1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tve tb ngon den khong tim toa s chua xac dinh

234 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngọn đèn không tim tỏa sáng
Tác giả Tỳ Kheo Thích Minh Chuẩn
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Sưu khảo & biên tập
Định dạng
Số trang 234
Dung lượng 2,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì Vũ Trụ Nhân Sinh là Pháp Vô Thường Khổ, do giác ngộ điều này, HT Đại Sư đã từ thân cắt ái,vào khoảng năm 1933 - 1934, chánh tín xuất gia với CốĐại Lão Hoà Thượng huý thượng NGUYÊN hạ

Trang 2

Sưu khảo & biên tập:

Tỳ Kheo Thích Minh Chuẩn

Mục lục

Mục lục

PHẦN 1

Chân Dung Giác Linh Hoà Thượng Đại Sư Huệ Nhựt

Tưởng Niệm Thâm Ân Hoà Thượng Đại Sư

- Thay lời nói đầu

- Dòng Thiền Lâm Tế Thiên Thai

- Của Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán [2]

- Đệ Thất Thập Thế (70)

- Hoán Bích Thọ Tôn Thiền Sư

- Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán

Trang 3

- Quy Luật Xuất Gia

- Sơ Đồ Dòng Lâm Tế tách Thành 5 Chi

- 4 Vô uý vị tha hành từ thiện:

Đại Sư Huệ Nhựt Và Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn

(Bài viết của HT Ân Sư Viện Chủ TĐLQTX Q.4)

Ngôi Tổ Đình Linh Quang Tịnh Xá

Hệ quả tư tưởng Đại Thừa của Đại Sư Huệ Nhựt

Lược Sử Thân Thế Và Sự Nghiệp

Của HT Tôn Sư Thượng Phổ Hạ Ứng

PHẦN III

Trang 4

- VII - Lời Nguyện Cầu Khi Lâm Cơn Trọng Bệnh

- VIII - Nội Quy Áp Dụng Cho Tỳ Kheo – Sa Di – Điệu (tập sự)

- A – Tỳ Kheo:

- 1 Đối Với Tự Thân :

- 2 Đối Với Tam Bảo :

- B – Sa Di Và Chúng Điệu:

8 Điều Tâm Nguyện

Di Huấn Của Ngài Pháp Sư Từ Hàng

Tĩnh Hành Văn

Các Điểm Trọng Yếu Của Thanh Quy Bá Trượng

12 Điều Tâm Niệm Để Tự Kiểm Điểm Lại Hằng Ngày

Trang 5

- 6 Lợi Hòa Đồng Quân

HIỆU QUẢ CỦA 6 PHÁP HOÀ KÍNH

10 Điều Tâm Niệm

14 Điều Răn Của Phật

Ý Nghĩa Bình Bát

Trung Tâm Giáo Dục Trẻ Khuyết Tật Q.4

Phòng Khám Bệnh Nhân Đạo Linh Quang

Công Tác Phật Sự Từ Thiện Cứu Trợ

PHẦN IV

Lược Sử Hòa Thượng Ân Sư Viện Chủ LQTX

- Thời Khóa Biểu Nhựt Dụng

- 1.Của Tăng Ni

- 2.Của Phật Tử:

Tiểu Sử Cố Hòa Thượng Viện Chủ Chùa Bửu Lâm Định Hướng Phát Triển Hệ Phái Đến Năm 2010

- 1 Đối Với Tăng Ni:

- 2 Đối Với Nam Nữ Cư Sĩ:

- 3 Đối Với Trẻ Em Khuyết Tật:

- * Phương Thực:

- * Thức Thực:

- 4 Đối Với Công Tác Phật Sự Từ Thiện:

Tâm Nguyện Của HT Viện Chủ

Tổ Đình Linh Quang Tịnh Xá – Q.4

- 1.Trùng tu nâng cấp cơ sở hiện tại

- 2 Xây dựng một Trung tâm hoàn toàn mới

PHẦN V

NGHI LỄ HỆ PHÁI

Trang 6

- [1] Nói về chuyện “Niêm hoa vi tiếu”

- [2] Thiền Sư Liễu Quán, Chùa Thiền Tôn – Huế

PHẦN 1 Chân Dung Giác Linh Hoà Thượng Đại

Sư Huệ Nhựt

Tổ Khai Sáng Hệ Phái Khất Sĩ Bắc Tông ĐSHN

Trang 8

Tưởng Niệm Thâm Ân Hoà Thượng Đại

Trang 9

Thay lời nói đầu

Hằng năm, cứ mỗi độ Đông về, vào ngày mùng

10 tháng Chạp, toàn thể môn đồ pháp quyến thuộc Hệ

Phái KHẤT SĨ BẮC TÔNG ĐẠI SƯ HUỆ NHỰT, tỏ

lòng tri ân thâm đức cao sơn của Tổ khai sáng Hệ Phái,húy thượng QUẢNG hạ THẠNH, hiệu HUỆ NHỰT, HoàThượng Đại Sư, đồng vân tập về Tổ Đình Linh QuangTịnh Xá, phường 02, quận 04, Tp HCM, thành kính làm

lễ tưởng niệm công đức khai sáng "HỆ PHÁI KHẤT SĨBẮC TÔNG ĐẠI SƯ HUỆ NHỰT” của Hoà Thượng Đại

Sư HUỆ NHỰT"

Vì Vũ Trụ Nhân Sinh là Pháp Vô Thường Khổ, do giác ngộ điều này, HT Đại Sư đã từ thân cắt ái,vào khoảng năm 1933 - 1934, chánh tín xuất gia với CốĐại Lão Hoà Thượng huý thượng NGUYÊN hạ CƠ, hiệuGIÁC PHÚ, nguyên Trụ Trì Chùa Linh Sơn Tiên Thạch(núi Điện Bà Tây Ninh), viên tịch năm 1937 (Đinh Sửu),

-và HT Đại Sư chính thức khai sáng Hệ Phái -vào ngàymùng 07 tháng 07 năm Ất Dậu (1945), đồng thời xiển

dương hoằng hoá "Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn", do chính Hoà Thượng Đại Sư biên soạn với Huyền Nghĩa "NGỌN

ĐÈN KHÔNG TIM TOẢ SÁNG, NHÀ PHẬT GIÁO TRUYỀN, THÍCH CA CHÁNH TÔNG".

