1. Trang chủ
  2. » Tất cả

V n d nhan cach trong tam lu h chua xac dinh

16 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề Nhân Cách Trong Tâm Lý Học Chưa Xác Định
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 145,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

V?N Ð? NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ H?C PHUONG TÂY VẤN ĐỀ NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ HỌC PHƯƠNG TÂY A Vấn đề nhân cách trong Tâm lý học thế giới và Tâm lý học phương tây Sự phát triển và hoàn thiện nhân cách co[.]

Trang 1

VẤN ĐỀ NHÂN CÁCH TRONG TÂM LÝ HỌC PHƯƠNG TÂY

A Vấn đề nhân cách trong Tâm lý học thế giới và Tâm lý học phương tây

Sự phát triển và hoàn thiện nhân cách con người đang trở thành trung tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay, nhân tố con người trở lên cấp bách thì sự hiểu biết về vấn đề nhân cách là tiền đề của việc đầu tư có hiệu quả vào sự phát triển con người - yếu tố quyết định mọi sự phát triển trong xã hội

Trong Tâm lý học vấn đề nhân cách là một vấn đề quan trọng bậc nhất và nghiên cứu gặp nhiều khó khăn nhất vì những lý do, thứ nhất là việc nghiên cứu đụng chạm đến những quan tâm chính trị của xã hội Vì vậy, nhiều lý thuyết được tạo ra tuỳ thuộc vào sự định hướng của các tác giả mà mang tính chất duy tâm hay duy vật Thứ hai là nhân cách là một cấu tạo rất phức tạp, vì vậy các hướng tiếp cận nghiên cứu nhân cách rất đa dạng dựa trên những quan điểm, quan niệm về nhân cách khác nhau Ngay từ năm 1949, G.Allport

đã dẫn ra 50 định nghĩa khác nhau về nhân cách Ngày nay đã có tới hàng trăm định nghĩa

Trong Tâm lý học Xô viết có một khối lượng lớn các lý thuyết nghiên cứu về nhân cách có thể chia thành 4 nhóm sau:

- Hướng tiếp cận đối với nhân cách từ góc độ cơ cấu bên trong của nó có các quan niệm của các nhà tâm lý học như A.G Côvaliốp, K.K.Platônốp,V.M.Blâykhe, L.Ph Burơchúc Nhiều nhà nghiên cứu

về nhân cách cho rằng nhân cách là một hệ thống có cấu trúc phức tạp, bao gồm 4 bộ phận: xu hướng, những khả năng, phong cách hành vi và hệ thống điều khiển của nhân cách

Nghiên cứu vấn đề thái độ của con người trong cấu trúc nhân cách V.V.N Miaxisép và các cộng sự của ông cho rằng: các quan hệ ( thái độ) qui định tính nhiều mặt và sự phong phú của nhân cách

Sự thể hiện cơ động của nhân cách được qui định không chỉ bởi đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao, mà còn bởi những mối quan

hệ ( thái độ) nảy sinh trong quá trình sống của con người

- Nhóm nghiên cứu của L.I Bôgiôvit, nghiên cứu sự hình thành nhân cách, cho rằng vai trò chủ đạo trong cấu trúc nhân cách thuộc

về hệ thống các nhu cầu và ý hướng của chủ thể Những cái đó quyết định hành vi của con người, bộ mặt tâm lý cá nhân và đặc

Trang 2

điểm lứa tuổi của nó Sự hài hoà giữa yêu cầu của môi trường với thái độ của chủ thể đối với những yêu cầu đó có ý nghĩa quyết định trong sự hình thành nhân cách

- BM, Chéplốp trong lý thuyết về năng lực cho rằng năng lực là phẩm chất của nhân cách Sự phát triển năng lực ở một chừng mực nhất định thuộc vào tư chất - tiền đề tự nhiên về mặt giải phẫu - sinh

lý của hệ thần kinh Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của sự khác biệt

về đặc điểm chất lượng trong cấu trúc của năng lực, tức là tính đặc thù cá biệt ở mỗi người

