Nghiên cứu vai trò của bọ chét Xenopsylla cheopis trong các ổ dịch dai dẳng ở Tây Nguyên và kết quả một số biện pháp can thiệp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
-
PHẠM NGỌC MINH
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA BỌ CHÉT
XENOPSYLLA CHEOPIS TRONG CÁC Ổ
DỊCH HẠCH DAI DẲNG Ở TÂY NGUYÊN
VÀ KẾT QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
Chuyên ngành: Ký sinh trùng
Mã số : 1.05.18
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2BỘ MÔN KÝ SINH TRÙNG - TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TÂY NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Đặng Tuấn Đạt
Phản biện 1 : GS.TS Lê Bách Quang
Học viện Quân Y Phản biện 2 : PGS.TS Đỗ Sỹ Hiển
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Phản biện 3 : PGS.TS Nguyễn Đức Mạnh
Viện Sốt rét – Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương
LUẬN ÁN SẼ ĐƯỢC BẢO VỆ TRƯỚC HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN ÁN CẤP NHÀ NƯỚC
HỌP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Vào hồi: 8 giờ 30’ ngày 06 tháng 06 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội
Trang 3LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Phạm Ngọc Minh, Đặng Tuấn Đạt, Phạm Văn Thân (2005), “Điều tra các loài vật chủ và trung gian truyền bệnh tại các ổ dịch
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Dịch hạch là một bệnh dịch của loài gặm nhấm được truyền sang người chủ yếu qua vết đốt của bọ chét Bệnh cổ điển thường nặng, tỷ
lệ tử vong cao và có xu hướng gây thành dịch lớn
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung, y học nói riêng, con người đã kiểm soát được bệnh dịch hạch, không cho bùng phát thành đại dịch, tuy nhiên vẫn chưa phải hoàn toàn loại trừ được bệnh này
Tại Việt Nam, bệnh nhân dịch hạch đầu tiên được ghi nhận vào năm 1898 tại Nha Trang Tính từ khi xâm nhập đến nay, dịch hạch
đã thấy xuất hiện ở 42 tỉnh, thành phố trong cả nước Số người mắc
và chết do dịch hạch ở Việt Nam có những giai đoạn cao nhất thế giới, trong đó chủ yếu xảy ra ở khu vực miền Trung và sau này là các tỉnh Tây Nguyên Sau năm 1990 tại khu vực Tây Nguyên vẫn còn sự lưu hành dai dẳng của các ổ bệnh dịch hạch trong các loài gặm nhấm gần người, khi gặp điều kiện thuận lợi, bệnh sẽ bùng phát thành dịch
và lây lan sang người thông qua vector bọ chét Xuất phát từ thực tế
đó, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu vai trò của bọ
chét Xenopsylla cheopis trong các ổ dịch hạch dai dẳng ở Tây
Nguyên và kết quả một số biện pháp can thiệp” với mục tiêu:
1 Xác định vai trò của bọ chét Xenopsylla cheopis trong các
ổ dịch hạch dai dẳng ở Tây Nguyên
2 Đánh giá kết quả của một số biện pháp can thiệp khống chế bọ chét dưới mức nguy hiểm
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
CỦA LUẬN ÁN
1 Xác định Rattus exulans là vật chủ chủ yếu của Yersinia pestis tại
các ổ dịch hạch dai dẳng ở Tây Nguyên:
- Có quần thể đông nhất: tỷ lệ 91,81%
Trang 5- Có tần suất cao nhất: 100%
- Chỉ số phong phú cao nhất: 6,99%
- Tỷ lệ nhiễm X.cheopis cao: 58,11%
- Tỷ lệ nhiễm Y.pestis: 1,50% và chỉ dương tính ở loài này
2 Xác định vai trò của X.cheopis là vector chủ yếu truyền Y.pestis từ