Sau khi xuất gia, Hoà Thượng Đại Sư được HoàThượng Ân Sư truyền trao giới pháp Tam Đàn Cụ Túc vàonăm Đinh Sửu 1937 HT Đại Sư tu học tại Tổ Đình Linh

Trang 10

Sơn Tiên Thạch một thời gian Do cảm ứng đạo giao, HTĐại Sư xuống núi hành đạo KHẤT SĨ, lấy hiệu là "THÍCH

CA CHÁNH TÔNG"

Về sau, HT Đại Sư được cung thỉnh về làm TrụTrì Chùa VẠN THỌ ở Tân Định vào năm Mậu Tý (1948),Chùa LINH BỬU ở Cầu Hang - Gò Vấp vào năm CanhDần 1950 Ngài bị nạn và thị tịch tại đây vào ngày mùng

10 tháng 12 ÂL năm Canh Dần 1950

Hoà Thượng Đại Sư chủ trương hoằnh dươngChánh Pháp bằng con đường Từ Thiện Việc "Từ Thiện"được xem như một pháp môn tu tập, một công tác Phật sựhằng ngày, một tinh thần "Phụng Sự Chúng Sanh", mộtbiểu tượng "Bàn Tay Quán Thế Âm Tại Thế", một giáo lý

"Sống Động Hiện Thực", tất cả đều thể hiện đặc tính thù

thắng "ĐẠO PHẬT VÌ NHÂN SINH - VÔ NGÃ VỊ

THA BẤT VỤ LỢI" Đường hướng tối ưu này được lưu

truyền kế tục cho đến tận ngày hôm nay

Duyên trần viên mãn, nghịch quả tầm thân, kiếtgià phu tọa, mĩm cười giải thoát, an nhiên tự tại, thu thầnthị tịch tại Chùa Linh Bửu vào ngày mùng 10 tháng 12 ÂL

năm Canh Dần (1950) "PHÁP MÔN ĐÁO BỈ NGẠN",

một đời tu học, biên soạn công phu, lưu truyền hậu thế Nay tưởng nhớ công đức "Tổ Khai Sơn Sáng Lập

Hệ Phái", nhân tưởng niệm huý kỵ lần thứ 57, con môn đồKhất Sĩ MINH CHUẨN, bậc hậu học, nương giáo ngôncủa đương kim Hoà Thượng Viện Chủ Tổ Đình TQTX.Q4, góp nhặt tư liệu cùng khẩu truyền, biên soạn thành tập

Trang 11

sách "NGỌN ĐÈN KHÔNG TIM TOẢ SÁNG - HỆ

PHÁI KHẤT SĨ BẮC TÔNG ĐẠI SƯ HUỆ NHỰT",

với mục đích:

1 Báo đáp công đức thâm ân của HT Đại Sư

2 Khai mở phần tích lũy sử liệu về Hệ Phái Khất SĩBắc Tông Việt Nam

3 Đón nhận tài liệu và Pháp ngữ chỉ giáo để hiệu chỉnh bổsung, hoàn chỉnh tư liệu trước khi truyền thừa tuyêndương Hệ Phái

4 Hồi hướng công đức đến tất cả môn đồ Pháp phái vàchúng sanh được vô lượng an lạc

Giờ đây, chiêm ngưỡng chân dung, con lễ bái thù

ân cẩn trọng Duy nguyện Tổ Khai Sáng Hệ Phái Khất SĩBắc Tông Việt Nam huý thượng Quảng hạ Thạnh, hiệuHuệ Nhựt Hoà Thượng Đại Sư Giác Linh chứng minh giahộ

PL 2552 - MẬU TÝ - 2008 (NHÂN LỄ TƯỞNG NIỆM HUÝ NHỰT

LẦN THỨ 58 CỦA HT ĐẠI SƯ) Con Đệ Tử Khất Sĩ Minh Chuẩn.

Cẩn ThủTÔNG PHONG TỔ ẤN

HỆ PHÁI TRUYỀN THỪA

Theo sách "Tây Ninh Xưa Và Nay" của HuỳnhMinh xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn

Theo sách "Ngũ Gia Tông Phái Ký" của HT HảiTịnh, chữ Hán, khắc bản năm 1875

Trang 12

Theo bài viết "Chánh Truyền Nhứt Chi" của TổPháp Chuyên, chữ Hán, được Cố Đại Lão HT ThíchKhánh Anh dịch ra chữ Việt

Theo sách "Phật Giáo Tiền Giang - Lược Sử VàNhững Ngôi Chùa" của HT Thích Huệ Thông, Thành viênHội Đồng Chứng Minh Trung Ương Do Tỉnh Hội PhậtGiáo Tiền Giang Ấn Hành năm PL 2546 - "2002"

Theo Đặc San "Nguồn Sống An Lạc" củaTĐLQTX Q4, xuất bản hằng năm từ năm PL 2544 -2000

Được biết, HT Đại Sư HUỆ NHỰT, xuất gia vàokhoảng năm 1933 - 1934 và chính thức Khai Sáng Hệ PháiKhất Sĩ Bắc Tông Việt Nam vào ngày mùng 07 tháng 07năm Ất Dậu (1945) Bổn Sư của Ngài là Cố Đại Lão HoàThượng huý thượng NGUYÊN hạ CƠ hiệu GIÁC PHÚ,nguyên Trụ Trì Linh Sơn Tiên Thạch Tự ở núi Điện BàTây Ninh, đã ban cho Ngài Pháp danh là QUẢNGTHẠNH, hiệu HUỆ NHỰT thuộc dòng THIỀN LÂM TẾTHIÊN THAI đời 45

Căn cứ, theo lịch sử Phật Giáo ẤN ĐỘ truyềnsang Trung Quốc rồi sang đến Việt Nam, thì Ngài đíchthực thuộc Hệ Phái Bắc Tông Đại Thừa Chính Thống,nhưng khi hành đạo lại chọn quấn y Nam Tông Tiểu Thừa,sống đời sống phạm hạnh Khất Sĩ và cũng từ đó chínhthức khai sáng "HỆ PHÁI KHẤT SĨ BẮC TÔNG ĐẠI SƯHUỆ NHỰT", để rồi được tiếp nối tương tục truyền thừacho đến tận mãi ngày hôm nay

Trang 13

Tổ xưa thường dạy: "MỘC BỔN THUỶNGUYÊN" để luôn ám chỉ "Cây có cội, nước có nguồn",việc truy nguyên nguồn gốc, duy chỉ có mục đích xácminh chứng thực việc xuất gia hành đạo của Ngài là cóchứng cứ và được lịch sử Phật Giáo công nhận ghi truyền Như vậy, theo Truyền thống Phật Giáo Việt Nam,Ngài thuộc dòng THIỀN LÂM TẾ THIÊN THAI, đời chữQUẢNG theo Kệ Phú Pháp của Tổ THIỆT DIỆU LIỄUQUÁN, tức Tổ Khai Sơn Chùa THIỀN TÔN tại núiTHIÊN THAI phu THỪA THIÊN (HUẾ) khai sáng.

