Nghiên cứu tình trạng loãng xương và áp dụng một số biện pháp dự phòng cho phụ nữ từ 40-65 tuổi tại Thái Bình
Trang 1Bé gi¸o dôc vμ ®μo t¹o Bé quèc phßng
häc viÖn qu©n y
[ \
NInh thÞ nhung
nghiªn cøu t×nh tr¹ng lo∙ng x−¬ng vμ
¸p dông mét sè biÖn ph¸p can thiÖp dù phßng
cho phô n÷ 40-65 tuæi t¹i th¸i b×nh
Chuyªn ngμnh: VÖ sinh x∙ héi HäC vμ tæ chøc y tÕ
M∙ sè: 62.72.73.15
tãm t¾t luËn ¸n tiÕn sü y häc
Hμ Néi - 2008
Trang 2Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Nhà
nước tại: Học viện Quân Y
Vào hồi 8 giờ30 ngày 01 tháng 9 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện quốc gia
- Thư viện - Học viện quân y
Trang 3Một số công trình liên quan đến luận án
1 Ninh Thị Nhung, Phạm Ngọc Khái (2007), “Một số chỉ số
liên quan tới chuyển hoá xương ở phụ nữ 40 – 65 tuổi tại Thái
Bình”, Tạp chí Y học Việt Nam Tập 338, số 2, tháng 9/2007
2 Ninh Thị Nhung, Phạm Ngọc Khái, Phạm Ngọc Châu
(2007) “Loãng xương và giảm mật độ xương ở phụ nữ 40 -65
tuổi tại một số khu vực của tỉnh Thái Bình”, Tạp chí Y học
Trang 4Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, loãng xương và hậu quả của loãng xương đã trở thành một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ngày càng được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm Bệnh nhân khi đã chẩn đoán loãng xương thì giải pháp
điều trị dùng thuốc khá tốn kém, thời gian điều trị kéo dài
Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy những người giảm mật độ xương là hoàn toàn có thể dự phòng được hoặc ít nhất là làm chậm quá trình tiến triển thành loãng xương Phát hiện sớm sự mất xương ở giai
đoạn giảm mật độ xương sẽ có ý nghĩa quan trọng để áp dụng kịp thời các biện pháp dự phòng tích cực
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tuổi thọ của con người cũng tăng lên, nguy cơ loãng xương càng nhiều Cũng đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu đến vấn đề loãng xương và các giải pháp can thiệp nhưng phần lớn tập trung nghiên cứu ở những bệnh nhân đã loãng xương Những nghiên cứu dịch tễ học về loãng xương, đặc biệt là những số liệu về tỷ lệ phụ nữ giảm mật độ xương thì vẫn chưa nhiều
Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp, kinh tế mới phát triển, phần lớn lực lượng lao động là nông dân, lao động nữ đóng góp quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Vì thế nghiên cứu tình trạng loãng xương, giảm mật độ xương,
đề xuất các biện pháp khả thi dự phòng cho những đối tượng giảm mật độ xương là một trong các vấn đề thiết thực chăm sóc sức khỏe phụ nữ Thái Bình, chính vì vậy mà chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này với các mục tiêu:
1- Mô tả đặc điểm giảm mật độ xương, loãng xương của phụ nữ từ 40-65 tuổi tại Thái Bình
2- Xác định một số yếu tố liên quan tới loãng xương ở phụ nữ từ 40-65 tuổi tại Thái Bình
3- Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp cải thiện tình trạng giảm mật độ xương cho phụ nữ tuổi từ 40-65 tuổi
Những đóng góp mới của luận án