- Trường phái tâm lý học Grudia đứng đầu là D.N.Udơnatde lập thành một phương hướng đặc biệt trong lý thuyết về nhân cách: đó

là vấn đề tâm thế Họ cho rằng tâm lý học trước hết phải nghiên cứu chủ thể, nhân cách, trong đó khái niệm tâm thế giữ vị trí trung tâm Tâm thế cũng giống như những hiện tượng tâm lý khác, nó là trạng thái chung của nhân cách Tâm thế biểu hiện mối quan hệ tích cực của chủ thể đối với thực tại bằng sự thể hiện hành động thoả mãn nhu cầu Bản chất của nhân cách được biểu hiện ra trong các loại tâm thế

Tuy hiện nay có nhiều quan điểm và quan niệm khác nhau về nhân cách trong Tâm lý học Xô viết nhưng những nguyên tắc cơ bản, những lập trường xuất phát của các nhà nghiên cứu đều thống nhất trên quan điểm quyết định luận duy vật biện chứng: coi nhân cách là một phạm trù xã hội và có mối liên hệ với các đặc điểm tự nhiên của con người, là một chủ thể có ý thức mang đặc điểm tâm lý tổng hoà các mối quan hệ xã hội trong đó nó sống và hoạt động

ở Việt nam các công trình nghiên cứu về nhân cách đều thống nhất trên quan điểm quyết định luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Khái niệm nhân cách được xem là toàn bộ những đặc điểm phẩm chất tâm lý của cá nhân, qui định giá trị xã hội và hành vi của

họ Nhân cách được phân tích trên 3 bình diện thống nhất với nhau:

- Nhân cách được xem xét từ bên trong cá nhân như là một đại diện của toàn xã hội, giá trị của nhân cách thể hiện ở tính tích cực của nó trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh và hạn chế của bản thân

- Nhân cách được thể hiện trong các mối quan hệ và liên hệ mà nó gia nhập vào đó Giá trị của nhân cách được xem xét trong các hành

vi, cử chỉ xã hội của nó

Trang 3

- Nhân cách là một chủ thể đang thực hiện tích cực chủ tâm hay không có chủ tâm những biến đổi trong những người khác bằng hoạt động của mình Giá trị của nhân cách được xem xét ở những hành động gây ra những biến đổi ở những nhân cách khác

Về cấu trúc nhân cách theo quan niệm của Việt nam các tác giả đưa ra 2 bộ phận thống nhất với nhau là đức và tài, hay phẩm chất

và năng lực dưới sự chỉ đạo của ý thức bản ngã ( cái tôi)

Phẩm chất nhân cách bao gồm những yếu tố sau;

- Phẩm chất xã hội: thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường thái độ chính trị, thái độ lao động

- Phẩm chất cá nhân: các tính nết

- Phẩm chất ý chí; tính kỷ luật, tự chủ, tính mục đích

- Cung cách ứng xử: tác phong, lễ tiết, tính khí

Năng lực bao gồm những yếu tố sau:

- Năng lực xã hội hoá: khả năng thích ứng sáng tạo, linh hoạt trong toàn bộ cuộc sống xã hội

- Năng lực chủ thể hoá: khả năng biểu hiện tính độc đáo, cái bản lĩnh của cá nhân

- Năng lực hành động; kỹ năng hành động có mục đích, điều khiển chủ động, tích cực

- Năng lực giao lưu: kỹ năng thiết lập và duy trì quan hệ với người khác

Vấn đề nghiên cứu nhân cách ở Việt nam đang được đặt ra cấp bách vì nó có ý nghĩa khoa học và thực tiễn thực sự đối với việc xây dựng, đào tạo con người để tạo nguồn năng lực tương xứng với đòi hỏi của công cuộc đổi mới của đất nước Các nhà nghiên cứu đang

cố gắng đưa ra các căn cứ khoa học một cách đầy đủ hơn, có hệ thống hơn về cấu tạo và bản chất tâm lý của nhân cách con người Việt nam

