1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thanh phao lo m u guong vi d i chua xac dinh

38 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thanh Phao Lô M U Guong Vi D I Chua Xac Dinh
Trường học Trường Đại Học Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tài liệu tham khảo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 326,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thánh Phao Lô m?u guong vi d?i v? lòng kiên nh?n LỜI TỰA Từ ngữ "kiên nhẫn patience", với nhiều sắc thái khác nhau [1], phần lớn vẫn được hiểu theo nghĩa thụ động, có nghĩa là sự sẵn sàng đón nhận đau[.]

Trang 2

LỜI TỰA

Từ ngữ "kiên nhẫn-patience", với nhiều sắc thái khác nhau [1],phần lớn vẫn được hiểu theo nghĩa thụ động, có nghĩa là sự sẵnsàng đón nhận đau khổ và bất công, hay là từ khước đấu tranh đểthay đổi một tình trạng không vừa ý Thực vậy, kiên nhẫn là sự chiếnthắng của lý trí vượt lên trên cảm xúc và là lý trí được soi sáng bởiđức tin

Thoáng nhìn về lịch sử của nhân loại, kiên nhẫn nổi bật trong mọicuộc cách mạng đem lại nhiều lợi ích cho thế giới: Từ cuộc đánh giálại toàn bộ những giá trị của con người do Đức Giêsu thànhNazareth đem lại, Đấng đã tuyên bố rằng người nghèo khó, ngườithan khóc và người bị bách hại là những người được chúc phúc (Xc

Mt 5,3; Lc 6,20-23), cũng là Đấng đã rao giảng sự tha thứ cho kẻthù, như gương mẫu Người để lại (Xc Mt 18,21-22; Lc 23,34), chotới chủ trương bất bạo động của Gandhi (1869 -1948), người đã dạyrằng "bất bạo động không phải là thái độ thụ động cũng không lmphát sinh từ tình trạng này, trái lại, đó là sức mạnh chủ động nhấttrong thế giới[2] Đó là luật lệ của loài người, và là luật lệ vô cùng lớnlao vượt lên trên sức mạnh tàn bạo Đó là sức mạnh mà mọi ngườiđều có thể vươn tới, dù là trẻ em, thiếu niên, nam cũng như nữ, giúp

họ có được niềm tin sống động vào Thiên Chúa tình yêu và vì thếnuôi dưỡng một tình yêu bình đẳng đối với mọi người [3]

Kiên nhẫn là "nhân đức của những người có sức mạnh [4]" nhưvẫn thường được hiểu trong các thư của thánh Phaolô [5]

Thường thì đời sống bấp bnh chắc chắn đòi phải có sự tập luyệncam go và lâu dài về đức kiên nhẫn Nếu không có sức mạnh củađức kiên nhẫn, con người sẽ không thể có được bình an nội tâm,

Trang 3

nhất l khi gặp những hoàn cảnh khổ đau, hay hoang mang trong nỗi

cô đơn, hoặc những bất công dy vị tinh thần, hay đơn giản vì "ngày

đã xế và bóng chiều đã ngả" (Gr 6,4)

Những tình cảnh như thế đòi một cái gì hơn nữa, chứ không chỉ

là sự nhẫn nại có khả năng vượt lên trên sự nóng giận thình lình ậpđến vào lúc bất hạnh, cũng không đơn thuần chỉ là một sự tự kiềmchế giúp mỗi người có lựa chọn hợp lý, biết đáp ứng thế nào chophù hợp trước những yếu tố không biết trước trong những thách đốcủa cuộc sống Vì thế, cần phải có nhân đức kiên nhẫn

Kiên nhẫn - patience, theo nghĩa là kiên trì, là sự bền vững, làsức mạnh, là chịu đựng, là quảng đại, nhẫn nại, là điều cần phải cótrong cuộc sống của người Kitô hữu Thánh Phêrô nhấn mạnh: anh

em hãy đem tất cả nhiệt tình, làm sao để khi đã có lòng tin thì cóthêm đức độ, có đức độ là thêm hiểu biết, có hiểu biết lại thêm tiết

độ, có tiết độ lại thêm kiên nhẫn, có kiên nhẫn lại thêm đạo đức, cóđạo đức lại thêm tình huynh đệ, có tình huynh đệ lại thêm bác ái" (2

Pr 1,5-7)

Thánh Phaolô nhấn mạnh sự lin kết giữa đức kiên nhẫn và banhân đức đối thần là Tin – Cậy – Mến khi khuyên các tín hữu Rôma:

"Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân,

và chuyên cần cầu nguyện" (Rm 12,12) "Chúng ta tự hào khi gặpgian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quenchịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận làtrung kiên thì có quyền trông cậy"[6]

Theo Thánh Phaolô, kiên nhẫn phát xuất từ đức tin và đượcnâng đỡ trong đức cậy Đó là mối dây liên kết giữa điều đang có vàđiều đang hình thành, từ điều đã đạt được với điều chưa hoàn

thành: "nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy thì đó là

Trang 4

Chỉ có đức kiên nhẫn dựa trên đức tin, đức cậy và đức mến mớiđem lại ý nghĩa cứu độ cho mỗi khoảnh khắc của cuộc sống Từviễn tượng này, mỗi biến cố được xem như việc thực hiện cách diệu

kỳ chương trình của Thiên chúa chứ không phải là kết quả rủi ro dovận mệnh mù quáng

Như lịch sử minh chứng, nhân đức kiên nhẫn là nền tảng củathái độ lạc quan, cho phép con người tiến về phía trước với niềmxác tín rằng sự dữ sẽ phải tan biến dù rằng không ai biết khi nào vànhư thế nào, đồng thời cũng biết rằng mỗi tình trạng đen tối cũng sẽ

có một kết thúc tốt đẹp và tương lai sẽ tốt hơn hiện tại Bởi vì nhưthánh Phaolô khẳng định: "chúng ta biết rằng: Thiên chúa làm chomọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến người" (Rm 8,28).Chính từ nhãn quan này của thánh Phaolô mà Manzoni đã đọccâu chuyện bi thương của Renzo và Lucia, những người, lc đầu,được coi như những nạn nhân của bất công, khi ông giải thích:

"Thiên Chúa không bao giờ được vui vì con cái của Người trừ khi đểchuẩn bị cho họ niềm vui chân thực và bền vững hơn" [7]