Nhân đây, tự có niềm hãnh diện riêng tư trongcuộc sống Đạo trên bước đường "Hoằng Hoá Lợi Sanh"

Là môn đồ, cần phải ôn học nằm lòng Hệ Thống Kệ PhúPháp của Chư Tổ Sư, biểu hiện "TÔNG PHONG TỔ ẤN"thuộc dòng THIỀN LÂM TẾ THIÊN THAI còn gọi làTHIÊN THAI LIỄU QUÁN hay TẾ THƯỢNG CHÁNHTÔNG của chúng ta ở hiện tại và mai sau

Nay xin dẫn chứng một số tư liệu do Chư TônTrưởng Lão Hoà Thượng đã viết thành sách: Thứ Nhất là

để truy nguyên nguồn gốc Thứ Hai là để chứng minh xácthực "HỆ PHÁI KHẤT SĨ BẮC TÔNG ĐẠI SƯ HUỆNHỰT" về mặt lịch sử hình thành sáng lập và tồn tại đốivới Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đồng bào Phật Tử,cùng môn đồ pháp quyến

Trang 14

I Chánh truyền nhứt chi

Từ Trung Thiên đến Trung Hoa và Trung Việt(Việt Nam) do Tổ PHÁP CHUYÊN, tự LUẬT TRUYỀN,hiệu DIỆU NGHIÊM chép bằng chữ Nho và đã được CốĐại Lão Hoà Thượng THÍCH KHÁNH ANH dịch ra chữViệt

Xin cẩn trọng trích đoạn những phần chính yếusau đây:

A - Trung Thiên

1 Truyền đạo

Kinh Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật QuyếtNghi [1] , ghi chép: "Vua Trời Đại Phạm đem hoa senvàng cúng Phật, Phật cầm hoa sen đưa lên, đại chúng chảbiết gì cả, chỉ có Ngài MA HA CA DIẾP hiểu được, vuicười! Phật bảo, ta có "CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG,NIẾT BÀN DIỆU TÂM, THẬT TƯỚNG VÔ TƯỚNG,

VI DIỆU PHÁP MÔN" trao cho CA DIẾP, Ngươi nên giữgìn, để nối truyền Đạo này cho chúng sanh, và nghe ta nóibài kệ truyền pháp sau đây:

"PHÁP BỔN PHÁP VÔ PHÁP

VÔ PHÁP PHÁP DIỆC PHÁP

KIM PHÚ VÔ PHÁP THỜI

Trang 15

PHÁP PHÁP HÀ TẰNG PHÁP".

2 Truyền Y

Phật đem Ca Sa Tăng Già Lê bằng Kim Nhũ traocho CA DIẾP và dặn: "Nay Ngươi là vị Tổ THỦTRUYỀN nên giữ PHÁP Y này đợi Đức Bổ Xứ Từ Tôn rađời, trao cho Ngài rồi, Ngươi sẽ nhập Niết Bàn"

Tổ CA DIẾP cúi lạy thọ mạng

(Trích Kinh Đại Phạm Thiên Vương)

Từ diệt độ trở về sau, 1070 năm GIÁO PHÁPmới truyền sang TRUNG QUỐC nhằm năm Mậu Thìn thứ

10 hiệu Vĩnh Bình, Minh Đế đời Đông Hán (DL 68, 58 74)

Trang 16

-Đức MA HA CA DIẾP là vị Đệ nhứt Tổ Sư, truyền đếnĐức BÁT NHÃ ĐA LA là Tổ Sư 27, nhẫn trên là chư vị

Tổ Sư bên TÂY VỰC

Từ Tổ Sư thứ 28 sắp xuống là chư Tổ Sư ĐÔNGCHẤN, mà người ta xưng niệm là:

"TÂY THIÊN NHỊ THẬP BÁT, ĐÔNG ĐỘ VỊ SƠ: PHẬT ĐÀ PHIẾN ĐA TÔN GIẢ"

B – Trung Hoa

Từ Đức PHẬT ĐÀ PHIẾN ĐA TÔN GIẢ là vị

Tổ thứ 28 truyền đến Đức MÃ TỔ ĐẠO NHẤT THIỀN

SƯ là vị Tổ thứ 35 Từ Đức MÃ TỔ sắp xuống, các Tổ chỉPHÚ PHÁP mà không đọc kệ nữa

Truyền đến Đức HOÁN BÍCH THỌ TÔNTHIỀN SƯ là vị Tổ thứ 70 Nguyên quán Ngài ở tại huyệnTrình Hương, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, họ TẠ,xuất gia tham học nơi Tổ HẠNH VIÊN BỔN QUẢ màđắc được Đạo Chơn Truyền Chánh Pháp …… Sau quaViệt Nam hoá Đạo tại TRUNG VIỆT

C – Trung Việt

Nhắc thêm về lai lịch Tổ HOÁN BÍCH THỌTÔN, Tổ sanh giờ Tuất ngày 18 tháng 05 năm Mậu Tý(1648), niên hiệu THUẬN TRỊ, Triều Vua THẾ TỔ nhàTHANH, 19 tuổi xuất gia ở nơi Chùa BÁO TỰ lạy ĐứcKHOÁNG VIÊN HOÀ THƯỢNG, Ngài đặt pháp danh là

Trang 17

NGUYÊN THIỀU, Pháp tự HOÁN BÍCH, Pháp hiệu THỌTÔN.

Triều nhà THANH, niên hiệu KHANG HY nămĐinh Tỵ (1677), Tổ đáp tàu qua Việt Nam, nhằm trongkhoảng niên hiệu CHÁNH HOÀ (1680 - 1785), Vua HYTÔN nhà HẬU LÊ, Sử gọi là thời LÊ - MẠC, TRỊNH -NGUYỄN phân tranh 1533 - 1678

Ban sơ Tổ dựng gậy tích tại phủ QUY NINH,tỉnh BÌNH ĐỊNH kiến thiết ngôi "THẬP THÁP DI ĐÀTỰ", rồi trở ra Phủ TRIỆU PHONG, núi PHÚ XUÂN, xứTHUẬN HOÁ (Huế), tạo lập ngôi "QUỐC ÂN TỰ" và

"PHỔ ĐỒNG THÁP" Kế vâng lời Sắc của Vua LÊ để trở

về tỉnh QUẢNG ĐÔNG rước Ngài TRƯỜNG THỌTHẠCH LIÊM HOÀ THƯỢNG qua bổn quốc đặng kiếnlập ĐẠI GIỚI ĐÀN (Trước nhất từ đây); hoằng dươngPhật sự, thỉnh Phật tượng, PHÁP BẢO để lưu thông vàvâng lời cầu thỉnh của nhà Vua để Trụ Trì ngôi "HÀTRUNG TỰ"

Từ đây PHẬT PHÁP tại TRUNG VIỆT ngàycàng nêu cao công lớn bủa rộng Đức Từ, chẳng kém vớiPHẬT HOÁ rất thạnh của Đời TRẦN (1225 - 1400) ởBẮC VIỆT

Đệ tử của Tổ SIÊU BẠCH HOÁN BÍCH có các Ngài:

Trang 18

Sau Tổ Phú Pháp cho Ngài "MINH HẢI ĐẮCTRÍ" Tổ tịch vào ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân(1728), niên hiệu BẢO THÁI Triều Vua LÊ DỰ TÔN(nhằm UNG CHÁNH thứ 6 Vua THẾ TÔN nhà THANH)dựng tháp được hàm ân là HẠNH ĐOAN THIỀN SƯ,Ngài trụ thế được 81 tuổi Từ khi qua Nam đến thị tịch là

50 năm

Đức MINH HẢI ĐẮC TRÍ PHÁP BẢO HOÀTHƯỢNG là vị Tổ Sư thứ 71 Ngài pháp danh là MINHHẢI, pháp tự là ĐẮC TRÍ, pháp hiệu là PHÁP BẢO,nguyên quán là người tỉnh PHƯỚC KIẾN con nhà họLƯƠNG, sanh tại Phố HỘI AN làng MINH HƯƠNG

Sau khi xuất gia đắc Pháp với Tổ SIÊU BẠCHHOÁN BÍCH, Ngài lập Chùa CHÚC THÁNH tại làngTHANH HÀ, phủ ĐIỆN BÀN, tỉnh QUẢNG NAM, lậpriêng ra một "PHÁP PHÁI" kệ rằng:

"MINH THIỆT PHÁP TOÀN CHƯƠNG

SUNG MÃN THIÊN NHƠN TRUNG"

(4 câu trên để cho Pháp Danh,

4 câu dưới để cho Pháp Tự)

Trang 19

Như Tổ Pháp danh là MINH HẢI, pháp tự làĐẮC TRÍ ……

Nguyên chữ "Minh" của Tổ:

1 Là do chữ "MINH" ở trong câu "HÀNH SIÊUMINH THIỆT TẾ" của Pháp Phái "TỔ ĐẠO GIỚI ĐỊNHTÔNG" …… do Tổ BẢO TẠNG PHỔ TRÌ lập ra

2 Là do chữ "MINH" ở đầu bài "MINH THIỆT PHÁPTOÀN CHƯƠNG" …… mà chính Tổ MINH HẢI ĐẮCTRÍ tự lập ra

Tổ MINH HÀNH TOẠI TOẠI là vị đệ tử thứ 4 của TổSIÊU BẠCH HOÁN BÍCH, Ngài ra BẮC VIỆT lập ChùaNHẠN THÁP và xuất kệ:

"MINH THIỆT NHƯ BỬU HẢI

KIM TƯỜNG PHỔ CHIẾU THÔNG

CHÍ ĐẠO THÀNH CHÁNH QUẢ

GIÁC NGỘ CHỨNG CHƠN KHÔNG"

Ngài MINH HUYỀN TỬ DUNG là đệ tử thứ haicủa Tổ SIÊU BẠCH HOÁN BÍCH, trụ trì Chùa LONGSƠN mà sau này Tổ THIỆT DIỆU LIỄU QUÁN HOÀTHƯỢNG đến tham học với Ngài Gặp cơ duyên ấn khả,

Tổ MINH HUYỀN TỬ DUNG đặt danh tự cho Ngài làTHIỆT DIỆU LIỄU QUÁN

Do chữ "THIỆT" ở câu "HÀNH SIÊU MINHTHIỆT TẾ" là Tổ THIỆT DIỆU LIỄU QUÁN HOÀTHƯỢNG Tổ nguyên quán tại xã Bạch Mã, huyện ĐồngXuân, tỉnh Phú Yên, con nhà họ LÊ, lúc 6 tuổi mồ côi mẹ!Sau xin phép cha đi xuất gia đến Chùa HỘI TÔN thọ giáo

Trang 20

Hoà Thượng TẾ VIÊN, nương náo với Chùa được 7 năm.

Kế Đức TẾ VIÊN tịch, Ngài THIỆT DIỆU ra kinh đôThuận Hoá để lạy cầu Đức GIÁC PHONG LÃO TỔ chothế độ Trở về bổn quán bán củi nuôi cha đặng 4 năm Kế

từ nghiêm theo ông bà Ngài THIỆT DIỆU trở ra THUẬN

ĐÔ (Huế) lạy Đức THẠCH LIÊM cho thọ "SA DI GIỚI".Sau đó Ngài lạy Đức TỪ LÂM cho thọ "CỤ TÚC GIỚI",rồi Ngài đến Chùa LONG SƠN tham học với Đức TổMINH HUYỀN TỬ DUNG

Ngài Khai Sơn Chùa THIỀN TÔN tại núi THIÊNTHAI phủ THỪA THIÊN lập riêng ra một Pháp Kệ rằng:

"THIỆT TẾ ĐẠI ĐẠOTÁNH HẢI THANH TRỪNGTÂM NGUYÊN QUẢNG NHUẬNĐỨC BỔN TỪ PHONG

GIỚI ĐỊNH PHƯỚC HUỆTHỂ DỤNG VIÊN THÔNGVĨNH SIÊU TRÍ QUẢ

MẬT KHẾ THÀNH CÔNGTRUYỀN TRÌ DIỆU LÝDIỄN XƯỚNG CHÁNH TÔNGHẠNH GIẢI TƯƠNG ƯNGĐẠT NGỘ CHƠN KHÔNG(Dòng Lâm Tế Thiên Thai của Tổ Thiệt Diệu LiễuQuán đời 35)

"TÔNG PHONG TỔ ẤN, MỘC BỔN THUỶ

NGUYÊN"

Trang 21

Chúng ta hàng hậu học không thể bỏ qua được Qua chứng tích sử liệu về Kệ Phú Pháp ở trên,không còn nghi ngờ gì về HT Đại Sư Huệ Nhựt - vị Tổ Sưkhai sáng ra hệ phái “KHẤT SĨ BẮC TÔNG ĐẠI SƯHUỆ NHỰT", và cũng để minh chứng một cách chân thật

về tính truyền thừa mạng mạch của Hệ Phái, là sau khi HTĐại Sư viên tịch vào năm Canh Dần (1950), thì đệ tử đời

46 của HT Đại Sư là Hoà Thượng huý Thượng NHUẬN

Hạ TẮC, hiệu PHỔ ỨNG, Tổ Khai Sơn Tổ Đình LinhQuang Tịnh Xá, quận 4, Tp HCM, đã kế tục lãnh đạo HệPhái cho đến lúc viên tịch vào năm Quý Hợi (1983) Nốitiếp là đương kim Hoà Thượng Viện Chủ Tổ Đình Thượng

TỪ Hạ GIANG kiêm Giám Đốc Trung Tâm Giáo Dục TrẻKhuyết Tật quận 4, được chúng Hệ Phái trung tôn lên làmTrụ Trì từ năm 1984 đến nay Hiện tại Hệ Phái đã truyềnđến chữ "PHONG" đời 50

Chúng ta luôn nhớ cầu nguyện cho:

TỔ ĐÌNH ĐĂNG TỤC,

HỆ PHÁI TRƯỜNG THĂNG

Dòng Thiền Lâm Tế Thiên Thai Của Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán [2]

(Tổ Đình Linh Quang Tịnh Xá - P.2 - Q.4 - TP HCM)

Tại rừng cây đôi Ta La, bên sông Ni Liên Thiền,Phật vào Niết Bàn ngày Rằm tháng Hai năm Nhâm Thânnhằm năm thứ 52 đời Mục Vương nhà Châu bên Tàu

Trang 22

Phật ở đời được 80 tuổi, từ diệt độ về sau, 1070năm giáo pháp mới truyền qua Trung Quốc, nhằm nămMậu Thìn thứ 10 hiệu Vĩnh Bình, Minh Đế từ đời ĐôngHán (DL 68 - 58 - 74).

