa các khu vực, các vùng, cácquốc gia Chính vì vậy, trong nội dung nghiên cứu về phúc lợi xã hội, nghiên cứu này tập trung phân tích

về chỉ số HDI và các giá trị cấu thành của chỉ số này tại Việt Nam

1.1 Những thành công về phát triển con người của Việt Nam

Theo Báo cáo phát triển con người toàn cầu do UNDP công bố từ năm 2001 đến 2005, giá trị và thứhạng HDI của nước ta như sau:

Bảng 13: Bảng giá trị HDI của Việt Nam

đã tăng lên được 0,022 (tức 2,2%), bình quân mỗi năm tăng 0,0044 (tức 0,44%), trong đó chỉ số kinh tếtăng 0,047 điểm (tức 4,7%), chỉ số tuổi thọ tăng 4,8% và chỉ số giáo dục giảm 2,9% Chỉ số HDI tăng lên là

do chỉ số tuổi thọ và chỉ số kinh tế tăng

Về chỉ số kinh tế: Nhờ những nỗ lực trong công cuộc cải cách kinh tế mà giá trị GDP bình quân đầu

người tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương của Việt Nam đã tăng liên tục qua các năm: Năm

1999 đạt 1.860 USD, tương ứng với chỉ số kinh tế là 0,49; năm 2000 tăng lên 1.996 USD, tương ứng vớimức tăng chỉ số 0,01 (tức 1%) so với năm 1999; năm 2001 là 2.100 USD, chỉ số kinh tế đạt 0,51, tăng 1%

so với năm 2000; năm 2002 đạt 2.300 USD và chỉ số kinh tế đạt 0,52, cũng tăng 1% so với năm 2001 và

Ngày đăng: 21/12/2012, 16:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999 - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 2 Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999 (Trang 11)
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế (Trang 11)
Bảng 3: Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 3 Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam (Trang 15)
Bảng 4: Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 4 Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào (Trang 16)
Bảng 6: Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 6 Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh (Trang 20)
Bảng 5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng  của Việt Nam - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 5 Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam (Trang 20)
Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 7 Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người (Trang 21)
Bảng 8: Tỷ lệ hộ nông thôn không có đất - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 8 Tỷ lệ hộ nông thôn không có đất (Trang 22)
Bảng 9: Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 - 2004) - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 9 Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 - 2004) (Trang 23)
Bảng 10: Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 10 Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ (Trang 26)
Bảng 12: Điểm số CPI của Việt Nam qua các năm - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 12 Điểm số CPI của Việt Nam qua các năm (Trang 35)
Bảng 13: Bảng giá trị HDI của Việt Nam - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 13 Bảng giá trị HDI của Việt Nam (Trang 40)
Bảng 14: Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 14 Số liệu so sánh chi tiêu cho giáo dục (Trang 42)
Bảng 16: Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 16 Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm (Trang 48)
Bảng 17: Vai trò của TFP trong tăng trưởng của Thái Lan - Chất lượng tăng trưởng của VN và Một số nước Đông Á
Bảng 17 Vai trò của TFP trong tăng trưởng của Thái Lan (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w