Bên cạnh việc xác định tỷ lệ loãng xương, giảm mật độ xương và một
số yếu tố liên quan tới loãng xương ở phụ nữ lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh của một tỉnh đồng bằng Bắc bộ Một bệnh có nhiều ảnh hưởng không tốt tới chất lượng cuộc sống của đối tượng phụ nữ đang còn khả năng lao
động và cống hiến cho xã hội và gia đình Trên cơ sở đó luận án đã thử nghiệm một cụm giải pháp can thiệp dự phòng sớm tại cộng đồng, được thực hiện bởi chính cộng đồng và đưa ra được những dẫn liệu khoa học qua
đánh giá định kỳ để chứng minh hiệu quả dự phòng giảm mật độ xương
cho phụ nữ 40-65 tuổi tại Thái Bình
Trang 5Kết quả của luận án góp thêm tư liệu khoa học góp phần vào việc cải thiện tình trạng sức khoẻ cho phụ nữ nông thôn Thái Bình
bố cục của luận án
Luận án gồm 136 trang: Đặt vấn đề 2; Tổng quan 41; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21; Kết quả nghiên cứu 35; Bàn luận 34; Kết luận 2; Khuyến nghị 1; Công trình khoa học có 39 bảng, 15 biểu đồ (không kể phần Mục lục, Tài liệu tham khảo và Phụ lục)
chương 1 tổng quan 1.1 Cấu tạo mô xương:
Mô xương được tạo thành bởi các tế bào, các sợi và chất căn bản
+ Chất căn bản: Nằm xen kẽ vào khoảng cách giữa các tế bào gồm hai thành phần chính
+ Sợi: Sợi trong mô xương chủ yếu là những sợi ossein có tác dụng
làm giảm các lực cơ học tác động vào xương
+ Tế bào: Tiền tạo cốt bào, tạo cốt bào, tế bào xương, huỷ cốt bào
- Quá trình tạo xương diễn ra chủ yếu lúc tuổi đời còn trẻ
- Quá trình tái tạo xương diễn ra ở giai đoạn trưởng thành
Trong tình trạng cân bằng, xương được tạo thành trong quá trình tái tạo xương bằng với lượng xương bị tiêu huỷ Nếu xương bị tiêu huỷ nhiều hơn xương được tạo thành thì mất xương xẩy ra và loãng xương được hình thành
1.2 Khái niệm về loãng xương và các phương pháp đánh giá
1.2.1 Khái niệm lo∙ng xương, giảm mật độ xương :
- Giảm mật độ xương (osteopenia): Chỉ khối lượng xương thấp đơn thuần so với tuổi và giới, còn gọi là tình trạng nhược xương sinh lý
- Loãng xương (osteoporosis): Còn gọi là thưa xương, xốp xương, là tình trạng giảm đáng kể khối lượng xương, thường đi kèm với gẫy xương tự nhiên hoặc
do một chấn thương rất nhẹ, đặc biệt là sự có mặt của lún một hoặc nhiều đốt sống
- Nhuyễn xương (osteomalacia): Là tình trạng xốp xương và rối loạn quá trình lắng đọng chất khoáng liên quan tới sự thiếu hụt vitamin D, gặp chủ yếu ở những người già
1.2.3 Các phương pháp đánh giá
1.2.3.1 Vai trò của X quang qui ước trong chẩn đoán loãng xương
1.2.3.2 Phương pháp đo mật độ xương
Hiện nay người ta thường sử dụng 4 kỹ thuật để xác định mật độ xương:
- Đo hấp thụ photon năng lượng đơn (SPA: Single Photon Absorptiometry)
- Đo hấp thụ photon năng lượng kép (DPA : Dual Photon Absorptiometry)
- Đo hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA: Dual Energy Xray Absorptiometry)
Trang 6- Đo mật độ xương bằng siêu âm định lượng: Có 2 phương pháp
+ Đo Đo tốc độ của âm (SOS : Speed Of Sound)