ở phương Tây vấn đề nhân cách được nghiên cứu khá sớm Từ năm 1900 W Stern đã đưa ra khái niệm " Person" để chỉ bất cứ thực thể nào có khả năng tự xác định và tự phát triển kể cả trong thế giới vô cơ lẫn hữu cơ ở trình độ con người thì những " Person" này có được những thuộc tính của nhân cách Lý thuyết của W.Stern về nhân cách là duy tâm vì ông đã đưa tất cả các loại " Person" vào thuộc tính của nhân cách

Trong tâm lý học phương Tây hiện đại đang tồn tại nhiều quan

Trang 4

niệm rất đa dạng, thường mâu thuẫn đối lập nhau về nhân cách Các quan niệm đó có thể chia thành 2 nhóm Nhóm theo quan niệm sinh vật và nhóm theo quan niệm xã hội

Các lý thuyết về nhân cách như Phân tâm học, thuyết siêu đẳng

và bù trừ của A Adler, thuyết Lo lắng của K.Horney, thuyết phát huy bản ngã của A Maslow, thuyết Đặc trưngcủa G Allport, thuyết nhu cầu tâm lý của H Murray, thuyết tương tác xã hội của G Mead, thuyết Liên cá nhân của R Sears, thuyết cái tôi của C Rogers, thuyết Trường tâm lý của K.Lewin, thuyết chạy trốn tự do của E Fromm Trừ thuyết phân tâm học của S.Freud là thuyết theo quan niệm sinh vật, các lý thuyết khác đầu có xu hướng ngày càng nhấn mạnh đến yếu tố nhân văn, xã hội của con người

Sự phong phú của các lý thuyết về nhân cách trên đây chứng tỏ rằng tồn tại nhiều lập trường khác nhau về nhân cách và mỗi lý thuyết có sự phiến diện nhất định Các lý thuyết chưa thống nhất được các luận điểm cơ bản , có luận chứng đầy đủ về cấu tạo và bản chất tâm lý của nhân cách

Việc nghiên cứu vấn đề nhân cách trong Tâm lý học phương Tây hiện nay là rất cần thiết Trên cơ sở phê phán, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của các lý thuyết đó làm tăng thêm hiểu biết về lý luận và tiếp thu có chọn lọc những nhân tố hợp lý trong việc ứng dụng vấn đề nhân cách

B Các lý thuyết về nhân cách

1 Lý thuyết về nhân cách của Sigmund Freud ( 1856 - 1939 )

Trong trào lưu chống lại tâm lý học duy tâm chủ quan vào đầu thế kỷ 20 xuất hiện một dòng tâm lý học với cương lĩnh xây dựng một nền tâm lý học khách quan Đó là lý thuyết phân tâm do S Freud bác sĩ tâm thần ở áo xây dựng nên Lý thuyết này có ảnh hưởng rộng lớn nhất trong số những thuyết theo quan niệm sinh vật, đồng thời cũng là thuyết bị phê phán nhiều nhất hiện nay

Lý thuyết về nhân cách của S Freud gồm 3 mặt:

- Cấu tạo của nhân cách

- Sự phát triển của nhân cách

- Tính động lực của nhân cách

a Cấu tạo nhân cách gồm 3 phần

- Nguyên ngã ( Id ): cái tôi bản ngã

- Thức ngã ( Ego): cái tôi ý thức

Trang 5

- Thiện ngã ( Super Ego): cái tôi siêu thức

Nguyên ngã là một phần trong nhân cách bao gồm các động cơ, phản ứng bản năng để thoả mãn động cơ Những động cơ này được gọi chung là Libido ( dục năng) Nguyên ngã là cái tự nó vốn

có, tự nó có nguồn năng lượng đảm bảo cho toàn bộ thế giới tinh thần Nguyên ngã tồn tại theo nguyên tắc thoả mãn