Như thế, người thực sự kiên nhẫn sẽ không bị bấn loạn vì sựcông chính có thể bị trì hoãn, là người hoàn toàn nhận biết rõ ràngrằng "sự thật là biết thinh lặng khi đó là thời gian phải thinh lặng, vàchính trong sự thinh lặng m sự thật hơ vang : hy kiên nhẫn"[8] Trongmọi lúc, người kiên nhẫn luôn vững vàng chờ đợi sự can thiệp củaThiên Chúa để tái lập tình trạng an bình đã bị gián đoạn do bất công

và đau khổ

Người nào muốn đi vào cuộc phiêu lưu trn con đường "nhânđức" của "kẻ mạnh", phải biết quên sự mất kiên nhẫn của ngày hômqua và bắt đầu cuộc đời mới mỗi ngày theo mẫu gương thánhPhaolô viết cho tín hữu Philíp: "Quên đi chặng đường đã qua, để laomình về phía trước Tôi chạy thẳng tới đích để chiếm được phầnthưởng từ trời cao Thiên chúa dành cho kẻ được Người kêu gọitrong Đức Kitô Giêsu" (Pl 3,13-14)

Vào lúc khởi đầu và kết thúc của tiến tình này, mỗi người chỉ cóthể đạt tới đức kiên nhẫn qua một xác tín mãnh liệt rằng " người kiênnhẫn là người nhẫn nại với sự bất kiên nhẫn của mình"[9] Với nhữngngười như thế này có thể nói một cách đúng đắn: "người được gọi

là hạnh phúc chính là những người kiên định" (Gc 5,11)

Trang 5

Nỗ lực khó khăn để biết kiên nhẫn với chính sự bất kiên nhẫncủa mình có thể được trợ giúp nhờ việc nhìn lại hành trình dài vàđầy gian khổ đã biến Tông Đồ Phaolô từ một "người bách hại và bạolực" (1Tm 1,13) thành một "mẫu gương vĩ đại nhất về đức kiênnhẫn"[10] như Đức Giáo Hoàng Clêment đã diễn tả rất đúng trong thưgửi giáo hữu Côrinthô, được viết vào khoảng năm 96.

Với những ai có ước nguyện tiến bước trong đức kiên nhẫn,thánh Phaolô dùng cùng một lời khuyên thường được nhắc lại trongcác thư của thánh nhân: "Anh em hãy bắt chước tôi như tôi bắtchước Đức Kitô" (1Cr 11,1; Xc 1Cr 4,16; Pl 3,17; 1Tx 1,6; 2,14; 2Tx3,7) Ông Timôthê là một trong những người đã cố gắng noi gươngthánh Phaolô, như thánh nhân đã diễn tả rõ ràng: "phần anh, anh đãtheo sát đạo lý, cách sống, dự định của tôi; anh đã thấy lòng tin, sựnhẫn nại, lòng yêu mến, sự kiên trì của tôi; anh đã biết những cơnbắt bớ, những sự đau khổ tôi đã gặp" (2Tm 3,10-11) Bí quyết củaviệc theo sát thánh Phaolô hệ tại xác tín rằng: "nhờ Đức Kitô anh em

đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đaukhổ vì Người" (Pl 1,29)

Cuốn sách này, bao gồm nội dung từ hai tác phẩm trước đây củatôi về vị tông đồ dân ngoại[11] Cuốn sách này có mục đích thu lượm

từ các thư của thánh nhân sứ điệp về đức kiên nhẫn với hy vọng cóthể gợi lên cảm hứng mỗi ngày để noi theo mẫu gương của thánhnhân là kiên nhẫn hơn với chính sự không kiên nhẫn

Francesco Gioia, Tổng giám mục, Giám quản Vương cung thánhđường thánh Phaolô, Roma ngày 10 tháng 08 năm 2004

[1] Kiên nhẫn – to have patience Bắt nguồn từ tiếng Latin patior nghĩa là chống đỡ, chịu đựng và

thường được xử dụng trong tiếng Hy lạp bằng thành ngữ hypoméno, xuất phát từ động từ méno nghĩa là tồn tại, chờ đợi, vững vàng, không trốn chạy khi phải đối diện với một địch thù.

[2] Harijan, 24 – 12 – 1938, tr 393, trong R K PRABHU – U R RAO (eds), Gandhi: il mio credo, il mio

pensiero, Newton, Roma 1992, tr 149; Xc Young India, 16 – 6 – 1927, tr 196, sđd tr 161-162

[3] Harijan, 5 – 9 – 1936, tr 236, sđd tr 135.

[4] Xc F Gioia, forza della pazienza: il camino della pace interiore (San Paolo, Cinisenllo Balsamo, 1994) & Il Vangelo della pazienza nelle religioni del mondo (San Paolo, Cinisenllo Balsamo, 1994), 1996.

Trang 6

[5] Truyền thống gán cho thánh Phaolô là tác giả 14 lá thư Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây chothấy thánh nhân không viết lá thư gửi người Dothái Như vậy, chỉ còn lại 13, trong đấy có 7 lá thư lớn" (1Tx, 1&2Cr, Gl, Rm, Pl, Plm) không bao giờ bị đặt thành vấn đề Một vài vị coi thư thứ 2Tx là "giả danh" – pseudo work, có nghĩa là bản văn được gán cho 1 tác giả nào đó dựa theo ý kiến quần chúng, điều thường xảy ra trong văn chương cổ thời 2 thư gửi cho ông Timôthê và Titô được viết vào "thời hậu Phaolô – post Pauline"

và như thế cũng có nghĩa là "giả danh" Một số người khác dè dặt khi nói Phaolô là tác giả của thư Cl và Ep.

Lá thư đầu tiên của thánh Phaolô là thư gửi giáo đòan Thessalônica được viết từ Côrintô vào khỏang năm 50, muộn nhất là vào năm 51, chính là tác bản văn xưa nhất của Tân ước.