chuột sang chuột và sang người tại các ổ dịch hạch dai dẳng ở Tây Nguyên:
- X.cheopis gặp ký sinh trên tất cả 8 loài chuột gần người thu
thập được
- Chỉ số X.cheopis trung bình trên R.exulans là 1,30; trên mức
nguy hiểm
- Tỷ lệ nhiễm Y.pestis từ bọ chét là 1,72%
- Tỷ lệ chuột nhiễm X.cheopis và CSBC X.cheopis quanh năm
cao trên mức nguy hiểm là một trong các yếu tố góp phần duy trì sự dai dẳng của dịch hạch tại các ổ dịch tại Tây Nguyên
3 Đánh giá về các biện pháp can thiệp diệt bọ chét:
- Diệt bọ chét bằng đặt hộp mồi Kartman cải tiến rất hiệu quả vì
phù hợp với sinh thái R.exulans Sau 1 tháng đã khống chế được chỉ
số bọ chét X.cheopis ở mức dưới 1 và ổn định ở mức thấp trong suốt
12 tháng theo dõi
- Diệt bọ chét bằng phun Permethrin tồn lưu có tác dụng ngay sau phun, nhưng tác dụng sau 3 tháng giảm dần Sau 12 tháng hầu như không còn tác dụng
- Phun Permethrin tồn lưu phù hợp chống dịch tại các ổ dịch nóng cần dập dịch nhanh Đặt hộp mồi Kartman cải tiến phù hợp phòng chống dịch tại các ổ dịch hạch dai dẳng ở Tây Nguyên
BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 121 trang, trong đó: Đặt vấn đề (2 trang) Chương 1: Tổng quan (38 trang) Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (17 trang) Chương 3: Kết quả nghiên cứu (32 trang) Chương 4: Bàn luận (29 trang) Kết luận và kiến nghị (3 trang) Luận
án có 147 tài liệu tham khảo (88 tiếng Việt và 59 tiếng nước ngoài) Luận án có 31 bảng và 44 hình (26 biểu đồ, 3 đồ thị, 1 sơ đồ, 1 bản
đồ, 13 ảnh)
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Quá trình phát triển của bệnh dịch hạch
Trang 61.1.1 Quá trình phát triển của bệnh dịch hạch trên thế giới
- Đại dịch thứ I bắt đầu năm 531, xuất phát từ Ai Cập sau lan tới Trung Đông, Bắc Phi, châu Âu và kết thúc vào năm 580, toàn thế giới có hơn 100 triệu người chết
- Xuất phát từ Trung Quốc năm 1334, sau đó lan tới Ấn Độ, châu Phi và châu Âu, đại dịch thứ II được mệnh danh là: “Bệnh chết đen” đã làm khoảng 65 triệu người thiệt mạng (châu Âu khoảng 25 triệu, châu Á và châu Phi khoảng 40 triệu)
- Đại dịch thứ III bắt đầu từ Hồng Kông năm 1894 Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống giao thông đường biển, chỉ sau 10 năm dịch đã nhanh chóng lan tới 87 thành phố hải cảng của cả 5 châu lục
1.1.2 Quá trình phát triển của bệnh dịch hạch tại Việt Nam
Lịch sử tồn tại của bệnh dịch hạch ở Việt Nam từ khi xuất hiện tới nay có thể chia làm 4 thời kỳ chính:
1.1.2.1 Thời kỳ đầu (1898-1922)
Giai đoạn này đánh dấu sự xâm nhập của bệnh dịch hạch vào Việt Nam Vụ dịch khởi đầu ở Nha Trang 1898, làm cho 72 người mắc trong đó có 53 người chết Năm 1906 một lần nữa, tàu biển từ Quảng Đông và Hồng Kông đã mang mầm bệnh đến, làm cho một nhóm Ấn kiều ở Sài Gòn mắc bệnh Từ đó dịch hạch lan ra các tỉnh phía Nam, Trung bộ Tại miền Bắc Việt Nam bệnh dịch hạch được ghi nhận lẻ tẻ vào đầu thế kỷ XX, bệnh lây truyền từ Trung Quốc qua biên giới đường bộ
1.1.2.2 Thời kỳ thứ hai (1923-1960)
Dịch lắng dịu, lưu hành có tính chất địa phương, dịch bệnh chủ yếu xảy ra ở khu vực miền Nam Thời kỳ này căn cứ vào tính chất, quy mô chia làm 2 giai đoạn:
Trang 7- Giai đoạn 1923-1940: Ở các địa phương miền Nam dịch hạch