Thức ngã bao gồm những suy nghĩ, ý thức của con người về các qui định của các qui luật cuộc sống và các mối quan hệ thường ngày, cách thức ứng xử đã tập luyện được trong cuộc sống bằng kinh nghiệm Nó kìm hãm việc thoả mãn các động cơ của thức ngã hoặc hướng dẫn các động cơ đó biểu hiện ở những hình thức được

xã hội chấp nhận, giúp con người thích nghi với hoàn cảnh thực tế của đời sống.Thức ngã tồn tại theo nguyên tắc thực tiễn

Thiện ngã là những cái siêu phàm, những cái mà con người thật không bao giờ vươn tới được, những cái như là lương tâm, các lý tưởng Nó gồm những sự kiềm chế thu được trong quá trình phát triển nhân cách về các hoạt động của nguyên ngã và thức ngã Thiên ngã ngăn cấm thức ngã không làm những điều trái để thảo mãn các động cơ của nguyên ngã Nó thúc đẩy cá nhân tiến đến lý tưởng mà thức ngã thu được trong quá trình sống

Thiên ngã và thức ngã thường ngăn chặn dục ngã ( libido) Khi bị ngăn chặn dục ngã có thể tìm những biểu lộ được thức ngã và thiện ngã chấp nhận

Sự lo lắng ( Anxiety) xảy ra là do nguyên ngã thường hay xung đột với thức ngã và thiện ngã Những phương pháp mà cá nhân tiêu trừ

sự lo lắng gọi là cơ chế tự vệ ( Defense mechamism)

b Sự phát triển của nhân cách:

Từ lúc sơ sinh đến tuổi trưởng thành nhân cách phát triển qua 4 giai đoạn Các giai đoạn này bao chùm lên nhau không có ranh giới

rõ rệt Ba giai đoạn đầu ( giai đoạn miệng, giai đoạn hậu môn, giai đoạn dương vật) là các giai đoạn tiền sinh dục Giai đoạn thứ tư là giai đoạn sinh dục, bắt đầu ở tuổi dậy thì ở một trong ba giai đoạn đầu nếu gặp phải quá nhiều sự thất vọng gay gắt, bất ổn trong tinh thần sẽ trở thành " cố định hoá" ( Fĩation), lúc trưởng thành sẽ có nhũng hội chứng nhân cách

Trong ba giai đoạn đầu cá nhân chú trọng hướng vào bản thân mình ở giai đoạn sinh dục cá nhân bắt đầu chú ý đến người xung

Trang 6

quanh, để tâm đầy đủ đến các vai trò xã hội và ham thích tình dục với người khác giới

c Tính động lực của nhân cách:

Phân tâm học cho rằng những tư tưởng và hành vi của cá nhân là

do những động cơ là những bản năng và những thúc đẩy của nguyên ngã muốn biểu lộ ra bên ngoài Động cơ có thể bị dồn nén

do không biểu lộ được trực tiếp và bị chèn ép, kiểm soát của thức ngã, thiện ngã, hoặc có thể biểu lộ dưới các hình thức cải biến, nguỵ trang như những hành vi sơ xuất, giấc mơ, sự lãng quên Động cơ của nguyên ngã tồn tại mà cá nhân ít biết đến nên được gọi là động cơ tiềm thức Hoạt động của động cơ tiềm thức là động lực của nhân cách

Phân tâm học được đánh giá ở các cấp độ khác nhau: y học, Tâm lý học, Triết học

Đối với y học ( cụ thể là tâm thần học) thì học thuyết này có giá trị

là đã đưa ra một phương pháp trị liệu tâm lý mới ( liệu pháp tâm lý phân tích - analitical Psychotherapy) Chỉ ra một số nguyên nhân của bệnh tâm căn xuất phát từ vô thức Những sai lầm của phân tâm học thể hiện trong lý thuyết về các bệnh tâm căn Lý thuyết này cho rằng nguyên nhân về các bệnh tâm căn là do " những mặc cảm tình dục ấu thơ"

Đối với Tâm lý học Phân tâm học đặt ra một loạt các vấn đề Tâm

lý học quan trọng như vô thức, động cơ bị che dấu của hành vi người bệnh, thu hút sự chú ý vào tầm quan trọng của yếu tố vô thức trong đời sống cá nhân Các khái niệm của phân tâm học được sử dụng phổ biến trong tâm lý học hiện đại