+ Hấp thụ siêu âm dải rộng (BUA : Broadban Ultrasonic Attenuation)
Phương pháp đo mật độ xương bằng siêu âm định lượng được đánh giá cao do không phơi nhiễm bức xạ, không phức tạp, chi phí thấp, thời gian đo 5 phút, tỷ lệ sai 2% Phương pháp này có thể đo lượng chất khoáng trong xương ở các vị trí xương ngoại vi: 1/3 dưới xương quay, điểm giữa xương chày Nên phương pháp này ngày càng được dùng rộng rãi như một dụng cụ tầm soát, sàng lọc loãng xương tại cộng đồng
- Nhu cầu về năng lượng: Cũng như người bình thường phụ thuộc vào
tuổi, thể trạng, loại hình lao động, nghề nghiệp ở người gầy, phải tăng calo, người béo thì phải giảm khoảng 20% số lượng calo dùng hàng ngày
- Thành phần và tỷ lệ các chất: Có thể tính theo số calo cung cấp mỗi
ngày như sau: Glucid 60-68%, Lipid 20-25%, Protid 12-15%
- Ăn tăng cường nhiều rau xanh, trái cây và những thức ăn chứa nhiều estrogen thực vật (giá đỗ )
- Hạn chế muối, Không nghiện rượu, tránh hút thuốc lá và cắt giảm cafein
- Tránh dùng các thuốc có thể gây loãng xương điển hình là thuốc có chứa corticoide
Trang 7chương 2 đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu 2.1- Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Thực hiện tại 6 cụm dân cư thuộc 4 xã và 2 phường của tỉnh Thái Bình:
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
+ Giai đoạn 1: Toàn bộ phụ nữ từ 40-65 tuổi đang sống tại địa bàn
được chọn vào nghiên cứu
+ Giai đoạn 2:
- Xác định tỷ lệ mắc mới và tỷ lệ phục hồi: Là toàn bộ phụ nữ từ 40-65 tuổi đã siêu âm xương lần 1 ở mức T-score ≥ -1 và -2,5<T-score <-1 được theo dõi trong 1 năm chưa áp dụng các biện pháp can thiệp, đang sống và sinh hoạt tại 2 phường Kỳ Bá và Lê Hồng Phong
- Nhóm đối chứng: Là phụ nữ từ 40-65 tuổi đã siêu âm xương lần 1 ở mức-2,5<T-score <-1, đang sống và sinh hoạt tại 2 phường Kỳ Bá và Lê Hồng Phong theo dõi trong 1 năm không áp dụng các biện pháp can thiệp
- Nhóm can thiệp: Là toàn bộ phụ nữ từ 40-65 tuổi đang sống và sinh hoạt tại phường Kỳ Bá có kết quả siêu âm xương lại sau 1 năm chưa áp dụng các biện pháp can thiệp ở mức -2,5<T-score <-1
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu triển khai từ tháng 8/2004 kết thúc tháng 12/2006
2.2- Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
2 2 1 1 Nghiên cứu cắt ngang mô tả phối hợp với nghiên cứu Bệnh – Chứng
- Xác định một số chỉ số hoá sinh và siêu âm xương ở phụ nữ 40-65 tuổi
- Xác định các yếu tố nguy cơ theo phương pháp Bệnh – Chứng từ các yếu tố liên quan như: Tuổi mãn kinh (TMK), thời gian mãn kinh, nghề nghiệp, chế độ ăn, chế độ vận động Từ đó chọn nhóm đối tượng có nguy cơ mắc loãng xương (nhóm đối tượng giảm mật độ xương: -2,5<T-score <-1) để
áp dụng các biện pháp can thiệp
2.2.1.2 Nghiên cứu can thiệp: Là một nghiên cứu can thiệp cộng đồng cho
phụ nữ 40-65 tuổi được chia làm 2 nhóm (nhóm can thiệp và nhóm đối chứng) để đánh giá hiệu quả của một số biện pháp dự phòng cấp 1 tình trạng loãng xương tại cộng đồng trong vòng 12 tháng có đánh giá định kỳ