xảy ra lẻ tẻ với quy mô nhỏ, còn ở các tỉnh miền Bắc không thấy dịch hạch xuất hiện
- Giai đoạn 1941-1960: Có lúc bệnh bùng lên thành các ổ dịch
quy mô nhỏ tại nhiều địa phương ở nam Trung Bộ và Nam Bộ Năm
1944 tại Lâm Đồng đã phát hiện được bệnh nhân dịch hạch đầu tiên
ở Tây Nguyên
1.1.2.3 Thời kỳ thứ ba (1961-1990)
Bùng phát các ổ dịch với quy mô nhỏ ở nhiều địa phương:
- Giai đoạn từ 1961-1975: Dịch bùng phát và có xu hướng lan
rộng khắp các tỉnh ở miền Nam, các tỉnh miền Bắc không có dịch
- Giai đoạn từ 1976-1990: Dịch xảy ra lẻ tẻ, tản phát, kéo dài,
thỉnh thoảng bùng lên những vụ dịch nhỏ Số người mắc và chết do dịch hạch ở Việt Nam trong nhiều năm cao nhất khu vực và thế giới, trong đó chủ yếu xảy ra ở Tây Nguyên
1.2 Lịch sử nghiên cứu bệnh dịch hạch
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu bệnh dịch hạch trên thế giới
Năm 1894, A.Yersin và S.Kitasato đã phân lập được vi khuẩn
Yersinia pestis nguyên nhân gây căn bệnh dịch hạch Vào năm 1910,
V.A.Khavlinhin thử nghiệm thành công vacxin dịch hạch đầu tiên tại
Ấn Độ Trong những năm tiếp theo, các nhà khoa học và chuyên gia của WHO cũng có nhiều công trình nghiên cứu sâu và tổng thể về bệnh dịch hạch, trong đó có R.Pollitzer, M.Baltazard, D.H.S.Davis, R.Devignat, G.Giranet, M.A.Gohan, L.Kartman, B.Velimirovic, V.A.Bibikova, L.N.Klasovsky, D.C.Cavanaugh, M.Bahmanyar, Mollared, T.Butler, E.Tikhomirov nghiên cứu một cách toàn diện
về bệnh dịch hạch và tìm ra các biện pháp phòng chống hiệu quả
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu bệnh dịch hạch tại Việt Nam
Trang 8- Trước năm 1975 chủ yếu do các tác giả nước ngoài, sau đó có
sự tham gia của một số tác giả Việt Nam Đầu tiên là nhà bác học người Pháp A.Yersin (1899), sau đó có: Gaide và Bodet (1932), J.D.Marshall, T.C.Gibson, D.C.Cavanaugh, Kỳ Vĩnh Thái, Trần Công Dung, Đào Văn Quý… Các công trình trên mới chỉ dừng ở mức thống kê tình hình dịch bệnh về mặt dịch tễ
- Sau năm 1975, Có các tác giả như: Nguyễn Tăng Ấm, Nguyễn Văn Nhẽ, Nguyễn Quang Huy, Lê Nhi, Huỳnh Hữu Đáng, Trần Công Phát, Cao Minh Tân, Bùi Quý Xiêm, Đỗ Trần Thận, Đỗ Thung, Nguyễn Duy Thanh, Nguyễn Ái Phương, Nguyễn Thị Thế Trâm, Đỗ Sỹ Hiển, Trương Sỹ Niêm, Đặng Tuấn Đạt, Nguyễn Thái, Huy Nam, Lý Thị Vi Hương… Dịch hạch được nghiên cứu một cách toàn diện về: các đặc điểm dịch tễ, quy luật lưu hành dịch trong quần thể gặm nhấm, biện pháp diệt côn trùng truyền bệnh…
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Bọ chét ký sinh trên chuột và bọ chét tự
do tại các ổ dịch hạch Chuột: vật chủ của bọ chét
2.2 Địa điểm nghiên cứu: Các ổ dịch hạch dai dẳng được nghiên
cứu thuộc 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai của Tây Nguyên
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1999 đến năm 2006
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
2.4.1.1 Điều tra mô tả cắt ngang
- Cỡ mẫu nghiên cứu ngang: N = 1.537 chuột
- Biến số:
+ Mô tả về vật chủ của bọ chét X.cheopis: Thành phần loài vật
chủ chuột, tần suất bắt gặp, chỉ số phong phú các loài vật chủ chuột
Trang 9(CSPP), tỷ lệ chuột nhiễm bọ chét X.cheopis và khả năng nhiễm mầm bệnh dịch hạch Y.pestis của vật chủ chuột