Hạn chế của Phân tâm học thể hiện ở cơ sở phương pháp luận : coi cái tôi vô thức là yếu tố quan trọng nhất của toàn bộ nhân cách xem đối tượng của tâm lý học là vô thức, Phân tâm học đã sinh vật hoá con người và xem nhẹ vai trò của ý thức và điều kiện xã hội trong sự phát triển nhân cách

Đối với triết học, phân tâm học là một triết thuyết phản khoa học

và phản động đã phủ nhận vai trò của nhân tố xã hội trong ý thức, biện hộ cho các giai cấp thống tị của xã hội tư bản trong các hành vi phạm tội và làm sa đoạ tầng lớp thanh niên trong sự tuyên truyền,

cổ động cho cuộc " cách mạng tình dục"

Trang 7

2 Thuyết siêu đẳng và bù trừ của Alfred Adler ( 1870 - 1937 )

A Adler là một nhà tâm lý học người áo, một môn đệ của S.Freud

Lý thuyết của ông chú trọng đến vấn đề nhu cầu hay động cơ thúc đẩy cá nhân dành địa vị siêu đẳng hơn người khác Theo ông các đam mê sinh dục, nhận thức về sự thiếu hụt và sự phải bù trừ những khuyết tật chiếm vị trí trung tâm trong sự phát triển nhân cách

Nhận thức về sựu thiếu hụt có thể do nguyên nhân cơ thể như sự không hoàn thiện về mặt thể chất, hình thái, do khó khăn trong giao tiếp ngoài xã hội Nhận thức này là động cơ thúc đẩy nên cá nhân luôn có khát vọng vượt qua bằng hình thức muốn dành ưu thế - địa

vị siêu đẳng, muốn làm chủ môi trường xung quanh

Theo A.Adler sự " mặc cảm tự ti" nảy sinh khi cá nhân nhận thấy

sự thua kém của bản thân cố gắng vượt qua những nhược điểm, nhưng nhiều lần bị thất bại hoặc quá chú ý đến sự kém cỏi củabản thân Trong lý thuyết này khái niệm " bù trừ" dùng để chỉ những khát vọng, muốn hoàn thiện Khát vọng giành lấy địa vị siêu đẳng trong một lĩnh vực khác chính là sự bù trừ thừa mức mà cá nhân trở nên siêu việt hơn người về chính các phương diện mà nguyên nhân là các nhược điểm của họ

A Adler đối lập với S Freud trong quan niệm về yếu tố xã hội trong sự phát triển nhân cách Ông cho rằng nhân cách không chống đối xã hội Nhân cách như là phong cách sống Sự hình thành phong cách sống phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình, trước tiên là người mẹ và phụ thuộc vào môi trường xã hội mà nó đang sống ông chia cuộc sống của cá nhân thành 3 lĩnh vực cơ bản: Hoạt động nghệ nghiệp, quan hệ xã hội với người khác, tình yêu và hôn nhân Nhân cách bình thường được thể hiện trong việc thực hiện 3 lĩnh vực trên, còn cá nhân không có khả năng hoà nhập xã hội và thực hiện được 3 vấn đề quan trọng đó thì sẽ có biểu hiện hành vi lệch lạc trong quá trình phát triển Nhân cách bệnh lý có đặc điểm là sự nhận biết về những thiếu hụt được tăng cường, các hứng thú xã hội kém phát triển và mục đích vươn tới sự ưu thế được hoạt hoá hơn mức bình thường đối với trẻ em, có 3 nhóm điều kiện gây ra cảm giác thiếu hụt

- Thiếu hụt về thể chất

- Giáo dục không đúng tạo ra những đứa trẻ không nhận thấy giá

Trang 8

trị bản thân

- Giáo dục không đúng tạo ra những đứa trẻ luôn có quan hệ thù địch với mọi người