Các thư của thánh Phaolô không phải là "thư riêng" Thật vậy, 10 lá thư được gửi cho các giáo đòan và

có mục đích để đọc ở nơi công cộng như chính thánh nhân đã viết: "nhân danh Chúa, tôi yêu cầu đọc thư này cho tất cả các anh em" (1Tx 5,27; Xc 2 Tx 2,14-15; Cl 4,16) Sau đó, thánh nhân còn viết: "nếu có ai không tuân theo lời chúng tôi nói trong thư này, anh em hãy ghi lấy tên và đừng giao du với người ấy, để họ biết xấu hổ" (2Tx 2,14-15) 4 lá thư khác của thánh Phaolô, mặc dù được gửi cho các cá nhân (1 & 2 Timôthê, Titô, Philêmon), nhưng vẫn có ý gửi cho cộng đòan, bởi vì vẫn giả thiết các thư ấy gửi cho các cộng đòan, cho thấy tính giáo huấn trong các lá thư (Xc 1Tm 1,15; 3,1; 4,9; 2Tm 2,11; Tt 3,8) Thánh Phaolô viết các lá thư với xác tín rõ ràng tư cách tông đồ của mình, được Đức Kitô sai đi (Xc Gl 1,1 15-16; 5,2) với nhiệm vụ rõ ràng là công bố Tin mừng (Xc 1 Cr 9,16), khích lệ và sửa dạy Tiếp đến, các lá thư của thánh nhân đựơc xem như những bài diễn từ nhằm trả lời cho những hòan cảnh cụ thể Trong ý nghĩ của thánh Phaolô, các lá thư của ngài, nhằm chuẩn bị cho các cuộc viếng thăm hay thay thế khi thánh nhân không thể hiện diện được (Xc 1Cr 4,19)

[6] Rm 5,3-4; Ba nhân đức đối thần, mặc dù không nhất thiết đựơc bàn đến cùng lúc, nhưng vẫn đượcnói đến trong các thư của thánh Phaolô (1Cr 13,7 13; Rm 5,1-5; 12,6-12; Gl 5,5-6; Cl 1,4-5; Ep 1,15; 4,2-5,1; 1Tx 1,3; 5,8; 1Tm 6,11; Tt 2,2; Dt 6,10-12; 10,22-24) Chúng ta thấy "tin và yêu" đi liềnvới nhau (Xc 1Tx 3,6; 2Tx 1,2; Plm 5), "nhẫn nại và tin tưởng" (Xc 2Tx 1,4), "yêu mến và nhẫn nại" (Xc 2Tx 3,5) Trong 3 nhân đức

ấy, đức mến là cao cả nhất (Xc 1Cr 13,13), vì lòng mến không bao giờ kết thúc trong trong khi đức tin và hy vọng sẽ chấm dứt khi chúng ta diện kiến Thiên Chúa (1Cr 13,8-12).

[7] A Manzoni, The Betrothed, cap VIII.

[8] Th Catarina Siena "Letter to Card Pietro De Luna "

[9] E Jungel – K Rahner, La pazienza di Dio e dell'uomo, Morcelliana, Brescia 1973, p 41.

[10] Đây là bản văn của thánh Clêment "thánh Phaolô minh chứng ngài đã đọat giải thưởng nhờ đứckiên nhẫn Bảy lần bị cầm tù, đã bị trục xuất và bị ném đá Thánh nhân đã rao giảng cả miền đông lẫn miền Tây Cuối cùng đã đạt được vinh dự lớn lao nhờ lòng tin Ngài đã giảng dạy cách đúng đắn cho tòan thế giới,

đã đi đến tận cùng biên giới phía tây của đế quốc và chịu tử đạo Vì vậy, ngài đã kết thúc vụ trần thế và chiếm được chỗ nơi thiên quốc như mẫu gương vĩ đại nhất về đức kiên nhẫn" (thư gửi người Côrintô, 5,6-7); thánh Pôlycarpô, người cùng thời với thánh Clêment, cũng gọi thánh Phaolô là mẫu gương của lòng kiên nhẫn Xc Thư gửi người Philípphê, 9,1)

Trang 7

[11] Paul of Tarsus: the Apostle Everyone Ought to Know" và "The Apostle Paul: The Testimony of Joyamidst Suffering" Cả hai đều được ấn hành do NBX Vatican Polyglot Press (Vatican City) năm 2002 và 2004.

cứ phá hoại Hội Thánh : ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục (Cv 8,1-3)

Phaolô, cũng được gọi là Saolô (Xc Cv 13,9) không phải làngười có tính khí ôn hòa để dễ dàng thực thi đức kiên nhẫn Trướckhi trở lại, ông là người "hằm hằm đe dọa giết các môn đệ Chúa"(Cv 9,1)

Thánh Luca xác định ông Saolô "tán thành việc giết ôngStêphanô" (Cv 8,1), như chính ông xác nhận khi công khai bày tỏvới những người Do Thái ở Giêrusalem: "khi máu của ôngStêphanô, chứng nhân của Chúa, đổ ra, thì chính tôi cũng có mặt,tôi tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy" (Cv 22,20; Xc.7,58)

Sau cái chết của ông Stêphanô, Hội Thánh ở Giêrusalem bị bắt

bớ dữ dội", còn ông Saolô thì "vào từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn

bà đi tống ngục" (Cv 8,2-3)

Điều này được Đức Giêsu xác nhận, khi Người đặt câu hỏi vớiông Saolô trên đường đến Damas: "Saun, Saun, sao ngươi bắt bớTa?" Ông hỏi: "thưa Ngài, Ngài là ai?" Người đáp: "Ta là Giêsu màngươi đang bắt bớ!" (Cv 9,4-5)

Trang 8

Trong lần biện hộ đầu tiên trước những người Do Thái ởGiêrusalem, ông Phaolô khiêm nhường thú nhận: "tôi đã bắt bớ Đạonày, đến nỗi giết kẻ theo đạo, đã xiềng xích và tống ngục đàn ôngcũng như đàn bà, như cả vị thượng tế lẫn toàn thể đoàn kỳ mục làmchứng cho tôi Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em,

và tôi đã đi Đamat để bắt trói những người ở đó, giải về Giêrusalemtrừng trị" (Cv 22,4-5; Xc 9,1-2)

Còn ông Khanania, người được Chúa mời đi tới Damas để đặttay trên ông Saun và làm cho ông Saun nhìn thấy được, đã ngầnngại hỏi Chúa: "Lạy Chúa, con đã được nghe nhiều kẻ nói về người

ấy về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho các thánh của Chúatại Giêrusalem Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyềnbắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa" (Cv 9,13-14)