27 vị Tổ Sư bên Tây Vức từ Tổ Sư thứ 28 sắp xuống làChư Tổ Sư Đông Chấn mà người ta xưng niệm là "TâyThiên Nhị Thập Bát", Đông Độ Vị Sơ Bồ Đề Đạt Ma TônGiả" Với Bồ Đề Đạt Ma thấy trong cuốn "Truyền PhápChính Tông Ký" thứ 5 chép: "Bồ Đề Đạt Ma, dịch là ĐạoPháp, dòng Sát Đế Lợi, nước Nam Thiên Trúc, Vua cha làHương Chí, người con thứ 3 nguyên tên là Bồ Đề Đa Ra,gặp Tổ Bát Nhã Đa La được kế Tổ Vị, đổi tên Đa Ra làmĐạt Ma

Đương thời nhà Lương năm Phổ Thông năm đầu(Canh Tý năm 520) Tổ đáp thuyền trước 3 năm đếnQuảng Châu nước Lương Sau Tổ bẻ cành lau thả nổi quasông đến nước Nguỵ (nhằm năm Chính Ngươn năm đầu,Vua Hiển Minh hậu Nguỵ), lên núi Tung vào Chùa ThiếuLâm trọn ngày quán vách, người ta gọi Tổ là Ông Sư XemVách, Vua Hiển Minh nghe tiếng, qua rước 3 lần khôngđứng dậy, sau gặp Huệ Khả, Tổ truyền Y và kệ Phú Pháp

Tổ lại trao cho 4 cuốn kinh Lăng Già là Pháp Yếu của NhưLai Tổ tịch vào 05/10 năm Đại Thông năm thứ 2 (MậuThân 521) đời Lương, tán tại núi Hùng Nhĩ Vũ Đế dựngbia để biểu dương Đức Hạnh của Ngài Đời Đường VuaĐại Tôn truy tặng hiệu Ngài là Viên Giác Đại Sư Thế là

Sơ Tổ của Thiền Tông bên Tàu có từ đây

Trang 23

Đệ Thất Thập Thế (70) Hoán Bích Thọ Tôn Thiền Sư

Nguyên quán tại huyện Trình Hương, phủ TriềuChâu, tỉnh Quảng Đông, họ Tạ, Tổ xuất gia tham học nơi

Tổ Hạnh Viên Bổn Quả mà được đắc đạo chơn truyềnchánh pháp, sau qua Việt Nam hoá đạo tại Trung Việt.Lượt biên một chi phái từ dưới Phật Thích Ca là Tổ CaDiếp truyền xuống Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, Nam Nhạc,Hoài Nhượng …… Lâm Tế Nghĩa Huyền …… Siêu BạchHoán Bích mà trong giới Phật học thường xưng niệm rằng:

"Nam mô Tây Thiên Tứ Thất Đông Độ Nhị Tam Lịch ĐạiChư Tổ Sư Bồ Tát"

Tổ Hoán Bích Thọ Tôn, sanh giờ Tuất ngày 18/05 nămMậu Tý 1648 niên hiệu Thuận Trị, triều Vua Thế Tổ nhàThanh, 19 tuổi xuất gia ở nơi Chùa Báo Tự, lạy ĐứcKhoáng Viên Hoà Thượng, Ngài đặt pháp danh NguyênThiều, pháp tự Hoán Bích, pháp hiệu Thọ Tôn

Triều nhà Thanh niên hiệu Khang Hy năm Đinh

Tỵ 1677, Tổ đáp tàu qua Việt Nam nhằm trong khoảngniên hiệu Chánh Hoà 1680 - 1785, Vua Hy Tôn nhà Hậu

Lê Sử gọi là "Thời kỳ Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn phântranh (1533 - 1678) Ban sơ Tổ dựng gậy tích tại phủ QuyNinh tỉnh Bình Định, kiến thiết ngôi Thập Tháp Di Đà

Tự, rồi trở ra phủ Triệu Phong núi Phú Xuân xứ ThuậnHoá, tạo lập ngôi Quốc Ân Tự và Phổ Đồng Tháp, kế vânglời của Vua Lê để trở về tỉnh Quảng Đông rước NgàiTrường Thọ Thạch Liêm Hoà Thượng qua bổn quốc kiến

Trang 24

lập Đại Giới Đàn (trước nhất từ đây) hoằng dương Phật sự,

và nhận lời thỉnh cầu của nhà Vua, để Trụ Trì ngôi HàTrung Tự Từ đây Phật Pháp Tăng của Trung Việt ngàycàng nêu cao công lớn, bủa rộng đức từ, chẳng kém vớiPhật hoá rất thạnh của đời Trần (1225 - 1400) ở Bắc Việt

Đệ tử của Tổ Siêu Bạch Hoán Bích có các Ngàilà:

1 Minh Hải Đắc Trí

2 Minh Huyền Tử Dung

3 Minh Vật Nhất Trí

4 Minh Hành Toại Toại

Sau Tổ Phú Pháp cho Tổ Minh Hải Đắc Trí

Tổ tịch vào ngày 19/10 năm Mậu Thân 1728niên hiệu Bảo Thái triều Vua Lê Dự Tôn (nhằm UngChánh thứ 6 Vua Thế Tôn nhà Thanh), dựng tháp, đượcVua hàm ân là Hạnh Đoan Thiền Sư, Ngài sống được 81tuổi, từ khi qua Nam đến thị tịch là 50 năm

Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán

Do chữ Thiệt ở câu "Hành Siêu Minh Thiệt Tế"

là Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán, nguyên Tổ sanh quán tại xãBạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên Con nhà họ

Lê, lúc 6 tuổi, Ngài mồ côi mẹ, sau xin phép cha đi xuấtgia đến Chùa Hội Tông thọ giáo Đức Tế Viên HoàThượng, nương náo với Chùa được 7 năm