Theo A.Adler: sự khuyết tật không tiền địch số phận phát triển của

cá nhân và có thể bù trừ trong quá trình giáo dục

Mặc dù A.Adler tiếp nhận các quan điểm của Phân tâm học trong

lý thuyết của mình, cho rằng cái vô thức bẩm sinh là động lực của hành vi nhưng ông là người đầu tiên có xu hướng xã hội hoá trong Phân tâm học đã khẳng định vai trò của yếu tố xã hội trong sự phát triển nhân cách

Sự đóng góp của A Adler cho Tâm lý học chính là phát hiện ra hiện tượng bù trừ trong đời sống tâm lý con người: cảm giác về sự yếu kém của mình và nguyện vọng muốn bù trừ và bù trừ thừa mức Mặt hạn chế của A.Adler thể hiện ở sự đánh giá thấp vai trò quyết định quan trọng của yếu tố xã hội đối với nguyện vọng phương hướng của sự bù trừ, quan niệm nhân chủng hoá về bản tính xã hội của con người, cá thể hoá và tâm lý hoá nguyện vọng của cá nhân muốn hoàn thiện khắc phục những thiếu sót, yếu kém của mình

3 Thuyết lo lắng của Karen Horney ( 1885 - 1952)

K Horney là nhà tâm lý học người Mỹ trong học thuyết của mình

đã chú trọng đến vấn đề sự lo lắng cơ bản Bà cho rằng sự lo lắng phát sinh là do những ảnh hưởng xã hội lịch sử trong sự phát triển của đứa trẻ chứ không phải do sự xung đột giữa các động cơ sinh lý với thức ngã và thiện ngã

Sự lo lắng của đứa trẻ nảy sinh trong hoàn cảnh làm nó sợ hãi ( cha mẹ xung đột, trẻ bị đối xử lãnh đạm, thờ ơ ) Những cách thức đối phó với sự lo lắng được trẻ tập được trong hoàn cảnh sống trở thành những nhu cầu ưu uất ( Neurotic needs ) Nhu cầu này do học tập, do kinh nghiệm mà có và có nhiều loại tuỳ theo đứa trẻ cần cái

gì để trấn áp sự lo lắng ( ví dụ nhu cầu về tình thương, sự khuyến khích để đối phó với hoàn cảnh lo lắng của trẻ )

K Horney đã thử lập một bảng liệt kê gồm gần 10 nhu cầu như: nhu cầu thương yêu, lệ thuộc, quyền lực, uy thế, thành đạt

Trong lý thuyết của mình bà đề cập nhiều tới vấn đề xung đột và cho rằng quan trọng nhất là xung đột giữa bản thân các nhu cầu ( ví dụ: vừa cần có người nương tựa đồng thời lại muốn tự túc, độc lập)

Trang 9

Việc giải quyết xung đột của các nhu cầu sẽ quyết định thuộc tính tâm lý cá thể và quyết định cá thể là người bình thường hay bệnh thần kinh

Theo K Horney tính gây hấn, tính thù địch với người khác, nguyện vọng an ninh như là những phản ứng tự vệ có tính chất tâm bệnh của những cá nhân đang cảm thấy mình bị đe doạ, đang bị lừa dối, chịu nhục

Bà khẳng định chính mối quan hệ xã hội tư bản chủ nghĩa là nguồn gốc thường xuyên của mối đe doạ, đã sinh ra các kiểu nhân cách tâm bệnh đặc biệt trên Bà đã phân tích một vài đặc điểm của

xã hội tư bản như cạnh tranh và thấy chúng không chỉ là động lực phát triển kinh tế mà còn xuyên suốt cuộc sống riêng của từng người trong xã hội Các mối quan hệ con người trong xã hội tư bản đều mang tính cạnh tranh Mọi người thường so sánh mình nói với người khác để vươn tới Quá trình sống đã tạo ra cảm xúc sợ hãi nặng nề trước những thất bại có thể xảy ra Sự bất an được nảy sinh từ hoàn cảnh của cuộc sống của từng cá thể