+ Mô tả về bọ chét X.cheopis: Thành phần loài bọ chét, tần suất gặp trên các loài vật chủ chuột, chỉ số bọ chét X.cheopis (CSBC) và khả năng nhiễm mầm bệnh dịch hạch Y.pestis của bọ chét X.cheopis
2.4.1.2 Nghiên cứu can thiệp
- Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp: n1 = n2 = n3 = 147 chuột
- Thiết kế can thiệp:
+ Nội dung can thiệp: Tiến hành diệt bọ chét bằng Diazinon đặt trong hộp mồi Kartman cải tiến và phun Permethrin tồn lưu
+ Quy mô và địa điểm can thiệp: Dự kiến tiến hành can thiệp hộp mồi Kartman cải tiến tại xã Ea Wy; phun Permethrin tồn lưu tại
xã Ea Ral; đối chứng là xã Ea Hiao (đều thuộc huyện EaH’leo Đắk
Lắk có tỷ lệ nhiễm bọ chét và CSBC X.cheopis gần bằng nhau)
Nghiên cứu được tiến hành trong mùa khô, mùa có mật độ bọ chét cao và là thời gian thường xảy ra các vụ dịch ở khu vực Tây Nguyên
- Biến số:
+ Nhóm chủ cứu: Tính tỷ lệ nhiễm bọ chét X.cheopis và CSBC
X.cheopis của chuột lắt R.exulans
+ Nhóm đối chứng: Tính tỷ lệ nhiễm bọ chét X.cheopis và CSBC X.cheopis của chuột lắt R.exulans
So sánh kết quả các biến số giữa 2 nhóm chủ cứu và với nhóm đối chứng; giữa các thời điểm nghiên cứu
2.4.2 Phương tiện, vật liệu nghiên cứu
2.4.3.2 Kỹ thuật nghiên cứu về chuột
- Bắt chuột: Dùng bẫy lồng, bắt sống chuột Mỗi điểm nghiên cứu đặt 100 bẫy, trong 3 đêm liền Đảm bảo diện tích khoảng 100m2
đặt 5 bẫy
Trang 10- Định loại chuột: Theo khóa định loại của Đào Văn Tiến (1985), Cao Văn Sung (1980) T.Joe và R.Marshall (1977) và P.F.D.Van Peenen (1969)
2.4.3.3 Kỹ thuật thu thập bọ chét ký sinh trên chuột
- Thu thập, và định loại bọ chét theo khóa định loại của Nguyễn Kim Bằng (1971) và Nguyễn Thị Thu Vân (1997)
2.4.3.4 Kỹ thuật thu thập bọ chét tự do
- Dùng khay men trắng (40cm x 60cm) có chứa nước để làm bẫy thu bọ chét, một ổ dịch đặt 10 khay Xác định loài bọ chét, số lượng và tỷ lệ từng loài
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Vai trò của bọ chét X.cheopis trong các ổ dịch hạch dai dẳng
Tại 6 ổ dịch hạch dai dẳng phát hiện được 8 loài chuột bao gồm:
R.exulans, S.murinus, R.nitidus, R.koratensis, B.savilei, M.musculus, R.argentiventer và R.losea Trong tổng số 1.599 chuột thu được loài R.exulans nhiều nhất, chiếm 91,81%, các loài còn lại chiếm 8,19% Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ các loài chuột phát hiện được
tại các ổ dịch hạch
Trang 11Bảng 3.3 Tần suất gặp các loài chuột tại các ổ dịch hạch dai dẳng
TT Loài chuột Tần số quan sát Tần suất (%)
Tần suất gặp loài R.exulans cao nhất là 100% các điểm nghiên cứu,
tiếp đến là R.nitidus 28,57%, S.murinus 24,29%, các loài khác có tần
suất thấp
Bảng 3.6 So sánh CSPP của các loài chuột tại các ổ dịch hạch
CSPP của chuột tại các điểm nghiên cứu là 7,61% trong đó loài
chuột R.exulans có CSPP cao hơn các loài khác (6,99% so với
0,62%); sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
Bảng 3.7 So sánh CSPP của chuột tính theo địa phương
Các loài chuột R.exulans
Trang 12Chỉ số phong phú của các loài chuột và của R.exulans tại các ổ dịch
dai dẳng ở Đắk Lắk cao hơn ở Gia Lai (8,43% và 7,56% so với 6,80% và 6,42%); sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)
Bảng 3.8 So sánh CSPP của chuột theo mùa
Các loài chuột R.exulans