Kế Tổ Tế Viên tịch, Tổ Thiệt Diệu ra kinh đôThuận Hoá đến cầu Đức Giác Phong Lão Tổ cho thế độ,trở về bổn quán bán củi nuôi cha đặng 4 năm, kế từ

Trang 25

nghiêm mất, Tổ trở ra Thuận Đô (Huế) lạy Đức ThạchLiêm cho thọ Sa Di Giới, sau lạy Đức Từ Lâm cho thọ CụTúc Giới, kế tiếp Tổ qua Chùa Long Sơn tham học NgàiMinh Huyền Tử Dung, gặp cơ duyên ấn khả, Tổ đặt danh

tự cho là Thiệt Diệu Liễu Quán

Sau Tổ Liễu Quán Khai Sơn Chùa Thiền Tôn tạinúi Thiên Thai phủ Thừa Thiên, lập riêng ra một Pháp Kệrằng:

"THIỆT TẾ ĐẠI ĐẠO

DIỄN XƯỚNG CHÁNH TÔNG

HẠNH GIẢI TƯƠNG ƯNG

ĐẠT NGỘ CHƠN KHÔNG"

(Dòng Lâm Tế Thiên Thai của Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán đời 35)

Trang 26

II Kệ phú pháp [1]

Phật Giáo Ấn Độ du nhập vào Việt Nam từ đầucông nguyên, hồi Thế kỷ thứ II đã có Thiền Sư Mâu Bác,Khâu Đà La từ Ấn Độ đến Việt Nam bằng thương thuyền

mở mang Phật Giáo ở Luy Lâu, miền Bắc Việt Nam Chođến thời Lý Trần thì Phật Giáo đã có 3 dòng Thiền do 3 vịTổ:

1 Tỳ Ni Đa Lưu Chi, năm 580 thời Hậu Lý NamĐế

2 Vô Ngôn Thông, năm 820 thời Bắc Thuộc NhàĐường

3 Thảo Đường truyền ra năm 1069 đời Lý ThánhTông

Đến đời Trần có Vua Trần Nhân Tông đi tu lấyhiệu là Điều Ngự Giác Hoàng, Ngài đã thống nhất 3 dòngThiền của Trung Quốc truyền sang, mở ra một dòng Thiềncủa người Việt Nam sáng lập, gọi là dòng Thiền Trúc LâmTam Tổ Do Đức Điều Ngự Giác Hoàng làm Sư Tổ, nhị

Tổ là Ngài Pháp Loa, tam Tổ là Ngài Huyền Quang làmcho Phật Giáo hưng thịnh một thời

Đến cuối đời Trần thì Phật Giáo bị suy yếu

Đến cuối thế XVI Chúa Nguyễn mới vào khai khẩnmiền Nam nhưng đất nước bị chia làm đôi Cho đến thế kỷXVIII Vua Quang Trung Nguyễn Huệ mới thống nhấtđược nước nhà Bắc Nam liền một dãi

Trang 27

Phật Giáo cũng phát triển vào Nam theo đà didân vào Nam lập nghiệp, đến đâu thì cất Chùa và thờ Phậtđến đó Cho nên các Chùa ở Nam Bộ chỉ có từ 300 nămtrở lại đây mà thôi.

Đặc biệt là Phật Giáo miền Nam chỉ có một gốc

do TỔ NGUYÊN THIỀU - THỌ TÔN thuộc dòng THIỀNLÂM TẾ truyền vô sau đó mới tách ra 5 dòng :

1 Lâm Tế Thiên Đồng của Tổ Vân Phong ThờiUý

2 Lâm Tế Gia Phổ của Tổ Đạo Mân Mộc Trần

3 Lâm Tế Trí Huệ do Tổ Trí Bản tách ra

4 Lâm Tế Chúc Thánh do Tổ Minh Hải PhápBảo

5 Lâm Tế Thiên Thai do Tổ Thiệt Diệu LiễuQuán

Đó là 5 dòng cùng một gốc mà chia ra nhưngdòng Lâm Tế Gia Phổ truyền vào trước hết nên các TổĐình xưa đều thuộc dòng Thiền Lâm Tế Gia Phổ

Dòng sau cùng là dòng Thiên Thai, nhưng TổThiệt Diệu Liễu Quán là người Việt nên phổ biến rất mau

và đều khắp vì phù hợp với người Việt hơn Tổ Sư 4 dòngkia đều là người Tàu nên phát triển chậm hơn dòng ThiênThai Đây là 5 dòng Thiền phát triển ở Nam Bộ đầu tiên Còn các hệ phái Nguyên Thuỷ, Khất Sĩ, Tịnh ĐộMinh Sư, Bửu Sơn Kỳ Hương v v mới phát triển từ năm

1945 đến nay mà thôi Cho nên, Phật Giáo miền Nam chỉ

có một dòng Thiền Lâm Tế mà thôi

Trang 28

THIỀN TÔNG CỘI GỐC

Thiền Tông căn bản do Phật Thích Ca truyền ra

dĩ tâm ấn tâm biệt lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền Xưatrong Hội Linh Sơn Phật cầm hoa sen đưa lên trước PhápHội im lặng, chỉ có Ngài Ca Diếp mĩm cười Niêm Hoa ViTiếu nên Phật truyền Tâm Ấn và Y Bát cho Ngài Ca Diếplàm Sư Tổ Thiền Tông ở Ấn Độ, Ngài Ca Diếp truyềnxuống được 28 đời Vị Tổ thứ 28 là Ngài Bồ Đề Đạt Ma

Tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc, Ngàilàm Sư Tổ ở Trung Quốc, truyền xuống được 6 đời, đếnđời Lục Tổ Huệ Năng là chấm dứt lệ truyền Y Bát, từ đó

về sau chỉ truyền Tâm Ấn mà thôi

Sau đó Tổ Huệ Năng có 5 vị đệ tử giỏi mới lập ra 5dòng Thiền, mỗi dòng đều có bài Kệ khác nhau :

1 Tổ Huệ Tịnh khai Tông QuyNgưỡng

2 Tổ Nghĩa Huyền khai Tông Lâm Tế

3 Tổ Văn Yểng khai Tông Vân Môn

4 Tổ Văn Ích khai Tông Pháp Nhãn

5 Tổ Lương Giới khai Tông Tào Động Năm dòng Thiền này chỉ phổ biến rộng ở TrungQuốc mà thôi Sau này truyền sang Việt Nam ở miền Bắcthì có đủ Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông, đến đờiTrần thống nhất lại một dòng Thiền Trúc Lâm Tam Tổ doVua Trần Nhân Tông lập ra hưng thịnh một thời Riêng ởmiền Nam thì chỉ có một dòng Thiền Lâm Tế do TổNguyên Thiều vào Nam truyền ra

Trang 29

A – Dòng Thiền Lâm Tế

Do Tổ Nghĩa Huyền lập ra ở Trung Quốc truyền xuốngđược 21 đời Đời Tổ thứ 22 là Ngài Thiền Sư Vân Phong -Thời Uý