Quá khứ của ông Saolô là trở ngại trong bước khởi đầu đi raogiảng, như chính Đức Giêsu mạc khải cho ông khi ông đang xuấtthần cầu nguyện trong đền thờ: "mau lên, hãy rời khỏi Giêrusalemgấp, vì chúng sẽ không chấp nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đi xa, đến với các dân ngoại" Và ôngPhaolô hăng hái đón nhận: " Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đãđến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin vào Chúa.Khi máu của ông Stêphanô, chứng nhân của Chúa, đổ ra, thì chínhcon cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy"(Cv 22,18-21)

Trong lần biện hộ thứ ba trước vua Agripa, ông Phaolô xác nhận:

"về phần tôi, trước kia tôi nghĩ rằng phải dùng mọi cách để chống lạiDanh Giêsu người Nazarét Đó là điều tôi đã làm tại Giêrusalem.Được các thượng tế ủy quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trongcác thánh; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành Nhiều lần tôi

đã đi khắp các hội đường, trừng trị để cưỡng bức họ nói phạmthượng Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành ở nướcngoài mà bắt bớ họ" (Cv 26,9-11)

Mối ân hận vì đã bách hại các môn đệ Chúa Kitô luôn giày vòtâm hồn ông, như có thể đọc thấy trong thư gửi giáo đòan Côrintô:

"tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đángđược gọi là tông đồ, vì đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa" (1Cr15,9) Đồng thời, ông hon ton ý thức rằng "Thiên Chúa đã dànhriêng tôi ra ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ" (Gl 1,15)

Trang 9

Khi chống lại những kẻ muốn làm lung lạc đức tin của các tínhữu thành Philíp về vấn đề phép cắt bì, ông đã kể lại thái độ cựcđoan của mình trong quá khứ và nói rõ ông là người "hăng sayngược đãi Hội Thánh" (Pl 3,6).

Ông cũng nhắc lại điều này với các tín hữu Galát: "Anh em hẳn

đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do Thái; tôi đãquá hăng say bắt bớ và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của ThiênChúa; tôi đã tiến xa trong đạo Do Thái, vượt nhiều đồng bào cùnglứa tuổi với tôi, vì quá đỗi nhiệt thành với các truyền thống của chaông" (Gl 1,13-14) Sau đó ông kể lại cho họ biết rằng "các Hội Thánhtrong Đức Kitô tại miền Giuđê không biết mặt ông, nhưng cũng nghebiết ông là người bắt bớ những ai tin theo Đức Kitô" (Xc Gl 1,22-23)

Ông còn thú nhận với môn đệ Timôthê : "Trước kia tôi là kẻ nóilộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược", và ông cũng cảm tạ Chúa bởiông đã được Chúa "thương xót, vì tôi đã hành động vô ý thức, khichưa có lòng tin" (1Tm 1,12-13,16)

Tất cả những ai biết ông đều lo ngại về quá khứ của ông Thậtvậy, sau cuộc trở lại khi ông công bố giữa hội đường rằng ĐứcGiêsu là Con Thiên Chúa, "mọi người nghe ông giảng đếu sửng sốt

và nói: "Ông này chẳng phải là người ở Giêrusalem vẫn tiêu diệtnhững ai kêu cầu Danh Giêsu sao? chẳng phải ông đã đến đấy vớimục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?" (Cv 9,21)

Để hiểu được tinh thần mà vì thế ông Phaolô bách hại HộiThánh, cần phải nhớ rằng ông từng là thành viên của phái Pharisêu,phái "nghiêm nhặt nhất" trong Do Thái Giáo, nhóm tuyên bố rằngmình là đại diện cho Israel đích thực (xc Cv 26,5-6) Chính ông thúnhận mình đã từng thuộc phái Pharisêu, giữ luật như ngườiPharisêu (Xc Pl 3,5), quá đỗi nhiệt thành với các truyền thống củacha ông" (Gl 1,14)

Phaolô luôn tự nhận mình là thành phần dân Israel Ông luônkhao khát rằng "Dân của lời hứa" (xc Rm 15,8; Cv 13,32; 26,6) cóthể lãnh nhận ơn cứu độ được ban cho Israel và mọi dân khác, quatác vụ của ông (xc Rm 11,13-14) Nỗi khao khát ấy thiêu đốt ôngđến nỗi ông mong muốn đi đến tận cùng, ước gì "bị tru diệt, xa lìaĐức Kitô vì các anh em đồng bào của tôi theo huyết thống" (Rm9,3)

Trang 10

Biến cố trên đường Damas là biến cố làm đảo lộn, tác động hoàntoàn tâm trạng của Phaolô Đó là sự thay đổi toàn diện và tức khắc:

từ nhiệt thành với lề luật, ông chuyển sang lòng nhiệt thành với ĐứcKitô (xc Gl 1,15-17), làm mọi sự có thể để đáp lại lời mời của ĐứcKitô (xc Pl 3,12-14)

Chương II

Anh em hãy học với tôi,

vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường

(Mt 11,29)Ông Sao-lô vẫn còn hằm hằm đe doạ giết các môn đệ Chúa, nên đã tới gặp thượng tế xin thư giới thiệu đến các hội đường ở Đa-mát, để nếu thấy những người theo Đạo, bất luận đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giê-ru-sa-lem Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng

từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông : "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta ?" Ông nói : "Thưa Ngài, Ngài là ai ?" Người đáp : "Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ 6 Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì." Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ : họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đa-mát Suốt ba ngày, ông

không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống (Cv 9,1-9)

Ngay sau khi trở lại, ông Phaolô đã nhận được giáo huấn từ ĐứcGiêsu là Thầy như Người đã được mọi người nhìn nhận (xc Ga13,13; Mt 19,16; 22,16,36; Mc 9,5,17,38; Lc 7,40; 17,13; Ga 3,2;11,28) Thật vậy, chỉ một mình Đức Giêsu là Thầy chân thật (xc Mt23,8) Ông Phaolô đã đón nhận toàn bộ tư tưởng của Thầy đến nỗiông có thể nói lên: "tôi sống, nhưng không còn phải là tôi mà là ĐứcKitô sống trong tôi" (Gl 2,20)

Trang 11

Để hiểu được toàn bộ cuộc đời của Phaolô, với những khoảnhkhắc anh hùng về lòng kiên nhẫn và sứ điệp của ông về nhân đứcnày, cần phải nhắc lại chứng cớ và giáo huấn của Thầy Giêsu về đềtài này.