* Các biện pháp can thiệp tại cộng đồng
1 Định kỳ tổ chức truyền thông phòng bệnh loãng xương và các yếu
tố nguy cơ (YTNC) với chủ đề chính là: Phát hiện sớm, quản lý và chăm
sóc tại chỗ, hướng dẫn chế độ ăn, uống, luyện tập hợp lý kết hợp với bổ sung Canxi-D
Trang 82 Tổ chức cho đối tượng giảm mật độ xương (-2,5<T-score <-1) luyện
tập và thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý dưới sự kiểm tra, tư vấn của CTV
- Hướng dẫn các bài tập thể dục, đi bộ tự do, đi bộ trên máy, nhảy dây, thời lượng tập hàng ngày tăng dần từ thấp đến cao (Phụ lục 1)
2.2 Hướng dẫn thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý
- Xây dựng thực đơn mẫu theo tuần, theo tháng
- CTV thường xuyên hướng dẫn, nhắc nhở thực hiện chế độ ăn theo các mẫu thực đơn, đặc biệt tăng sử dụng các thực phẩm giầu Canxi, Vitamin D
3 Bổ sung Canxi + Vitamin D kết hợp với kiểm tra sức khoẻ định kỳ -
Canxi -D được sản xuất bởi công ty Dược phẩm Trung ương 24, đóng dưới dạng viên nén, vỉ 10 viên, thành phần gồm: Canxi carbonat 750 mg, Vitamin D360 UI, sử dụng với liều lượng : 1viên/ người/ ngày x 30 ngày/ tháng x 12 tháng/năm, uống ngay sau khi ăn CTV trực tiếp phát hàng ngày sau mỗi buổi tập cho đối tượng
- Giám sát viên 3 lần/ tuần đến những điểm tập để kiểm tra việc phân phối Canxi- D và việc luyện tập, thực hiện chế độ dinh dưỡng của đối tượng
- Siêu âm xương (6 tháng/lần) và làm các xét nghiệm nước tiểu, khám sức khoẻ định kỳ cho đối tượng (3 tháng/lần)
* Chọn mẫu cụm để khám lâm sàng, phỏng vấn và siêu âm xác định mật độ xương: Từ các cụm dân cư đã chọn, tiến hành phát giấy mời để kiểm tra sức khoẻ cho toàn bộ phụ nữ 40-65 tuổi đã có thời gian sống ở đó trên 30 năm, sao cho đủ cỡ mẫu theo tính toán
Trang 9* Chọn mẫu xét nghiệm máu và nước tiểu theo phương chọn mẫu có
mục đích: Chọn nhóm mắc loãng xương là những phụ nữ 40-65 tuổi có giá
trị T-score của siêu âm xương tại 2 điểm đo đạt ở mức loãng xương
(T-score ≤ – 2,5) Từ đó ghép cặp với nhóm phụ nữ cùng nhóm tuổi, cùng
thời gian có kinh nguyệt và mãn kinh, cùng thôn, phố Có giá trị T-score ≥-1
và -2,5<T-score <-1
+ Giai đoạn 2:
- Phương pháp chọn đối tượng vào nhóm đối chứng (theo dõi 12 tháng
không can thiệp): Chọn mẫu có mục đích
* Tại 2 phường Kỳ Bá và Lê Hồng Phong chọn những đối tượng đã
tham gia điều tra ban đầu có -2,5<T-score <-1 (nhóm đối chứng tại thời
điểm M0) theo dõi một năm không áp dụng các biện pháp can thiệp, siêu
âm xương lại để xác định tỷ lệ mắc mới, tỷ lệ phục hồi (nhóm đối chứng tại
thời điểm M12)
* Tại 2 phường Kỳ Bá và Lê Hồng Phong chọn những đối tượng có
T-score ≥-1, trong điều tra ban đầu, theo dõi sau 1 năm không can thiệp, siêu
âm xương lại để xác định tỷ lệ mắc mới
- Tiêu chuẩn chọn đối tượng vào nghiên cứu can thiệp:
* Từ danh sách những phụ nữ từ 40-65 tuổi tham gia điều tra lại sau 1
năm không áp dụng các biện pháp can thiệp được xác định -2,5<T-score <-1
đang sống và sinh hoạt bình thường tại phường Kỳ Bá
* Đồng ý tham gia nghiên cứu, cam kết không bỏ cuộc