1 Tổ Vân Phong - Thời Uý

Ở Chùa Thiên Đồng tách ra một dòng gọi là Lâm TếThiên Đồng, xuất một bài kệ truyền Pháp như sau :

Bài Kệ đời 21

Tổ Đạo Giới Định Tông

Phương Quảng Chứng Viên Thông

Hành Siêu Minh Thiệt Tế

Liễu Đạt Ngộ Chơn Không

Như Nhựt Quang Thường Chiếu

Phổ Châu Lợi Ích Đồng

Tín Hương Sanh Phước Huệ

Tương Kế Chấn Từ Phong

2 Thiền Sư Trí Bản Mộng Không

Lâm Tế Chánh Tông truyền xuống đến đời thứ 25 thìThiền Sư Trí Bản Mộng Không lại tách ra một dòng Kệ

Trang 30

nữa gọi là dòng Lâm Tế Trí Huệ Lại biệt xuất một dòng

Kệ phú pháp như sau :

Bài Kệ đời 25

Trí Huệ Thanh Tịnh

Đạo Đức Viên Minh

Chơn Như Tánh Hải

Tịch Chiếu Phổ Thông

Tâm Nguyên Quảng Thục

Bổn Giác Xương Long

Năng Nhơn Thánh Quả

Thường Diễn Khoan Hoằng

3 Thiền Sư Đạo Mân Mộc Trần

Lâm Tế Chánh Tông truyền xuống đến đời thứ 31 thìThiền Sư Đạo Mân Mộc Trần lại tách ra một dòng Thiềnnữa gọi là Lâm Tế Gia Phổ xuất bài Kệ phú pháp đời 31như sau :

Bài Kệ đời 31

Trang 31

Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên

Minh Như Hồng Nhựt Lệ Trung Thiên

Tâm Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ

Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền

Dòng Kệ này nay đã truyền xuống tới đời thứ 43 thuộchàng chữ Lệ chữ Trung

4 Thiền Sư Minh Hải Pháp Bảo

Lâm Tế Chánh Tông truyền xuống tới đời thứ 34 Thiền

Sư Minh Hải Pháp Bảo được Tổ Nguyên Thiều mời sangViệt Nam năm 1689

Theo lệnh của Chúa Nguyễn để mở Đại Giới Đàntại Chùa Thiên Mụ, xong Ngài không về Trung Quốc mà ởlại Việt Nam, vân du hoá Đạo đến tỉnh Quảng Nam, Ngàitrụ tại đó, xây Chùa Chúc Thánh và biệt xuất ra một dòng

Kệ phú pháp gọi là dòng Lâm Tế Chúc Thánh như sau :

Trang 32

Dòng Kệ này hiện nay truyền xuống tới chữ Chúc thuộcđời thứ 42.

5 Thiền Sư Thiệt Diệu Liễu Quán

Lâm Tế Chánh Tông truyền xuống đến đời thứ 35 thì

có Thiền Sư Thiệt Diệu Liễu Quán là người Việt Nam.Ngài Quy Y với Tổ Tế Viên thọ Sa Di với Tổ Thạch Liêm(Tào Động) thọ giới Cụ Túc với Hoà Thượng Từ Lâm vàcầu Pháp với Thiền Sư Minh Huyền Tử Dung ở Chùa TừĐàm Như vậy Ngài thọ giáo tới 4 ông Thầy theo 4 Hệ,nên Ngài không biết nên theo dòng nào cho đúng Vì vậynăm 1720, Ngài xây Chùa Thiền Tôn dưới núi Thiên Thai,

tu đắc đạo tại nơi đây và thu nhiều đệ tử Ngài mới biệtxuất ra một bài Kệ phú pháp của Ngài là:

Trang 33

Hành Giải Tương Ưng

5 Lâm Tế Liễu Quán

truyền khắp cả miền Nam

Quy Luật Xuất Gia

Thời xưa, Thầy Tổ dạy người Phật tử muốn pháttâm xuất gia phải có đủ duyên lành, được cha mẹ cho phéphoặc đưa đến ngôi Chùa nào có vị Minh Sư đạo cao đứctrọng cần cầu lễ bái để gởi gắm con mình theo Thầy họcđạo

Nếu Thầy đồng ý thì Thầy sẽ tổ chức lễ truyềnTam Quy Ngũ Giới thế phát cho đi tu Thầy đó gọi là Bổn

Sư sẽ cấp cho người đi tu một phái Quy Y Tam Bảo và đặtcho một cái tên đạo gọi là Pháp Danh

Ở với Thầy sẽ được Thầy chỉ dạy, trong một hainăm tuỳ theo trình độ Thầy Bổn Sư sẽ cho thọ giới Sa Di

10 giới Tiếp tục theo Thầy học đạo 2 năm nữa Thầy mớiđược cho đăng đàn thọ Tỳ Kheo Bồ Tát Cụ Túc Giới Giữ

Trang 34

gìn trọn một năm nữa Thầy mới cấp cho một bản thế độ vàđặt cho một cái tên nữa gọi là Pháp Tự.

Nếu có trình độ Bổn Sư sẽ lãnh Chùa và cho đi làm TrụTrì để hoá đạo chúng sanh

Nếu có đủ tài đức, được Phật tử mến mộ muốntheo mình quy y học đạo thì phải về cầu pháp với Bổn Sư

và được Thầy Bổn Sư truyền trao giới pháp và cấp cho tờChánh Pháp Nhãn - Tạng Niết Bàn Diệu Tâm, và đặt chomình một cái tên nữa gọi là Pháp Hiệu Sau đó, mới căn cứtheo dòng kệ của mình mà đặt pháp danh cho đệ tử theodòng kệ, mỗi đời xuống một chữ, trong bài kệ như thếmới đúng pháp

Ở đây, là mẫu phái quy y thế độ và truyền pháptheo phổ hệ của dòng Lâm Tế Gia Phổ Bởi mỗi dòngthiền đều có mẫu khác nhau

Vì vậy, muốn làm Thầy phải lưu ý một bậc Thầy

có đủ giới phẩm là phải có đủ 3 tên đạo: Pháp Danh, Pháp

Thế nên Tổ Nguyên Thiều Thọ Tôn thuộc dòngLâm Tế Gia Phổ lại cầu Pháp bên dòng Thiên Đồng nên

Trang 35

có tên Siêu Bạch Hoán Bích Hoà Thượng - Tiên Giác HảiTịnh lại có tên Tế Giác Quảng Châu cũng trong trườnghợp nêu trên.

Sơ Đồ Dòng Lâm Tế tách Thành 5 Chi

Trang 37

Tế Thiên Đồng mới có pháp hiệu là Siêu Bạch - HoánBích, vậy là có 2 Bổn Sư.