CSPP của các loài chuột và của R.exulans tại các ổ dịch dai dẳng
mùa khô cao hơn mùa mưa (9,30% và 8,84% so với 5,83% và 5,03%); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và p < 0,01 3.1.2 Kết quả nghiên cứu về chuột nhiễm bọ chét tại các ổ dịch hạch
Bảng 3.9 So sánh Tỷ lệ chuột nhiễm X.cheopis tại các ổ dịch hạch
1 R.exulans 1.468 853 58,11
2 Loài khác 131 67 51,15
p > 0,05
Tỷ lệ R.exulans nhiễm X.cheopis cao hơn so với các loài chuột khác
(58,11% so với 51,15%) khác biệt không có ý nghĩa thống kê p>0,05
Bảng 3.10 Tỷ lệ chuột nhiễm bọ chét X.cheopis tính theo địa phương
Trang 13Tỷ lệ các loài chuột và R.exulans nhiễm X.cheopis tại các ổ dịch dai
dẳng ở Đắk Lắk cao hơn Gia Lai (58,53% và 60,08% so với 56,30%
và 55,79%); sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.11 So sánh Tỷ lệ chuột nhiễm bọ chét X.cheopis theo mùa
Mùa
nhiễm Tỷ lệ % n
Số nhiễm Tỷ lệ %
Mùa mưa 595 335 56,30 513 294 57,31
Tỷ lệ các loài chuột và R.exulans nhiễm X.cheopis tại các ổ dịch dai
dẳng mùa khô cao hơn mùa mưa (58,27% và 58,53% so với 56,30%
và 57,31%); sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
3.1.3 Kết quả nghiên cứu về bọ chét ký sinh tại các ổ dịch dai dẳng
Bảng 3.12 Thành phần loài bọ chét ký sinh trên chuột tại các ổ dịch
St.aporus rectodigitus
Bọ chét X.cheopis gặp ký sinh trên tất cả 8 loài chuột thu được 3 loài
bọ chét: Ct.felis felis, Ct.felis orientis, St.aporus rectodigitus chỉ gặp
trên 1 loài chuột
Trang 14Bảng 3.13 Chỉ số bọ chét X.cheopis của chuột tại các ổ dịch hạch
R.exulans 1.468 70 1,30 ± 0,54
Các loài khác 131 34 1,55 ± 1,05 p > 0,05
CSBC X.cheopis trung bình của cả hai nhóm đều cao hơn 1 CSBC
X.cheopis trung bình của R.exulans thấp hơn nhóm các loài khác
(1,30 so với 1,55); khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.14 Chỉ số bọ chét X.cheopis của chuột tính theo địa phương
CSBC X.cheopis trung bình của các loài chuột tại các ổ dịch dai dẳng
ở Gia Lai cao hơn Đắk Lắk (1,30 so với 1,29) CSBC X.cheopis trung bình của R.exulans tại các ổ dịch ở Đắk Lắk cao hơn Gia Lai
(1,31 so với 1,28); khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.15 So sánh chỉ số bọ chét X.cheopis của chuột theo mùa
CSBC X.cheopis trung bình của cả hai nhóm đều cao hơn 1 CSBC
X.cheopis trung bình của các loài chuột và của R.exulans tại các ổ
dịch dai dẳng trong mùa khô cao hơn mùa mưa (1,40 và 1,39 so với 1,15 và 1,11); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Trang 153.1.4 Kết quả nghiên cứu về bọ chét tự do tại các ổ dịch dai dẳng
Kết quả thu được tổng số 587 bọ chét thuộc 4 loài: X.cheopis,
P.irritans, Ct.felis felis, Ct.felis orientis Trong đó cao nhất là Ct.felis felis 38,16%, thấp nhất là X.cheopis 2,04%
3.1.5 Mối liên quan giữa CSPP chuột R.exulans, CSBC X.cheopis
với điều kiện thời tiết khí hậu và số bệnh nhân dịch hạch
LGMUA
500 400 300 200 100 0 -100
20 18 16 14 12 10 8 6 4 2
CSPP của R.exulans cao nhất vào tháng 2 (19,17%) và thấp nhất vào tháng 8 (3,61%) CSPP R.exulans có mối tương quan nghịch mạnh
với lượng mưa (r = - 0,556; p > 0,05)
Lượng mưa (mm)
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa CSPP của R.exulans
với lượng mưa tại xã Ea Wy năm 2003