K.Horney đã có những đóng góp vào lý luận chung về nhân cách bằng việc vạch ra tính quy định xã hội - lịch sử của các hình thức bệnh tâm căn Tuy vậy, lý thuyết của bà cũng có những hạn chế nhất định Bà đã không đề ra các con đường để biến đổi cơ bản cái

xã hội mà bà phê phán, những nhân tố xã hội của sự hình thành nhân cách lành mạnh về mặt tâm lý, không giải thích được sự tồn tại của một kiểu nhân cách độc lập, dũng cảm dám xoá bỏ những truyền thống ngăn cản sự tiến bộ và xây dựng lại xã hội cần thiết cho sự phát triển hài hoà nhân cách con người

4 Thuyết phát huy bản ngã của Abraliam Maslow ( 1908 - 1970)

A Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ là tác giả của thuyết phát huy bản ngã vào năm 1954 Đây là thuyết nhiều nhân tố, trong đó ông đưa ra 5 trình độ nhu cầu xếp thành đẳng cấp từ thấp đến cao như sau:

- Nhu cầu sinh lý ( đói, khát, tình dục )

- Nhu cầu an toàn ( an ninh, yên ổn, trật tự)

- Nhu cầu sở thuộc và yêu mến ( thương mến, hệ thức, đồng nhất hoá)

- Nhu cầu ngưỡng mộ ( uy tín, thành công, tự trọng )

Trang 10

- Nhu cầu phát huy bản ngã ( phát triển tiềm năng cá nhân )

Việc xếp hạng các nhu cầu phù hợp với sự xuất hiện chúng trong quá trình phát triển cá nhân và cũng là thứ tự thoả mãn các nhu cầu

đó Các nhu cầu thấp cần được thoả mãn thì mới có sự đòi hỏi thoả mãn ở các nhu cầu sau Trong các nhu cầu trên thì nhu cầu phát huy bản ngã là cao nhất Đó là nhu cầu muốn phát triển triệt để tiềm năng cá nhân của mình Trong quá trình đó có người thành đạt trong

xã hội, có người sự thành đạt chỉ là những sự bù trừ nên họ vẫn thất vọng và đau khổ về phương diện khác

Đóng góp của A.Maslow cho Tâm lý học là đưa ra được năm nhu cầu cơ bản của con người và sự cần thiết của việc thoả mãn các nhu cầu đó trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người Mặt hạn chế của lý thuyết này là coi tính người của nhu cầu được hình thành trong quá trình phát sinh loài người hệ thống thứ bậc nhu cầu mang tính di truyền Đây là lập trường nhân chủng hoá các động cơ của cá nhân, coi cái thúc đẩy - động cơ của con người giống nhu các xung đột của nguyên ngã ( Vô thức ) như quan điểm của S.Freud Vì vậy, thuyết này phủ định sự cần thiết phải hình thành có mục đích các nhu cầu của con người

5 Thuyết đặc trưng của Gordon Allport ( 1897 - 1969 )

Trong thuyết này G Allport đưa ra hai khái niệm quan trọng của nhân cách

- Khái niệm " Tính có một không hai " của nhân cách dùng để chỉ tính độc đáo riêng biệt của từng người không giống người khác G Allport cho rằng mục đích chính của Tâm lý học nhân cách là nghiên cứu tính có một không hai của nhân cách mỗi người đó là cá tính Khái niệm " Thiên hướng " của ông là sự hoà nhập của một số đặc điểm không lặp lại của cá thể vào một chỉnh thể của nhân cách

- Khái niệm về sự tự trị điều hành của các động cơ: Các động cơ mới nẩy sinh trong quá trình phát triển của cá nhân sẽ tiếp tục điều hành một cách tự trị không cần có sự củng cố của những điều kiện sinh lý vốn là nguyên nhân sinh ra chúng lúc trước Sự tự trị điều hành động cơ là cơ chế hình thành các động cơ mới Sự hình thành nhân cách trước hết là sự phát triển của các động cơ

Khác với các nhà hành vi mới như N.E.Miller và I Dollard cho rằng nguồn gốc của các động cơ thứ phát xuất phát từ trạng thái cơ thể,

Ngày đăng: 19/03/2023, 15:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w