Không ai có thể sánh với Đức Giêsu trong việc thực thi đức kiênnhẫn Do vậy, chính Người nêu lên Người là mẫu gương của sựkiên trì: "anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêmnhường" (Mt 11,29) Rất nhiều đoạn Tin mừng[1] minh họa chân lýnày[2]

Đức Giêsu trách mắng hai ông Giacôbê và Gioan vì không đủnhẫn nại và muốn trả thù khi muốn xin lửa từ trời xuống đốt cháyngôi làng Samaria đã không đón nhận Thầy của các ông (xc Lc9,51-55) Người cũng có thái độ tương tự khi ông Phêrô chém đứttai phải của Mancô trong Vườn Cây Dầu (xc Ga 18,10)

Đức Giêsu tỏ ra nhẫn nại vô bờ khi sống với các môn đệ, nhữngngười thường tỏ ra là kém đức tin (xc Mt 6,30; 8,26; 14,31; 16,8; Lc8,24-25; 12,28; Mc 4,39-40; 8,17) và tràn đầy sợ hãi (xc Mt 8, 25-26; Mc 4,39-40; 6,49; 9,32; Lc 24,37,41; Ga 6,19) Một số ngườitrong họ cho rằng sứ điệp của Thầy khó chấp nhận và lìa bỏ Người(xc Ga 6,60, 66) Ông Phêrô cũng thường phản đối (xc Mt 16,22;

Ga 13,8) Hai anh em ông Giacôbê và Gioan muốn tìm chỗ nhất (xc

Mt 20,20-23; Mc 10,35-40), nhưng đến khi ở Vườn Cây Dầu, cácông không thể tỉnh thức để chia sẻ với Thầy, người đang "buồn đếnchết được" (xc Mt 26,38-40) Khi Đức Kitô chịu khổ nạn, tất cả chạytrốn, bỏ lại Người một mình (xc Mt 26,56; Ga 16,21) Họ "chưa hiểu,chưa thấu" và "lòng chai đá" (xc Mc 8,17-18) Giuđa phản bội Người(xc Mt 27,47-50) còn Phêrô thì chối Thầy (xc Mt 26,69-74) Các ôngkhông tin câu chuyện ngôi mộ trống do Maria Macđala thuật lại (xc

Mc 16,11,14), coi đó là "chuyện vớ vẩn" (xc Lc 24,11), vì các ôngchưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải sống lại từ cõichết" (Ga 20,9; XC Lc 24,25-27, 44-46) "Các ông hoài nghi", khiĐấng Phục Sinh hiện ra với các ông ở Galilê (xc Mt 28,17) ÔngTôma nhấn mạnh phải có chứng cớ về sự phục sinh (xc Ga 20,24-25) Các môn đệ trên đường Emmaus "buồn rầu" và không chút hyvọng (xc Lc 24,17, 21)

Tuy nhiên, Đức Giêsu "đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tớiđó" (Cv 10,38) Người đón tiếp các tội nhân với lòng thương cảm và

Trang 12

yêu mến (xc Mt 9,10-11; 11,19; Lc 15,12), dù rằng Người bị coi như

là "dấu chỉ của sự mâu thuẫn" (xc Lc 2,34), "vì Người mà đám đôngđâm ra chia rẽ" (xc Ga 7,43; 10,19) Người không chống lại khingười ta cáo buộc là "bị quỷ ám" (xc Ga 10,20; 7,20; 8,48,52; Mt12,24; Mc 3,22) hay là "tên bịp bợm" (xc Mt 27,63), "điên khùng"(xc Ga 10,20; Mc 3,21), "kẻ lộng ngôn" (xc Ga 10,33; Lc 5,21; Mt9,3; 26,65; Mc2,6), "người xách động" (xc Lc 23,2), "là ngườiSamari – tức là lạc giáo" (xc Ga 8,48), "tay ăn nhậu, bạn bè vớiquân thu thuế và phường tội lỗi" (xc Lc 7,34), là "người có tội" (xc

Ga 8,46)

Nhất l Đức Kitô tỏ ra kiên nhẫn cch lạ thường khi chịu khổ nạn.Trong Vườn Cây Dầu, sau khi xin với Cha cứu Người khỏi đau khổ,Người khiêm tốn đặt mình hoàn toàn tuân phục thánh ý Cha, với sựcam chịu tột cng : "xin cho ý Cha được thể hiện" (Mt 26,42), và "xinđừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn" (Mc 14,36)

Đức Giêsu "không làm điều gì sai trái" (Lc 23,41) Thật vậy, ngay

cả Philatô cũng "không tìm thấy lý do gì để kết tội Đức Giêsu" (Ga19,6) Mặc dù Người hoàn toàn vô tội (xc Mt 26,61; 27,12), nhưngkhi bị vu cáo (xc Mt 26,61; 27,12), bị chế nhạo, bị xỉ nhục (xc Mt27,39-44; Lc 22, 63-65), và bị khạc nhổ (xc Mt 26,67-68; 27,30;Mc15,19; Lc 22,63; Ga 18,22), Người vẫn giữ "yên lặng", như bốnsách Tin mừng đã làm chứng (xc Mt 27,14; Mc 14,60; Lc23,10; Ga19,8) Các Tin mừng đều lặp đi lặp lại đức kiên nhẫn của Đức Giêsuqua giáo huấn của Người

Chương trình về kiên nhẫn do Đức Giêsu công bố, được bày tỏtrong "Tám mối phúc thật" hay còn được gọi là "Đại Hiến Chươngcủa Kitô giáo" Bài giảng trên núi cho thấy có những loại người đượcchúc phúc: đó là những người có tinh thần nghèo khó, "vì Nước Trời

là của họ"; những người sầu khổ "vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an";Những người hiền lành "vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp";những người khát khao nên công chính "vì họ sẽ được Thiên Chúacho thỏa lòng"; những ai xót thương người "vì họ sẽ được ThiênChúa xót thương"; những ai có tâm hồn trong sạch "vì họ sẽ đượcnhìn thấy Thiên Chúa"; những ai xây dựng hòa bình "vì họ sẽ đượcgọi là con Thiên Chúa"; những ai bị bách hại vì sống công chính "vìNước Trời là của họ" Đức Giêsu đặc biệt nĩi đến loại người cuốicùng này, như muốn nhấn mạnh rằng những ai muốn theo Người