) 2 / 1 (
S Z
Δ
α
ư
Cỡ mẫu xét nghiệm nước tiểu là: 336 người
Cỡ mẫu xét nghiệm máu là: 297 người
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp
n = Z2(α+β)
) (
2
0 1
2
μ
ư μ
δ
n = 130 người
2.2.3 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.2.3.1 Xác định mật độ xương
Bằng phương pháp siêu âm trên máy ALOKA (Nhật) dựa trên
nguyên lý siêu âm xương Đo mật độ xương ở 2 vị trí
- Xương tay: Đo ở 1/3 dưới xương quay
- Xương chân: Đo ở điểm giữa xương chày
10
Trang 10Đánh giá tình trạng loãng xương dựa vào chỉ số T-Score và Z- Score theo tiêu chuẩn của WHO-1994
2.2.3.2 Nhân trắc dinh dưỡng:
Xác định cân nặng, chiều cao và tính ra chỉ số BMI BMI được tính theo công thức: BMI = Cân năng (kg)/ (chiều cao)2 (m) Đánh giá chỉ số khối cơ thể dựa theo cách phân loại của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương (2000) dành cho người trưởng thành Châu á
quốc tế (ICD10)
2.2.3.5 Điều tra tập tính dinh dưỡng và tần xuất thức ăn: Xác định tần
xuất tiêu thụ thực phẩm trong tuần qua, tháng qua, năm qua theo phương pháp thường quy của Viện Dinh dưỡng (FFQ)
2.2.3.6 Các kỹ thuật xét nghiệm sinh hoá
- Các xét nghiệm được tiến hành tại khoa Sinh hoá Viện Huyết học và
truyền máu Trung ương gồm: Phosphatase kiềm máu, phospho toàn phần máu, calci ion và calci niệu lúc đói
- Các xét nghiệm được tiến hành tại Labo trung tâm Trường Đại học Y Thái Bình gồm DPD niệu (Deoxypyridinoline), estradiol
2.2.4 Xử lý số liệu Làm sạch số liệu trước khi nhập máy vi tính, các số
liệu điều tra sẽ được xử lý bằng Chương trình EPI-INFO và SPSS 13.0 thực
hiện trên máy vi tính tại Trường Đại học Y Thái Bình
Chương 3: kết quả nghiên cứu 3.1 Đặc điểm tình trạng loãng xương ở phụ nữ 40-65 tuổi tại tỉnh Thái Bình
3.1.1 Kết quả điều tra tình trạng giảm mật độ xương và lo∙ng xương của phụ nữ 40- 65 tuổi tại Thái Bình
Bảng 3.1 Giá trị trung bình T-score và tình trạng lo∙ng xương ở đối
tượng nghiên cứu
T- score (X ±SD)
Giảm MĐX 1-2 điểm đo (-2,5<T-score < -1)
Loãng xương 1-2 điểm đo (T-score ≤ -2,5) Vùng n
Thuần nông(1) 501 -0,89±1,74 -1,35±1,54 171 34,1 124 24,8 Ven biển(2) 562 -1,1 ± 1,7 -1,08±1,49 179 31,9 146 26,0 Thành thị(3) 594 -1,52 ±1,62 -1,64±1,61 259 43,6 213 35,9
Trang 11Kết quả bảng 3.1 cho thấy: Giá trị T-score xương chày thấp hơn xương quay, trong đó khu vực thành thị thấp hơn ven biển và thuần nông với p < 0,05 Tỷ lệ giảm mật độ xương 1- 2 điểm đo ở phụ nữ 40-65 tuổi của Thái bình là 36,8%, tỷ lệ loãng xương 1- 2 điểm đo là 29,1%, trong đó vùng thành thị cao hơn vùng thuần nông và ven biển với p < 0,05
%
Thuần nông Ven biển Thành thị
Biểu đồ 3.1: So sánh tỷ lệ giảm MĐX 2 điểm đo và LX 2 điểm đo giữa 3
vùng của Thái Bình
Kết quả biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ giảm mật độ xương cả 2 điểm đo của phụ nữ thành thị (38,9%) cao hơn phụ nữ vùng thuần nông và ven biển (22,4% và 23,1%) với p < 0,01 Tỷ lệ phụ nữ loãng xương cả 2 điểm đo vùng thuần nông (13,6%) cao hơn vùng ven biển (10,9%) và vùng thành thị (11,3%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.2 So sánh giá trị T-score và tỷ lệ lo∙ng xương ở phụ nữ 40-65