Năm Đinh Mẹo 1665, ở Trung Quốc, nhà MãnThanh đánh chiếm nhà Minh nên Ngài mới theo tàu buônqua Việt Nam, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần, xin trú ngụ tạiphủ Quy Ninh, tỉnh Bình Định Ngài thấy vùng đất có 10cái tháp Chàm mới xin cất một ngôi Chùa Di Đà Tự, vì ởsau Chùa có 10 ngọn Tháp nên mới gọi là Chùa ThậpTháp Di Đà Tự, mở trường dạy đạo Sau ra Thuận Hoáhuyện Phú Lộc lập Chùa Hà Trung, rồi lên núi Phú Xuân

xứ Thuận Hoá (Huế) lập Chùa Quốc Ân và xây tháp PhổĐồng (tháp này đã bị hoại)

Xét trong "Lịch Truyện Tổ Đồ" thì Ngài NguyênThiều thuộc đời 69 Còn xét về phái Lâm Tế Gia Phổ thìNgài đứng hàng thứ 33 và truyền phái Lâm Tế vào miềnTrung và miền Nam nước Việt thì Ngài là Sư Tổ phái Lâm

Tế Gia Phổ Ngài không tách ra dòng Kệ Phú Pháp riêngbởi Ngài mang hai dòng Kệ Ở dòng Lâm Tế Gia Phổ thìNgài có pháp danh Nguyên Thiều - Thọ Tôn, còn ở dòngLâm Tế Thiên Đồng thì Ngài có pháp hiệu là Siêu Bạch -Hoán Bích, Ngài không muốn bỏ dòng nào, mà Ngàimuốn kế thừa cả hai Vì thế ở miền Trung thì Ngài truyền

đệ tử theo dòng Thiên Đồng nên truyền xuống cho đệ tử làchữ Minh Đó là Minh Vật - Nhứt Trí, Minh Hoàn - ĐịnhNhiên, Minh Dung - Pháp Thông, Minh Dương - Nguyệt

Ân v v chia nhau kế thế ở Chùa Di Đà Thập Tháp, Chùa

Hà Trung, Chùa Quốc Ân v v

Trang 38

Khi vào trong Nam thì Ngài truyền theo dòngLâm Tế Gia Phổ, truyền xuống đệ tử là chữ Thành đó làThành Đằng Minh Yêu, Thành Nhạc Ẩn Sơn, ThànhThiện Pháp Thông ở Chùa Đại Giác, Biên Hoà, Chùa NúiChâu Thới, Chùa Bửu Phong, Chùa Kim Cang, ChùaHưng Long v v ở Đồng Nai - Biên Hoà.

Năm Tân Mẹo 1689, Ngài phụng mệnh Đức Anh Tôn Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691) trở về Trung Quốcmời các danh Tăng cung thỉnh một số pháp tượng, phápkhí về Chùa Thiên Mụ, chuẩn bị khai Đại Giới Đàn truyềngiới cho Chư Tăng Việt Nam

Ngài đã cung thỉnh được các vị Cao Tăng là:

1 Thiền Sư Giác Phong

2 Thiền Sư Minh Huyền Tử Dung

3 Thiền Sư Tế Viên

4 Thiền Sư Minh Hành Toại Toại

5 Thiền Sư Minh Hải Pháp Bảo

6 Thiền Sư Thạch Liêm (có chỗ nói không phải)

để mở Đại Giới Đàn tại Chùa Thiên Mụ

Theo sách "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên"chép rằng: Tổ Nguyên Thiều 19 tuổi xuất gia, 33 tuổi sangViệt Nam và 55 tuổi về Trung Quốc thỉnh Sư Lúc vàoNam đã trên 70 tuổi (năm 1738) Triều Đình có biến loạn

do hai người cháu của Nguyễn Phúc Chu, trong cuộc nổiloạn này có liên luỵ đến Chùa Thập Tháp, do đó Tổ SưNguyên Thiều cùng đệ tử là Ngài Minh Vật Nhất Trí chạytuốt vào Nam lánh nạn và xây Chùa Kim Cang Ngài tịch

Trang 39

lúc 81 tuổi (còn Ngài Minh Hải Pháp Bảo thì chạy vàoThiên Ấn tu và tịch luôn ở đó).

Năm 1995, các vị Thiền Sư trên Biên Hoà đãphát hiện nơi nền Chùa Kim Cang cũ có Bảo Tháp củaNgài đã bị hư nứt, nhìn thấy có kim quang Ngài trong đónên đã trùng tu lại (Báo Giác Ngộ)

Theo Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của Ngài Mật Thểviết: Một hôm Ngài lâm bệnh, họp môn đồ lại dặn dò mọiviệc và Ngài truyền bài kệ rằng:

Tịch tịch kính vô ảnh,

Minh minh châu bất dung,

Đường đường vật phi vật,

Liêu liêu không vật không.

Viết xong bài kệ Ngài ngồi yên lặng mà tịch.Ngài mất ngày 19 tháng 10 năm Bảo Thái thứ 10, nhà Lê

đồ chúng cùng các Tể Quan đệ tử thọ giới của Ngài làmPháp hoá môn để chôn cất hài cốt (Tháp này nằm ở bênđồi nhỏ xóm Thuận Hoá, làng Dương Xuân Thượng Vậy

có lẽ là vọng tháp)

Hiến Tông Hoàng Đế ban thuỵ hiệu là: "Hạnh ĐoanThiền Sư" và có làm bài minh khắc vào bia để tán thán đạođức của Ngài

Ngài là vị Tổ truyền phái Lâm Tế đầu tiên ởĐàng trong mang hai dòng kệ của Tổ Vân Phong đời 21 và

Tổ Đạo Mân đời 31 ở Trung Quốc truyền sang Việt Nam,một bên Ngài truyền xuống chữ Minh và một bên Ngàitruyền xuống chữ Thành vì Ngài không muốn bỏ bên nào,

Trang 40

bản ý là muốn cho phái diễn của Tổ Tiên không bên nào bịđứt đoạn Thế đủ biết chữ Minh và chữ Thành đều là đệ tửcủa Ngài nhưng không biết đệ tử của Ngài được bao nhiêungười mang chữ Minh, bao nhiêu người mang chữ Thành Tra cứu Long Vị Tổ ở các Chùa Thập Tháp - Quốc Ân

và Hà Trung thì chỉ có các Ngài: Minh Vật Nhất Trí, MinhHoàng Định Nhiên, Minh Giác Kỳ Phương, Minh DungPháp Thông, Minh Dương Pháp Ấn Còn về chữ Thành ởtrong Nam thì có Thành Đằng Minh Yêu, Thành ThiệnPháp Thông và Thành Nhạc Ẩn Sơn …… chỉ biết đượcmột số ít vậy thôi

Ngày đăng: 19/03/2023, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w