Trang 13

phải biết thực thi đức kiên nhẫn, nhất là trong khi bị bách hại: "Phúcthay anh em khi vì Thầy mà bị người ta xỉ vả, bách hại và vu khống

đủ điều xấu xa" (Mt 5,3-11)

Những người môn đệ Đức Kitô phải bày tỏ lòng yêu mến những

kẻ bách hại mình: "anh em đã nghe luật dạy rằng: hãy yêu đồng loại

và hãy ghét kẻ thù Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù vàcầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em" (Mt 5,43-44) Họkhông được nuôi lòng giận dữ với anh em mình, vì "ai giận anh emmình, thì đáng bị đưa ra tòa" "nếu khi anh sắp dâng lễ vật trướcbàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình vớianh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh

em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình" (Mt 5,22-24)

Kitô hữu phải biết cách kiên nhẫn đón nhận mọi điều bất công.Khía cạnh mới của sứ điệp Tin mừng trong tương quan với giáohuấn truyền thống (của người Do thi) được sng tỏ trong cách đáp trả

sự ngược đãi của thù địch: "anh em đã nghe Luật dạy rằng: mắt đềnmắt, răng đền răng, còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cựngười ác; trái lại, nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái

ra nữa" (Mt 5,39)

Đức Giêsu cũng cho thấy những khía cạnh khác nhau của đứckiên nhẫn qua một số dụ ngôn Trong dụ ngôn cỏ lùng, Đức Giêsumuốn dạy cho các môn đệ của Người biết kiên nhẫn trước mầunhiệm sự dữ[3]. Còn trong dụ ngôn cây vả không ra trái, Người muốngợi lên sự nhẫn nại thông cảm[4]. Trong dụ ngôn mười trinh nữ cầmđèn đi đón chàng rể, Người muốn khuyến khích các thính giả biếtkiên trì chờ đợi[5] Câu chuyện người gieo giống tung gieo hạt giống

ở mọi nơi cho thấy sự kiên trì cuối cng sẽ được n thưởng[6] Đứckiên trì cũng được thể hiện nơi người mục tử và người đàn bà khi cốcông tìm kiếm con chiên lạc cũng như đồng bạc bị đánh rơi (Lc 5,4-10)

Lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa và sự thiếu kiên nhẫn của conngười được minh họa rõ ràng trong dụ ngôn quen thuộc "người conhoang đàng", một trong những kiệt tác về văn chương của thế giới(xc Lc 15,11-32) Cũng vậy, dụ ngôn về tên đầy tớ không có lòngthương xót cng làm rõ sự tương phản giữa một Thiên Chúa nhân từkiên nhẫn với con người không có lòng xót thương[7]

Trang 14

Những kẻ nào không biết đợi chờ thì không thể có đức kiên trì.Trong bữa ăn tối cuối cùng với các môn đệ, Đức Giêsu nói với cácông: "anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầygặp thử thách gian nan", và do đó Người bảo đảm với các ông là họxứng đáng gia nhập Vương Quốc[8]. Và để trnh mọi sự hiểu lầm,Người thêm: "Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình"[9]

[1] Bản văn đầu tiên của Tin mừng Matthêu đựơc viết bằng tiếng Aram vào khỏang năm 64, nhưng

không được lưu truyền tới chúng ta Vào những năm từ 70-80, bản văn này được dịch ra tiếng Hylạp nhờ vào Tin mừng Maccô Điều này giải thích tại sao có nhiều nét tương đồng giữa hai bản văn Tin mừng Máccô,có

lẽ, được viết vào khỏang 65 Tin mừng Luca xuất hiện khỏang 70-80, còn Tin mừng Gioan vào khỏang 90-50.

Cả 4 bản văn Tin mừng theo tiếng Hy lạp xử dụng tổng cộng 64 327 từ, được phân chia như sau Tin mừng Luca : 19 404 với 2 055 từ căn bản được lập đi lập trong 24 chương.

Tin mừng Matthêu : 18 278 với 1 691 từ căn bản trong 28 chương.

Tin mừng Gioan : 15 146 với 1 011 từ căn bản trong 21 chương.

Tin mừng Maccô : 11 229 với 1 346 từ trong 16 chương.

[2] Tin mừng ghi lại nhiều cách diễn tả khác nhau của Đức Giêsu được xem như coi như nói về thái độ

không kiên nhân (Xc Mc 3,5; 9,19; 10,14; 15,17; Mt 16,4 23; 21,18-19; Ga 3,36) Trong thực tế, mỗi tác giả sách Tin mừng đã đưa ra những giải thích cá nhân với ngôn ngữ của nhân loại về một số hoạt động của Thầy Đó là vấn đề của trường hợp tương tự liên quan đến hình ảnh của Đức Chúa được nói đến trong Cựu ước, trong đó các người viết đã gán cho Thiên Chúa những cảm nghĩ của lòai người Do vậy, chẳng hạn thánh Matthêu gán cho con người Đức Kitô sự đối lập trong các giáo hội tiên khởi và hội đường và đã thốt ra

7 nỗi khổ mà trong đó âm thanh được xem là lời nguyền rủa chống lại luật sỹ và biệt phái Người nhiều lần gọi

họ là : "những kẻ giả hình, quân dẫn đường mù quá, đồ ngu si, mồ mả tô vôi, đồ mãng xà, nòi rắn độc" (Xc.

Mt 23,13-36; Lc 11,39-48 25).

[3] Đức Giêsu ví nước trời như người gieo giống gieo hạt giống tốt trên ruộng mình, nhưng khi ông ta

ngủ, kẻ thù đến gieo cỏ lùng Xc Mt 13,24-31.

[4] thi hành đức kiên nhẫn qua việc đợi chờ và hiểu biết là thái độ của người đầy tớ khiêm tốn thưa với

chủ: xin ông hoãn quyết định chặt cây vả (Xc Lc 13,6-9).

[5] Nước trời đựơc ví với 10 cô trinh nữ cầm đèn đón chàng rể, trong đó có 5 cô khờ và cô khôn (Xc.

Mt 25,1-13; Lc 12,32-48).

Tương tự như thế, các đầy tớ trung thành chờ đợi chủ trở về được gọi là người có phúc (Xc Lc 38; Mt 24,45-51).