tuổi giữa nông thôn và thành thị
T- score (X ±SD)
Giảm MĐX
2 điểm đo (-2,5<T-score< -1)
Loãng xương
2 điểm đo (T-score ≤ -2,5) Vùng n
(12,1%) với p > 0,05
p < 0,01
p > 0,05
Trang 12Bảng 3.3 Giá trị trung bình T-score và tình trạng lo∙ng xương ở đối
tượng nghiên cứu theo vị trí đo
T- score (X ±SD) (-2,5<T-score < -1) % Giảm MĐX
%Loãng xương (T-score ≤ -2,5) Vùng n
X quay X chày X.quay X.chày X.quay X.chày
Bảng 3.4 So sánh một số giá trị trung bình liên quan đến kinh nguyệt
giữa các nhóm có giá trị T-score khác nhau
Tuổi có kinh lần
đầu tiên(tuổi)
Tuổi mãn kinh (tuổi)
Quãng đời có kinh (Năm) T-score
29.7
13.7 8.7
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ( %) giảm mật độ xương 2 điểm đo và lo∙ng xương 2
điểm đo theo nhóm tuổi
p < 0,01
Trang 13Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ phụ nữ giảm mật độ xương cả 2
điểm đo và loãng xương cả 2 điểm đo đều tăng lên một cách rõ rệt theo tuổi với p < 0,01 Đáng lưu ý rằng phụ nữ ở nhóm 40-45 tuổi đã bắt đầu xuất hiện với tỷ lệ 0,8% loãng xương cả 2 điểm đo Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ loãng xương 2 điểm đo tăng lên rất nhanh ở phụ nữ 56-60 tuổi (19,8%), đặc biệt là phụ nữ ngoài 60 thì tỷ lệ này lên tới 29,1%
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ % giảm mật độ xương 2 điểm đo và lo∙ng xương 2 điểm
đo ở phụ nữ m∙n kinh và chưa m∙n kinh
Kết quả nghiên cứu biểu đồ 3.3 cho thấy: Tỷ lệ giảm mật độ xương 2
điểm đo ở nhóm phụ nữ chưa mãn kinh là 10,8% thấp hơn nhóm phụ nữ mãn kinh (40,1%) với p < 0,01
Tỷ lệ loãng xương 2 điểm đo ở nhóm phụ nữ mãn kinh (19,2%) cao hơn so với nhóm nhóm phụ nữ chưa mãn kinh (0,5%)
Bảng 3.5: Giá trị trung bình T-score và tỷ lệ lo∙ng xương quay
giữa nhóm phụ nữ chưa m∙n kinh và m∙n kinh
T-score xương quay % Loãng xương quay
p < 0,01
Trang 14với p < 0,05 Nhóm chưa mãn kinh có tỷ lệ loãng xương quay ở nhóm
40-45 tuổi là 0,9%, nhóm 56-60 tuổi là 5,6 % với p < 0,05, nhóm mãn kinh tỷ
lệ loãng xương quay nhóm 46-50 tuổi chỉ có 5,3% trong khi đó nhóm
61-65 tuổi là 49,3% với p< 0,01
Bảng 3.6: Giá trị trung bình T-score và tỷ lệ lo∙ng xương chày
giữa nhóm phụ nữ chưa m∙n kinh và m∙n kinh
T-score xương chày % Loãng xương chày (T-score < -2,5)
Nhóm
tuổi
n X ±SD n X ±SD Số người % Số người %
40-45 229 -0,39±1,15 13 -0,39±1,61 4 1,7 1 7,7 46-50 265 -0,46±1,07 57 -1,49±1,51 4 1,5 16 28,1 51-55 139 -0,49±1,29 265 -1,41±1,42 10 7,2 45 17,0 56-60 18 -0,81±1,47 365 -2,03±143 0 0,0 129 35,3
tỷ lệ loãng xương chày tăng dần theo tuổi với p < 0,05 Trong số 1006 phụ nữ mãn kinh thì tỷ lệ loãng xương chày thấp nhất ở nhóm tuổi 40-45 (7,7%) và tăng cao nhất ở nhóm phụ nữ 61-65 tuổi với p < 0,01
Bảng 3.7 Giá trị trung bình T-score và tỷ lệ lo∙ng xương ở phụ nữ
theo thời gian m∙n kinh
T-score (X ±SD) LX 2 điểm đo (T-score ≤ -2,5) Thời gian mãn