12,35-[6] Minh chứng cách đặt biệt là sự kiên trì của người gieo giống, mặc dù công việc không đạt kết quả,

ông vẫn tiếp tục gieo cho đến khi hạt giống rơi vào đất tốt và sinh được 100 (Xc Lc 8,4-8; Mt 13,1-9; Mc

Trang 15

(Cv 24,5)

Rồi ông ăn và khoẻ lại Ông Sao-lô rao giảng tại Đa-mát Ông ở lại Đa-mát với các môn đệ mấy hôm, rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa Mọi người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói : "Ông này chẳng phải là người ở Giê-ru-sa-lem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giê-su sao ? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao

?" (Cv 9,19-21)

Một thời đã từng là người hung hăng bách hại Giáo Hội, chínhPhaolô cũng bị người Do Thái, những người không tin và nhữngngười giả danh Kitô hữu truy đuổi (xc 2Cr 11,26) Vì vậy trong các

lá thư, thánh nhân cũng thường ám chỉ đến cuộc truy bắt của nhữngngười Do Thái (xc Rm 15,31; 2Cr 11,24-26; Gl 5,11; 1Tx 2,14-16),

và nói rõ đó là những thời khắc khó khăn nhất phải chịu đựng

Khi nói về cuộc bách hại do những người Do Thái đưa ra đểchống lại Giáo Hội sau khi ông Stêphanô bị giết, có lẽ thánh Lucamuốn cho thấy bạo lực quần chng có thể xảy ra trong bất cứ thể chếtôn giáo no, khi nĩ cảm thấy bị đe dọa bởi một phong tro mới Trongnhững tình huống như vậy, hội đường công bố cc cá nhân là lạcđạo, rồi sau đó truy bắt và giết những ai không chia sẻ giáo huấn

Trang 16

chđn truyền, như trường hợp của Đức Giísu, câc ông Stíphanô văPhaolô.

Trong câc lâ thư, Thânh Tông Đồ liệt kí rất nhiều lý do khâcnhau của những cuộc bâch hại như thế

Chắc chắn rằng, lý do đầu tiín lă "loan bâo Tin Mừng về đức tin

mă trước đđy ông muốn tiíu diệt" (Gl 1,23) Lăm như thế, thânhnhđn thch thức những yếu tố nền tảng của Do thi giâo, m ông coinhư "vơ gi trị" so với đặc tính tuyệt vời lă biết Đức Kitô (xc Pl 3,4-8).Yếu tố chính yếu l lời rao giảng của Phaolơ khi ơng tuyn bố rằngthănh phần dđn Thiín Chúa không đòi buộc phải chịu cắt bì (xc Gl3,1-5; X 5,11; Cv 15,8-11), hay tuđn giữ những quy định của lề luật

về sự thanh sạch theo luật (xc Gl 2,11-21)

Cuối cùng, ông bị tố câo lă không coi trọng câc đòi hỏi luđn lý,một câo buộc mă ông bc bỏ như một lời vu khống (xc Rm 3,7-8)

Vì những lý do trín, người Do Thâi đê kể ông "như một thứ ôndịch, chuyín gđy nổi loạn giữa những người Do Thâi khắp mọi nơi"(Cv 24,5; X 16,20; 17,6) Vì thế, theo như sâch Công Vụ thuật lại,

họ liín tục truy đuổi ông

Tại Damas, ngay sau khi gặp Đức Kitô vă lần đầu tiín ông lămchứng Đức Giísu lă Đấng Kitô, người Do Thâi giận dữ đến nỗi

"cùng nhau băn kế giết ông" (xc Cv 9,22-23) Ngay cả ởGiírusalem, họ cũng "tìm câch giết ông" (xc Cv 9,29)

Trong hội đường Antiôkia ở Pisidia, khi ông Phaolô cùng với ôngBanabí công bố rằng "điều Thiín Chúa hứa với cha ông chúng ta,thì Người đê thực hiện đầy đủ cho chúng ta lă con châu của câcngăi khi lăm cho Đức Giísu sống lại người Do Thâi đầy lòng ghentức, họ dùng lời phạm thượng mă phản đối những điều ông Phaolônói họ khích động những phụ nữ thượng lưu tôn thờ Thiín Chúa

vă những thđn hữu trong thănh, xúi giục họ bắt bớ ông Phaolô vẵng Banaba, vă trục xuất hai ông ra khỏi lênh thổ của họ Hai ông

đi tới Icônio" (Cv 13,32-33, 45,50-51)

Tại Icôniô, "những người ngoại vă những người Do thâi, cùngvới câc thủ lênh của họ, mưu toan lăm nhục vă nĩm đâ hai ông Biếtthế, hai ông lânh xa câc thănh miền Lycaonia lă Lytra, Đecbí, vă câcvùng phụ cận; Tại đó, câc ông tiếp tục loan bâo Tin Mừng" (Cv 14,5-7)

Trang 17

Tại Lytra, có những người Do Thái từ Antiôkia và từ Icôniô đến,

"thuyết phục được đám đông dân chúng Họ ném đá ông Phaolô rồilôi ông ra ngoài thành, vì tưởng là ông đã chết" (Cv 14,19)

Tại Philíp, Phaolô cùng với Sila, đã trừ quỉ cho một người tớ gái,người đã làm cho các chủ của cô kiếm được nhiều lợi lộc do bĩi tốn.Khi thấy hy vọng kiếm lợi của mình đã tiêu tan, các ông chủ của côliền bắt hai nhà truyền giáo, điệu đến trước quan tòa và tố cáo:

"những người này gây xáo trộn trong thành phố chúng ta; Họ làngười Do Thái và họ truyền bá những tập tục mà người Rômachúng ta không được phép chấp nhận và tuân theo Đám đông nổilên chống hai ông Các quan toà, sau khi đã cho lột áo hai ông, ralệnh đánh đòn Khi đã đánh nhừ tử, họ tống hai ông vào ngục vàtruyền cho viên cai ngục phải canh giữ cẩn thận Được lệnh đó,người này tống hai ông vào phòng giam sâu nhất và cùm chân lại".Sáng ngày, khi biết các ông là công dân Rôma, và không được đánhđòn hai ông, các quan toà buộc phải xin lỗi hai ông (Cv 16,14-39).Tại Thessalônica, người Do Thái "sinh ghen tức" vì có một sốngười đã tin theo và nhập đoàn với ông Phaolô và ông Xila; một sốrất đông những người Hy lạp tôn thờ Thiên Chúa và một số phụ nữquý phái cũng làm như vậy, nên họ quy tụ một số du đãng đầuđường xó chợ, họp thành đám đông gây náo loạn trong thành Họ lôihai nhà truyền giáo ra trước nhà chức trách thành phố, tố cáo haiông "làm ngược các chiếu chỉ của Hoàng Đế, và công bố "một vuakhác là Giêsu" Sau khi đã nộp tiền bảo lãnh, các ông được thả ra(Cv 17,4-9; X 1Tx 2,14) Phaolô kể lại kinh nghiệm đau buồn nàytrong lá thư thứ nhất gửi tín hữu Thessalônica: "Như anh em đã biết,chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục tại Philíp; nhưng dựa vào ThiênChúa chúng ta mà chúng tôi đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng củaThiên Chúa cho anh em, trong một cuộc chiến đấu gay go" (1Tx2,2)

Tại Beroia, "khi những người Do Thái ở Thêxalonica biết là ôngPhaolô cũng loan báo Lời Thiên Chúa ở Beroia nữa, thì họ lại đếnkhuấy động và gây xôn xao trong đám đông dân chúng", buộcThánh Tông Đồ phải rời đó để đi Athêna (xc Cv 17,13-15)

Những người Do Thái ở Côrintô, khi nghe chính Thánh Tông Đồcông bố Đức Giêsu là Đấng Kitô, thì đã nhất tề nổi dậy chống ông

Trang 18

Phaolô; họ đưa ông ra tòa và nói: "tên này xúi giục người ta tôn thờThiên Chúa trái với Lề Luật" (Cv 18,5-6, 12-13).

Phaolô ở Êphêsô hai năm, "khiến mọi người sống ở Asia, người

Do Thái cũng như người Hy Lạp đều được nghe Lời Chúa" Nhưngmột số người thợ bạc trong thành phố, sợ rằng lời giảng của ThánhTông Đồ có thể gây ảnh hưởng xấu trong việc bán "mô hình đền thờ

nữ thần Artêmi bằng bạc", nên đã xúi giục dân chúng chống lạiThánh Tông Đồ và buộc ông phải đi đến Makêđônia (xc Cv 19,10,23; 20,1) Khi các kỳ mục từ Êphêsô đến gặp ông tại Milêtô, lúc ôngđang trên đường đi Giêrusalem, ông thú nhận: "khi phục vụ ThiênChúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã phải rơi lệ, đã gặp thử thách donhững âm mưu của người Do Thái" (Cv 20,19)

Tại Giêrusalem, đám đông dân chúng bị những người Do Thái từAsia đến khuấy động, nên "tìm cách giết ông" Ông đã được cứuthoát nhờ sự can thiệp của toà án, qua việc "bắt và lấy xiềng còngông lại" (Cv 21,31, 33-36) Người Do Thái, tức giận vì lời lẽ ôngPhaolô kể lại ơn gọi và sự công chính do việc ông làm, đã hò héttrước toà: "hãy bứng khỏi mặt đất loại người như thế! Nó khôngđáng sống

Nhờ là công dân Rôma, ông đã thoát khỏi bị đánh đòn, nhưngbuộc phải ra trước Thượng Hội Đồng "Thượng tế Khanania ra lệnhcho các phụ tá đánh vào miệng ông Bài diễn văn của ông đề cậpđến việc sống lại gây ra tranh luận giữa người Pharisêu và nhómXa-Đốc Viên chỉ huy sợ rằng "họ có thể xé xác ông Phaolô", nên đãlôi ông và đem về đồn Tuy nhiên, người Do Thái vẫn giữ ý định Mộtnhóm trên 40 người "đã bày mưu tính kế và thề rằng sẽ không ănuống gì cho đến khi giết được ông Phaolô" (xc Cv 21, 22-23, 23,14)

Để giúp cho ông Phaolô thoát khỏi âm mưu những người muốn

ám hại ông, viên chỉ huy đã cho người hộ tống ông đến Xêdarê; tại

đó, ông bị giam tù hai năm, dù rằng ông đã được đưa ra trước tổngtrấn Phêlich (xc Cv 21,23, 23,24, 27) Vì là công dân Rôma (xc Cv22,25-27; 16,37), ông Phaolô đã kháng cáo lên Hoàng Đế, và vì vậyông đến Rôma (xc Cv 25,11-12)

Qua nhiều gian nan vất vả, kể cả bị đắm tàu (xc Cv 27,9-43),cuối cùng ông Phaolô đến Rôma (xc Cv 28,15) Tại đây, ông bị giamgiữ tại nhà riêng hai năm, có lính canh bên ngoài, và ông "rao giảngNước Thiên Chúa và dạy về Chúa Giêsu Kitô" (Cv 28,16, 30-31)

Trang 19

Dầu vậy, ngay tại Rôma, vào cuối đời ông đã phải tranh đấu vớimột số người Do Thái, "những kẻ rao giảng Đức Kitô vì đố kỵ và cãicọ , vì tranh chấp, không có lòng ngay, thường là gây gian nan chotôi, trong lúc tôi bị xiềng xích" Nhưng, ông không màng chi chuyệnđối kháng: "có can gì không? trừ ra điều này là Đức Kitô được raogiảng cách này hay cách khác, với ý xấu hay ý lành, thế là tôi vuimừng rồi" (Pl 1,15, 17-18).

Đức kiên trì anh hùng của Thánh Phaolô qua nhiều cơn thửthách và nỗi khổ cực trong suốt cuộc đời đã được thánh nhân kể ranhiều lần trong các lá thư của mình

Chứng từ được biết đến nhiều nhất được tìm thấy trong lời bochữa chi tiết v mnh liệt về tính chính thống và hợp pháp trong cơngviệc truyền gio của ngi, v trong những lời đả kích dũng cảm vàthường là quyết liệt của thánh nhân, chống lại những người đặt vấn

đề về sứ vụ của thánh nhân với tư cách là một tông đồ, nhất là vìnhững khốn khó thánh nhân đã chịu (xc 2Cr 4,7-15; 6,3-10; 11,23-33), tình trạng yếu đuối thể lý (xc 2Cr 10,1,10; 1Cr 2,1-5), sự thiếu

Ngày đăng: 19/03/2023, 15:48

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w